Tải bản đầy đủ

Ebook lịch sử kháng chiến chống mỹ cứu nước 1954 1975 (tập 7 thắng lợi quyết định năm 1972) phần 1


1

lịch sử

kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước
(1954 - 1975)
Tập VII

Thắng lợi quyết định năm 1972



3

Bộ Quốc Phòng
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

lịch sử


kháng chiến

chống Mỹ, cứu nước
(1954 - 1975)
Tập VII
Thắng lợi quyết định năm 1972
(Xuất bản lần thứ hai)

Nhà xuất bản chính trị quốc gia - sự thật
Hà Nội - 2013


4

Chỉ đạo nội dung
Thiếu tướng, PGS. TS. Trịnh Vương Hồng

Chủ biên
Đại tá, PGS. TS. Hồ Khang

Tác giả
Đại tá, PGS. TS. Hồ Khang
Đại tá Nguyễn Văn Minh
Đại tá, ThS. Trần Tiến Hoạt
Đại tá, TS. Nguyễn Huy Thục
Đại tá, TS. Nguyễn Xuân Năng
Thượng úy Lê Quang Lạng
Đại úy Nguyễn Văn Quyền


5

lời nhà xuất bản
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 21 năm gian khổ
của dân tộc ta, năm 1972 có vị trí đặc biệt quan trọng, tạo ra bước
ngoặt lớn của chiến tranh với những thắng lợi có tính quyết định
trên cả hai miền Nam - Bắc, cả đấu tranh quân sự, chính trị và
ngoại giao. Trên chiến trường Đông Dương, một mặt, đế quốc Mỹ
tiếp tục thực hiện Học thuyết quân sự Níchxơn, đẩy mạnh Việt
Nam hóa, Lào hóa, Khmer hóa chiến tranh, rút dần quân chiến

đấu Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ về nước, đồng thời ồ ạt
tăng cường cho quân đội và chính quyền Sài Gòn cả vũ khí, trang
bị, huấn luyện và viện trợ mọi mặt để chế độ Thiệu đứng vững.
Đầu tháng 3-1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương căn cứ
vào chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị và thực tế chiến
trường đã quyết định điều chỉnh phương án tiến hành cuộc tiến
công chiến lược trong năm 1972 trên toàn miền Nam: chiến
trường Trị - Thiên từ hướng phối hợp trở thành hướng tiến công
chủ yếu, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Khu 5 đẩy mạnh tác chiến
phối hợp với chiến trường chính Trị - Thiên.
Ngày 23-3-1972, Bộ Chính trị họp phê chuẩn phương án tác
chiến chiến lược của Thường vụ Quân ủy Trung ương.
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung
ương, ngày 30-3-1972 cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của
Quân giải phóng miền Nam bắt đầu bằng ba chiến dịch tiến công ở
đường 9 - Trị - Thiên, bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ kết hợp với
các chiến dịch tiến công tổng hợp ở đồng bằng sông Cửu Long và
Khu 5, giáng một đòn sấm sét vào quân đội và chế độ Sài Gòn, làm
rung chuyển cả Nhà Trắng và Lầu Năm Góc Mỹ. Không cam chịu
nhìn chế độ và quân đội Sài Gòn sụp đổ từng mảng lớn, đế quốc Mỹ
lập tức huy động tối đa không quân và hải quân đánh phá dữ dội
khắp các chiến trường và thúc ép quân đội Sài Gòn phản kích
quyết liệt hòng tái chiếm những vùng đã mất.


6

lịch sử kháng chiến chống mỹ, cứu nước... tập VII

Thâm độc hơn, đế quốc Mỹ dùng chính sách ngoại giao con thoi
xảo quyệt với các nước lớn, thỏa hiệp với Trung Quốc và Liên Xô bằng
chuyến thăm Bắc Kinh tháng 2-1972 và Mátxcơva tháng 5-1972 của
Tổng thống Níchxơn hòng cô lập cách mạng Việt Nam. Đồng thời, từ
ngày 6-4-1972, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần
thứ hai bằng không quân và hải quân đánh phá khốc liệt, thả mìn
bao vây phong tỏa hoàn toàn miền Bắc nước ta hòng bóp nghẹt sự
chi viện của miền Bắc cho miền Nam, của bạn bè quốc tế chi viện
cho cuộc chiến đấu của nhân dân ta.
Một lần nữa cả nước lại có chiến tranh ác liệt. Quân và dân
ta dưới sự lãnh đạo đầy thao lược của Bộ Chỉ huy tối cao của
cuộc kháng chiến đã bền lòng và kiên định đẩy mạnh cuộc tiến
công chiến lược ở miền Nam, kiên quyết giáng trả đích đáng và
có hiệu quả cuộc chiến tranh bóp nghẹt trên miền Bắc nước ta
của không quân và hải quân Mỹ, đồng thời tăng cường giúp đỡ
cách mạng Lào và cách mạng Campuchia.
Cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị
mùa hè đỏ lửa năm 1972, cuộc chiến đấu kiên cường 12 ngày
đêm đập tan cuộc tập kích chiến lược vào Hà Nội - Hải Phòng
bằng máy bay B52 của không quân Mỹ là biểu tượng và bài ca
bất tử về sức mạnh con người và ý chí Việt Nam, buộc đế quốc
Mỹ dù nhiều lần tráo trở đã phải ký Hiệp định Pari, tôn trọng
độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc
ta, rút hết quân chiến đấu Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ
ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Nhiệm vụ "đánh cho Mỹ cút" đã
hoàn thành. Sự sụp đổ của quân đội và chính quyền Sài Gòn tức "ngụy nhào" chỉ còn là vấn đề thời gian.
Tập VII Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)
do PGS. TS. Hồ Khang chủ biên mang tiêu đề Thắng lợi quyết
định năm 1972 đã trình bày khá chi tiết và tương đối đầy đủ ở
tầm khái quát cuộc chiến đấu hào hùng của quân và dân ta
trên cả hai miền Nam - Bắc và chiến trường Đông Dương, cả
trên mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao.
Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 3 năm 2013
nhà xuất bản chính trị quốc gia - sự thật


7

Chương 27

nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm
Chiến Lược giành thắng lợi
quyết định

I- những chuyển biến mới về so sánh
lực lượng và thế chiến lược giữa ta và địch
trên chiến trường năm 1971
Năm 1971 khép lại với thắng lợi to lớn, toàn diện,
mà nổi bật là chiến thắng lịch sử đường 9 - Nam Lào.
Với chiến thắng này, quân và dân ta ở miền Nam đã
giành được thắng lợi rất quan trọng, đánh thắng một
bước cơ bản chiến lược Việt Nam hóa và Đông Dương
hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ, góp phần làm thay đổi
cục diện chiến tranh ở cả ba nước trên bán đảo Đông
Dương có lợi cho sự nghiệp kháng chiến của Việt Nam,
Lào, Campuchia. Đối với đế quốc Mỹ, sau cả một quá
trình cố gắng cao độ trong nỗ lực xây dựng và tăng cường
về quân số, về trang bị, vũ khí... cho quân đội Sài Gòn
mạnh lên, đủ sức thay thế quân Mỹ, đủ sức đảm nhận


8

lịch sử kháng chiến chống mỹ, cứu nước... tập VII

vai trò nòng cốt cho Việt Nam hóa, Khmer hóa và Lào
hóa chiến tranh của chính quyền Níchxơn, thì thất bại
này, toan tính và âm mưu trên đây bị giáng một đòn
quyết liệt. Thất bại nặng nề ở đường 9 - Nam Lào chứng
tỏ quân đội chính quy của Việt Nam Cộng hòa cho dù có
tới 13 sư đoàn, 8 trung đoàn, và 37 tiểu đoàn độc lập,
nhưng không đủ khả năng mở những cuộc hành quân
tiến công quy mô vừa và lớn. Hơn nữa, sau thất bại này,
đội quân đó buộc phải chuyển dần vào thế phòng ngự
theo từng khu vực và theo tuyến như tuyến biên giới Việt
Nam - Campuchia, tuyến đường 9, tuyến Trị - Thiên,
khu vực Đà Nẵng, khu vực Tây Nguyên, khu vực xung
quanh Sài Gòn - Gia Định từ tây bắc đến đông nam...
Việc đội quân chủ lực Sài Gòn chuyển vào phòng ngự
trên quy mô chiến lược và chiến dịch làm nảy sinh
những mâu thuẫn mới. Đó là mâu thuẫn giữa việc dồn
sức phòng giữ vòng ngoài nhưng lại bộc lộ sơ hở bên
trong và ngược lại; mâu thuẫn giữa tập trung và phân
tán, giữa nhiệm vụ phòng giữ căn cứ, cơ quan đầu não
ở các thành phố, thị xã với nhiệm vụ bình định nông
thôn... Trong điều kiện binh lực và sự yểm trợ của
quân Mỹ trên chiến trường ngày càng bị cắt giảm và
quá trình đó là không thể đảo ngược thì, theo thời gian,
những mâu thuẫn trên đây chẳng những không thể nào
khắc phục được, mà hơn thế, ngày càng bị khoét sâu
thêm, mặc dù quân đội Sài Gòn tăng lên, đông tới hơn
1 triệu tên, được Mỹ trang bị những hệ vũ khí và


Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm...

9

phương tiện chiến tranh hiện đại. Sau khi buộc phải
rút chạy khỏi khu vực đường 9 - Nam Lào và bị đánh
đại bại ở Tây Nguyên, ở Campuchia trong cuộc Hành
quân Quang Trung 4 và Toàn thắng 1-1971, tinh thần,
ý chí sĩ quan, binh lính quân đội Sài Gòn sa sút
nghiêm trọng, không còn vững tin vào thành công của
Việt Nam hóa chiến tranh. Tuy vậy, về tổ chức, Nguyễn
Văn Thiệu và Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam
Cộng hòa còn nắm được quân đội, còn điều khiển được
công cụ này nhờ vào viện trợ của Mỹ. Nhân lúc quân đội
Sài Gòn - lực lượng nòng cốt cho Đông Dương hóa chiến
tranh bị suy yếu, quân tình nguyện Việt Nam phối hợp
với lực lượng Pathét Lào mở đợt tiến công giải phóng
Cánh Đồng Chum - Mường Sủi, Sảm Thông - Long
Chẹng, đẩy đối phương chạy về Nậm Ngừm; tiếp đó,
Pathét Lào đánh chiếm Xảm Thông - Phu Mộc, giải
phóng Salaphukhun, Kiều Ca Cham và Bắc Ca Si. ở
Campuchia, ta đánh bại cuộc hành quân Chenla II của
quân Lon Non. Vùng giải phóng 10 tỉnh Đông Bắc
Campuchia được củng cố vững chắc.
Kể từ sau khi giải phóng Atôpơ, Xaravan, Cánh Đồng
Chum - Xiêng Khoảng và vùng Đông Bắc Campuchia
năm 1970, cho đến lúc này, việc ta và bạn giải phóng cao
nguyên Bôlôven, Cánh Đồng Chum - Mường Sủi, Sảm
Thông - Long Chẹng..., đã mở rộng và tăng cường vùng
giải phóng trên một địa bàn chiến lược rộng lớn nối liền
hậu phương miền Bắc Việt Nam với Thượng Lào, Trung -


10

lịch sử kháng chiến chống mỹ, cứu nước... tập VII

Hạ Lào, miền tây Trị - Thiên và Tây Nguyên, miền Đông
Nam Bộ với vùng Đông Bắc Campuchia, tạo thành căn cứ
cách mạng ở miền Trung Đông Dương. Từ nay, cách
mạng ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia có chung một
căn cứ rộng lớn, liên hoàn và vững chắc, thực sự là địa
bàn đứng chân, xây dựng và phát triển lực lượng kháng
chiến, tăng cường quan hệ đoàn kết chiến đấu chống kẻ
thù chung là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai giữa quân đội
và nhân dân ba nước.
Trong khi, chủ lực quân đội Sài Gòn, Campuchia, Lào
bị đánh mạnh, tinh thần của chúng sa sút nghiêm trọng,
thì Mỹ vẫn buộc phải tiếp tục rút quân chiến đấu ra khỏi
miền Nam Việt Nam. Các sư đoàn thiện chiến Mỹ lần
lượt kết thúc sự có mặt trên chiến trường Việt Nam, đầu
tiên là Sư đoàn bộ binh số 9 và tiếp đó, các đơn vị như Sư
đoàn Anh cả đỏ, Sư đoàn kỵ binh không vận số 1, Sư
đoàn bộ binh số 4, Sư đoàn thủy quân lục chiến số 3, Sư
đoàn bộ binh 23 và 25, Sư đoàn dù 101, Lữ đoàn dù 173,
Sư đoàn thủy quân lục chiến số 1, Sư đoàn bộ binh cơ giới
số 5, Sư đoàn không quân 83... Đến trước ngày 1-5-1972,
quân Mỹ trên chiến trường Việt Nam chỉ còn lại 69.000 tên.
Quân các nước đồng minh của Mỹ cũng đang trong quá
trình tương tự: từ 69.000 tên năm 1968, đến năm 1972
còn 38.000 tên. Quân Mỹ, quân các nước đồng minh
của Mỹ rút đi, bỏ trống những vùng đất đai rộng lớn ở
miền Nam, quân đội Sài Gòn phải điều quân chắp vá
thay thế những nơi quân Mỹ rút, buộc chúng phải dàn


Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm...

11

mỏng lực lượng trong thế bố trí chiến lược mỏng yếu,
lộn xộn. ở Trị - Thiên, Sư đoàn 3 và Sư đoàn thủy quân
lục chiến (dự bị chiến lược của Việt Nam Cộng hòa)
phải căng ra đảm nhiệm việc phòng giữ cả khu vực
đường 9 - bắc Quảng Trị với chiều dài từ Cửa Việt lên
đến Lao Bảo. ở Khu 5, các sư đoàn 1 và 2 phải rải ra
phòng giữ ba tỉnh Quảng Đà, Quảng Tín, Quảng Ngãi.
ở Quân khu 2, hai sư đoàn 22 và 23 dàn mỏng lực
lượng bảo vệ 12 tỉnh đồng bằng Nam Trung Bộ và Tây
Nguyên. Quân khu 3 - vị trí chiến lược hiểm yếu của đối
phương, nơi có Sài Gòn - Gia Định cùng các tỉnh Tây
Ninh, Hậu Nghĩa, Bình Long, Phước Long, Thủ Dầu
Một, Long Khánh - Biên Hòa, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng
Tàu, Long An, bốn sư đoàn bộ binh và dù phải giăng ra
phòng giữ từ phía tây bắc, bắc đến đông nam Sài Gòn Gia Định. Còn các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Quân
khu 4), đối phương bố trí ba sư đoàn 7, 19 và 21. Trên
một vùng rộng sông nước, sình lầy từ Cần Thơ, Bến Tre
đến Cà Mau, Phú Quốc, có đường biên giáp với
Campuchia, việc chỉ có ba sư đoàn phòng giữ không thể
bảo đảm an ninh và bình định, nên lực lượng địch ở đây
bị căng kéo, phân tán mỏng để đối phó với phong trào
chiến tranh du kích của ta. Trong khi lực lượng quân sự
của chính quyền Sài Gòn buộc phải bố trí phân tán
không đều trên các địa bàn chiến lược, thì hỏa lực chi
viện của Mỹ giảm mạnh, nhất là hỏa lực không quân,
pháo binh. Tình hình đó khiến cho quân đội Sài Gòn tuy


12

lịch sử kháng chiến chống mỹ, cứu nước... tập VII

đông về số lượng nhưng vẫn luôn cảm thấy "trống lưng,
hở sườn", không được che chắn, bị cô lập. Cả điều này cũng
đã là tác nhân khiến tinh thần chiến đấu của quân đội Sài
Gòn vốn đã sa sút càng sa sút nghiêm trọng, không thể
đảm đương nổi vai trò "nòng cốt" thực hiện chiến lược Việt
Nam hóa chiến tranh như phía Mỹ trông đợi.
Về phía ta, năm 1971, ở chiến trường miền Nam, lực
lượng vũ trang Quân giải phóng có 7 sư đoàn, 19 trung
đoàn chủ lực cơ động; 95 tiểu đoàn, 350 đại đội, 185 trung
đội bộ đội địa phương tỉnh, huyện và hàng chục vạn du
kích, tự vệ chiến đấu ở khắp các thôn, xã, thị trấn, thành
phố. Toàn bộ lực lượng này đứng chân trên những địa
bàn chiến lược trọng yếu, hình thành thế bố trí xen kẽ
với đối phương. Trong điều kiện cần chớp thời cơ, mở
những chiến dịch lớn hoặc mở cuộc tiến công chiến lược,
nhiều sư đoàn, trung đoàn bộ binh và binh chủng mạnh
từ hậu phương miền Bắc được tăng cường cho chiến
trường miền Nam. Chỉ trong năm 1970 - 1971, miền Bắc
đưa nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật như xe tăng,
pháo binh, cao xạ, công binh - đặc biệt là xe tăng T54,
pháo 130 mm, Đ74, hỏa tiễn, súng phòng không A72,
súng chống tăng B72 điều khiển bằng vô tuyến điện...
vào chiến trường.
So sánh lực lượng quân sự ở miền Nam và Đông
Dương, quân ta mạnh hơn hẳn quân đối phương về mọi
mặt, lại nắm quyền chủ động trên chiến trường và ở
trong thế bố trí chiến lược có lợi, luôn luôn vây hãm
quân đối phương vào thế bị động chống đỡ.


Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm...

13

ở thế có lợi, quân dân ta trên khắp chiến trường
Trung Trung Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long trong
năm 1971, đã tích cực thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tận dụng thời cơ nhân
lúc quân chủ lực địch bị ta đánh bại ở tuyến ngoài, đẩy
mạnh tiến công và nổi dậy đánh phá kế hoạch "bình định
đặc biệt" và "chương trình cộng đồng tự vệ, phát triển
nông thôn" của địch. ở Khu 5, trong hai đợt hoạt động
Xuân - Hè và Thu - Đông 1971, ta đã diệt 23 đồn, bốt địch
và đánh thiệt hại các căn cứ quân sự Xã Đốc (Quảng Đà)
Dục Mỹ (Khánh Hòa), Đèo Son (Quy Nhơn), sân bay Đà
Nẵng (Quảng Đà), sông Mao (Bình Thuận), Nghĩa Hành
(Quảng Ngãi), Hoài Nhơn, Phù Mỹ (Bình Định), Phú
Nhơn, Phú Thiện (Gia Lai), v.v.. Đòn tiến công quân sự
trên đây trực tiếp hỗ trợ cho nhân dân các nơi này nổi dậy
phá tan từng mảng ấp Tân Sinh, giành quyền làm chủ,
khôi phục nhiều căn cứ lõm bí mật, vùng kiểm soát của
địch bị thu hẹp. ở Nam Bộ, quân và dân ta kết hợp chặt
chẽ tiến công và nổi dậy, kết hợp đấu tranh quân sự với
chính trị và binh vận đã giành lại các vùng trọng điểm
bình định của địch ở nam, bắc đường số 4 (Mỹ Tho), Mỏ
Cày, Giồng Trôm (Bến Tre), tuyến sông Mang Thít (Trà
Vinh), Chương Thiện (Cần Thơ), Đức Hòa, Đức Huệ, (Long
An), Dầu Tiếng, Bến Cát (Thủ Dầu Một), Củ Chi (Gia
Định). Nhìn chung, các hoạt động tiến công quân sự kết
hợp với nổi dậy của nhân dân ở các địa phương thuộc Khu 5,
Nam Bộ phát triển tốt, cuộc chống phá địch bình định đạt


14

lịch sử kháng chiến chống mỹ, cứu nước... tập VII

kết quả, đã làm cho tình hình nông thôn miền Nam biến
chuyển có lợi cho cách mạng, tạo đà cho nhân dân vượt
qua thời kỳ khó khăn nghiêm trọng năm 1969 - 1970,
đánh lùi địch nhiều nơi, giữ vững vùng giải phóng và căn
cứ địa.
Cùng với phong trào chống phá địch bình định ở nông
thôn, phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân vùng
đô thị - nhất là Sài Gòn - Gia Định - cũng diễn ra sôi nổi,
liên tục, khiến hậu phương, hậu cứ của chính quyền và
quân đội Sài Gòn thường xuyên không ổn định. Phong
trào đấu tranh chính trị trong thời kỳ này có những điểm
mới về hình thức và nội dung. Ngoài những cuộc xuống
đường míttinh, bãi công, chống các hãng thầu Mỹ bóc lột
công nhân, đòi tăng lương như những năm trước, giờ đây,
còn xuất hiện phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe của
thanh niên, sinh viên, học sinh đô thị. Những cuộc đấu
tranh chính trị của đồng bào thành thị không dừng lại ở
mục tiêu đòi các quyền dân sinh, dân chủ, mà hơn thế,
chứa đựng và biểu lộ tinh thần dân tộc, mang nội dung:
đòi "Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược", đòi "Thiệu - Kỳ
từ chức", "miền Nam của người Việt Nam", "bãi bỏ chế độ
quân sự hóa học đường", v.v.. Các cuộc đấu tranh chính trị
từ Sài Gòn đã lan ra các thành phố, thị xã như Huế, Đà
Nẵng, Đà Lạt, Cần Thơ... Các tổ chức quần chúng như
Phong trào phụ nữ đòi quyền sống; ủy ban nhân dân
tranh thủ hòa bình; ủy ban nhân dân đòi quyền sống;
Nghiệp đoàn 36 chợ đô thành... đã tổ chức míttinh lên án


Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm...

15

Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đòi chấm dứt chiến tranh, đòi
Mỹ rút quân ra khỏi miền Nam, v.v..
Những thắng lợi về quân sự, chính trị có ý nghĩa chiến
lược của quân và dân ta trong thời kỳ đế quốc Mỹ thực
hiện Việt Nam hóa chiến tranh và Học thuyết Níchxơn
trong các năm 1970, 1971 đã tạo ra thế và lực mới, đảm
bảo cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tiếp
tục phát triển; chúng ta "có điều kiện kết hợp chặt chẽ đấu
tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, tiếp tục phát triển
quyền chủ động tiến công giành thắng lợi mới có ý nghĩa
chiến lược lớn hơn trong năm 1972" 1.
Miền Bắc - hậu phương chiến lược của cuộc kháng
chiến chống Mỹ xâm lược - vẫn vững vàng vượt qua mọi
khó khăn, thử thách do đế quốc Mỹ gây ra, khẩn trương
hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi sản xuất, ổn
định đời sống nhân dân. Là hậu phương trực tiếp của cách
mạng Việt Nam ở miền Nam, hậu phương của cách mạng
hai nước Lào, Campuchia, miền Bắc xã hội chủ nghĩa luôn
luôn cùng một lúc phải làm hai nhiệm vụ chiến lược: bảo
vệ và tăng cường tiềm lực và sức mạnh miền Bắc, đồng
thời ra sức động viên nhân tài, vật lực chi viện cho miền
Nam, Lào, Campuchia ngày càng tăng. Đứng trước đòi hỏi
của tình hình và nhiệm vụ mới, năm 1971, miền Bắc dấy
lên cuộc vận động chính trị rộng lớn, phát động phong trào
_____________
1. Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính
trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi
và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 83.


16

lịch sử kháng chiến chống mỹ, cứu nước... tập VII

thi đua lao động sản xuất giỏi, sẵn sàng chiến đấu và
chiến đấu cao "vì tiền tuyến miền Nam và xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc".
Mặc dù buộc phải ngừng ném bom và các hành động
quân sự khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
nhưng trên thực tế, Mỹ không tôn trọng những cam kết,
vẫn tiếp tục tiến hành các chuyến bay do thám và đánh
phá miền Bắc. Ngày 21-11-1970, các tỉnh Nghệ An,
Quảng Bình, Vĩnh Linh bắn rơi 13 máy bay Mỹ khi
chúng đến ném bom, bắn phá tuyến vận tải chiến lược
trên địa bàn Khu 4. Cũng trong ngày này, Mỹ dùng máy
bay lên thẳng (được máy bay phản lực F105 nghi binh,
yểm trợ), chở lực lượng đặc biệt gồm 56 tên, do Đại tá
Simôn chỉ huy, lợi dụng đêm tối, bất ngờ đổ bộ xuống thị
xã Sơn Tây - địa điểm cách Hà Nội 32 km về phía tây,
nhằm cướp tù binh Mỹ. Níchxơn hy vọng cuộc giải thoát
tù binh Mỹ nếu thành công sẽ xoa dịu được tinh thần đấu
tranh đòi rút quân Mỹ khỏi Việt Nam của nhân dân Mỹ
và sẽ mặc cả với ta tại cuộc hòa đàm Pari. Song, cuộc tập
kích Sơn Tây giải thoát tù binh Mỹ bị thất bại, ta cảnh
giác với ý đồ của Mỹ và đã di chuyển tù binh đi nơi khác.
Trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, từ giữa
năm 1970, thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng về việc tăng cường, mở
rộng tuyến vận tải chiến lược này, bảo đảm vận chuyển
thông suốt cả đêm lẫn ngày suốt bốn mùa mưa, nắng,
Đoàn 559 - lực lượng chủ yếu vận chuyển vật chất, kỹ


Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm...

17

thuật và đưa đón bộ đội từ hậu phương miền Bắc tăng
cường cho chiến trường miền Nam, Campuchia - lúc này
có tổng quân số 90.000 người, bao gồm 40 trung đoàn,
tiểu đoàn vận tải ôtô, gùi thồ, vận tải đường sông và lực
lượng công binh, cao xạ, bộ binh. Bộ Quốc phòng bổ sung
cho Đoàn 559: 3.500 xe ôtô, 1.000 xe máy làm đường và
rà phá bom mìn, 200 khẩu pháo cao xạ, 700 máy vô
tuyến điện. Trước tình hình mới, Quân ủy Trung ương,
Bộ Quốc phòng giao cho Bộ Tư lệnh Đoàn 559 tổ chức
các sư đoàn khu vực: 470, 471, 472, 473, 571 và quy
hoạch toàn tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn thành 5
khu vực 1. Đoàn 559 còn được tăng cường hàng vạn
thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến. Lực
lượng này được động viên từ các tỉnh miền Bắc, làm
_____________
1. Theo phân công, mỗi bộ tư lệnh khu vực phụ trách một số
tuyến vận tải và một cụm binh trạm, cụ thể:
- Bộ Tư lệnh 471 phụ trách trục đường phía tây, tiếp
chuyển hàng của Bộ Tư lệnh 472 gồm 6 binh trạm (35, 36,
38, 44, 46 và 47).
- Bộ Tư lệnh 472 phụ trách khu vực trung tâm phía tây
Trường Sơn gồm 6 binh trạm (32, 33, 34, 39, 45 và 12).
- Bộ Tư lệnh 473 phụ trách các trục đường 16, 9, 14, 29,
128 và B45 phía đông Trường Sơn gồm 4 binh trạm (27, 28,
41 và 42).
- Bộ Tư lệnh 470 (thành lập tháng 4-1970) gồm 5 binh trạm
(37, 50, 51, 52 và 53).
- Bộ Tư lệnh 571 (Bộ Tư lệnh hậu phương) gồm Trường
Quân chính, Viện Quân y 59, Đoàn giao nhận xe (tương đương
trung đoàn) và các đơn vị trực thuộc khác.


18

lịch sử kháng chiến chống mỹ, cứu nước... tập VII

nhiệm vụ mở đường, san lấp hố bom, gùi thồ đạn, gạo,
bốc dỡ hàng, bảo vệ kho tàng... Trong nhiều trường hợp,
những nữ thanh niên xung phong bất chấp hiểm nguy,
đã làm "lộ tiêu sống" dẫn đường cho các đoàn xe vận tải
vượt ngầm dưới sự săn lùng, đánh phá của máy bay
địch. Toàn bộ lực lượng trên đây trong năm 1971, đã
dồn sức mở rộng mạng đường, bao gồm hệ thống trục
dọc, trục ngang, đường vòng tránh các trọng điểm và
mạng đường này có tổng chiều dài lên tới 20.330 km
(tính đến mùa Xuân 1975), trong đó mở mới 16.790 km
với 6 trục dọc, 13 trục ngang và 700 km đường vượt
khẩu, 4.700 km đường vòng tránh, 1.200 km đường kín.
Đáp ứng đòi hỏi của chiến tranh, 1.399 km đường ống
dẫn dầu từ miền Bắc đến Bù Gia Mập được khẩn trương
lắp đặt, đi vào hoạt động, bao gồm 113 trạm bơm,
257.050 m3 kho chứa vào cuối năm 1971. Đây là công
trình có tầm quan trọng chiến lược, được Đảng, Nhà
nước tập trung chỉ đạo. Một lực lượng lớn cán bộ, công
nhân các ngành cơ khí, vật tư, kiến trúc, bộ đội xăng
dầu và cùng hàng vạn lao động các tỉnh Quảng Bình, Hà
Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Hòa
Bình, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Hải Hưng được động
viên vào nhiệm vụ này.
Với những nỗ lực trên đây, năm 1971, qua đường vận
tải biển và đường 559 thông suốt, miền Bắc đã chuyển vào
chiến trường miền Nam 135.663 tấn lương thực, 22.392 tấn
thực phẩm, 29.389 tấn xăng dầu, 985 tấn thuốc quân y,


Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm...

19

16.000 tấn vũ khí. Ngoài việc tăng cường lực lượng, vật
chất, kỹ thuật cho miền Nam, Đảng và Nhà nước ta dành
một phần lớn vật chất, kỹ thuật giúp đỡ cách mạng
Campuchia và Lào. Trên miền Bắc, các mặt chuẩn bị
theo phương án sẵn sàng đánh bại âm mưu và hành động
của kẻ thù nếu đối phương liều lĩnh mở rộng chiến tranh
trên bộ ra Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hà Tĩnh, sẵn sàng
đương đầu và đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại
bằng không quân, hải quân Mỹ lần thứ hai... cũng được
gấp rút triển khai.
Trong hai năm 1970 - 1971, đế quốc Mỹ dốc sức thực
hiện Học thuyết Níchxơn bằng cách xây dựng quân đội
Sài Gòn mạnh đủ sức làm nòng cốt cho việc thực hiện
chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, tiến hành bình
định miền Nam và Lào, hòng tiêu diệt khối chủ lực Quân
giải phóng, phá "đất thánh Việt cộng", cắt đứt tuyến vận
tải chiến lược Trường Sơn, bao vây, cô lập và bóp nghẹt
phong trào cách mạng miền Nam. Song, chủ lực quân đội
Sài Gòn bị tiêu diệt lớn ở đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc
Campuchia. Những mục tiêu đề ra cho các cuộc hành
quân trong năm 1971 của quân đội Sài Gòn đã bị thất bại.
Quân đội Sài Gòn thua trận, tinh thần chiến đấu sa sút đã
ảnh hưởng rất lớn đến nỗ lực thực hiện kế hoạch bình
định đặc biệt, Chương trình cộng đồng tự vệ và phát triển
nông thôn do chính quyền Sài Gòn và tòa Đại sứ Mỹ, Cục
Tình báo Trung ương Mỹ (CIA)... vạch ra. Chiến lược Việt
Nam hóa chiến tranh của Mỹ bị đẩy lùi một bước căn bản.


20

lịch sử kháng chiến chống mỹ, cứu nước... tập VII

Trên thực tế, dựa vào số quân đông và được Mỹ tăng
cường huấn luyện, trang bị nên quân đội Sài Gòn trong
năm 1971 cũng đã bung ra đóng thêm nhiều đồn bốt, giữ
được một số lớn ấp chiến lược, khu dinh điền. Cuộc đấu
tranh trên mặt trận chống phá bình định diễn ra ác liệt
suốt năm 1971. Tuy nhiên, do quân Mỹ tiếp tục rút đi và
ta hoạt động mạnh, chiến tranh du kích phát triển đều
khắp trên cả ba vùng chiến lược; đồng bào thành thị ngày
càng hướng về cách mạng với niềm tin chiến thắng, ủng
hộ cách mạng và tham gia đấu tranh chính trị mạnh
mẽ..., nên hoạt động bình định của địch bắt đầu chững
lại và chúng buộc phải rút bớt chỉ tiêu. Trong khi đó, các
sư đoàn chủ lực Quân giải phóng từ các vùng biên giới đã
trở lại đứng chân, hoạt động ở những địa bàn xung yếu,
áp sát các vành đai phòng thủ của địch và các đô thị lớn.
Mặc dù đối phương và ta còn ở thế giằng co quyết liệt,
nhưng tình hình nông thôn miền Nam giờ đây đã vượt
qua thời kỳ khó khăn nghiêm trọng, ta đã chặn địch lại,
đã đánh lui chúng ở nhiều nơi và tạo ra những điều kiện
thuận lợi mới hết sức cơ bản để tiến lên thực hiện nhiệm
vụ chiến lược tiếp theo.
Những thắng lợi trên đây ở tiền tuyến, ở hậu
phương trong năm 1971, "đã làm phá sản một bước
quan trọng chính sách Việt Nam hóa chiến tranh và
Học thuyết Níchxơn của đế quốc Mỹ ở Đông Dương.
Năm 1971 là năm địch có những cố gắng lớn, nhưng


Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm...

21

cũng là năm chúng bị thua nặng, ta thắng to" 1; so sánh
thế và lực giữa ta và địch trên chiến trường diễn biến
căn bản thuận lợi cho cách mạng miền Nam, cách mạng
ba nước Đông Dương. "Ta đang thế thắng, thế chủ động,
thế thuận lợi, thế đi lên, mặc dầu còn có những khó
khăn và nhược điểm cần phải khắc phục; địch đang ở
thế thua, thế bị động, thế khó khăn, thế đi xuống, mặc
dầu chúng đang còn nhiều lực lượng và có những chỗ
mạnh tạm thời"2.
Những thắng lợi to lớn trên mặt trận quân sự và
chính trị ở chiến trường Việt Nam, Campuchia, Lào
làm chuyển biến căn bản cục diện cách mạng ở Đông
Dương, đã tác động tích cực đến các phong trào đấu
tranh của nhân dân thế giới, nhân dân tiến bộ Mỹ, đòi
chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, đòi rút quân
Mỹ về nước.
Tại Mỹ, các tầng lớp xã hội Mỹ tiếp tục đẩy mạnh
hoạt động đấu tranh chống cuộc chiến tranh của chính
quyền Níchxơn, đòi rút quân Mỹ ra khỏi chiến tranh Việt
Nam. Khi Níchxơn nhậm chức Tổng thống Mỹ, 7.000 nhà
hoạt động do ủy ban động viên toàn quốc đòi chấm dứt
chiến tranh Việt Nam lãnh đạo, đã tổ chức nhiều cuộc
biểu tình, míttinh hô vang các khẩu hiệu phản đối cuộc
chiến tranh Việt Nam của chính quyền... Những người
_____________
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.33, tr.141, 142.


22

lịch sử kháng chiến chống mỹ, cứu nước... tập VII

tham gia phong trào nhận thức rất rõ rằng trở ngại hòa
bình không phải là Hà Nội mà là cố gắng không thích
hợp, không đầy đủ của Chính phủ Mỹ. Ngày 15-10-1971,
phong trào ngừng hoạt động vì Việt Nam đã huy động
hơn một triệu người xuống đường ở Oasinhtơn, hô vang
khẩu hiệu "Hòa bình ngay bây giờ!". Đặc biệt, năm 1969,
trong quân đội Mỹ cũng bắt đầu dấy lên phong trào
"Chống chiến tranh Việt Nam của chính quyền". Họ tổ
chức 17 cuộc biểu tình tại các doanh trại, căn cứ của binh
chủng lục quân, không quân, hải quân ở Mỹ phản đối
cuộc chiến tranh do chính quyền phát động, đòi Níchxơn
phải chấm dứt chiến tranh ngay lập tức, phải rút hết
quân Mỹ khỏi Việt Nam! Ngày 18-4-1971, 2.000 cựu
chiến binh từng chiến đấu ở chiến trường Việt Nam về,
kéo đến Thủ đô Oasinhtơn gặp Quốc hội, rồi đến nghĩa
trang Arlingtơn tổ chức rước đuốc phản đối cuộc chiến
tranh của Mỹ. Những cựu chiến binh vứt bỏ huân chương
khen thưởng họ trong chiến tranh Việt Nam lên thềm
nhà Quốc hội để phản đối cơ quan lập pháp cho phép
Tổng thống tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Phong trào chống chiến tranh Việt Nam ở Mỹ lên cao đã tác
động đến nhiều nghị sĩ ở Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ.
Đó là một nhân tố tác động góp phần dẫn đến việc tháng
4-1971, Hạ viện Mỹ biểu quyết đòi rút hết quân Mỹ khỏi
Việt Nam với số phiếu 122/260. Ngày 17-6 cùng năm, số
phiếu biểu quyết của Hạ viện về việc rút quân Mỹ, chấm
dứt chiến tranh Việt Nam tăng lên 158/224 và ngày 28-6


Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm...

23

số phiếu đó là 175/219... Với số phiếu này, Hạ viện Mỹ
quyết nghị yêu cầu Chính phủ chấm dứt chiến tranh Việt
Nam. Đây là lần đầu tiên Hạ viện Mỹ bỏ phiếu hủy bỏ
"chính sách Việt Nam của chính quyền" bằng luật. ủy
ban chính sách của Đảng Dân chủ tại Thượng viện đòi
Níchxơn rút hết quân Mỹ, kể cả không quân yểm trợ,
khỏi Đông Dương vào ngày 30-11-1972... Đây là những
quyết định mạnh mẽ của cơ quan lập pháp Mỹ nhằm
vào chính quyền hiếu chiến Níchxơn. Nội bộ chính
quyền Mỹ bị chia rẽ nghiêm trọng vì cuộc chiến tranh
Việt Nam.
Do bị thất bại trong chính sách Việt Nam hóa chiến
tranh và bị sức ép nặng nề trong nước đòi rút quân Mỹ,
tại Hội nghị Pari, phái đoàn Mỹ tỏ ra mềm mỏng hơn. Mỹ
không đòi hai bên cùng rút quân như trước nữa mà tuyên
bố sẵn sàng đề ra thời hạn cuối cùng cho việc rút quân
Mỹ. Ngày 31-5-1971 trong cuộc gặp riêng giữa Bộ trưởng
Xuân Thủy với Kítxinhgiơ, ông ta đưa đề nghị 7 điểm.
Trong 7 điểm này, Kítxinhgiơ nói "sẵn sàng ấn định thời
hạn rút quân Mỹ", nhưng không nói ngày nào cụ thể.
Ông ta còn lập lờ "người Việt Nam và người các nước
Đông Dương khác sẽ thảo luận rút các lực lượng ngoại
nhập khác". Ngày 1-7-1971, tại phiên họp thứ 119 của
Hội nghị bốn bên, đại diện Chính phủ Cách mạng lâm
thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trình bày sáng kiến
mới gồm 7 điểm, nhằm giải quyết hòa bình vấn đề miền


24

lịch sử kháng chiến chống mỹ, cứu nước... tập VII

Nam Việt Nam1. Nhiều nghị sĩ Mỹ kể cả Níchxơn đều chung
nhận xét đề nghị mới này của Chính phủ Cách mạng lâm thời
_____________
1. Sáng kiến 7 điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời
Cộng hòa miền Nam Việt Nam:
1- Nếu Mỹ định thời hạn rút hết quân trong năm 1971 thì
các bên sẽ thoả thuận cùng một lúc về thể thức của hai việc
sau đây: a) Rút an toàn quân đội Mỹ và quân các nước thuộc
phe Mỹ; b) Thả hết quân nhân của các bên và dân thường bị bắt
trong chiến tranh, kể cả các phi công Mỹ bị bắt ở miền Bắc; hai
việc này bắt đầu cùng ngày và kết thúc cùng ngày.
2- Mỹ chấm dứt ủng hộ nhóm cầm quyền hiếu chiến do
Thiệu cầm đầu để các lực lượng chính trị, xã hội, tôn giáo ở miền
Nam lập ra ở Sài Gòn một chính quyền mới tán thành hoà bình,
độc lập, trung lập và dân chủ. Chính phủ Cách mạng lâm thời
sẽ nói chuyện ngay với chính quyền đó để bàn bạc việc thành lập
chính phủ hoà hợp dân tộc rộng rãi ba thành phần làm nhiệm
vụ trong thời gian từ khi lập lại hoà bình đến tổng tuyển cử.
3- Vấn đề các lực lượng vũ trang ở miền Nam sẽ do các bên
Việt Nam cùng giải quyết trên tinh thần hoà hợp dân tộc, bình
đẳng, tôn trọng nhau không có can thiệp của nước ngoài.
4- Việc thống nhất Việt Nam sẽ tiến hành từng bước trên cơ sở
bàn bạc và thoả thuận, không có sự can thiệp của nước ngoài. Hai
bên không tham gia liên minh quân sự với nước ngoài, không cho
phép nước ngoài có căn cứ quân sự hay quân đội trên đất mình.
5- Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại hoà
bình, trung lập, đặt quan hệ với tất cả các nước không phân biệt
chế độ chính trị, xã hội, theo 5 nguyên tắc chung sống hoà bình.
Cũng theo những nguyên tắc đó, miền Nam Việt Nam và Mỹ sẽ
thiết lập quan hệ chính trị, kinh tế - xã hội với nhau.
6- Chính phủ Mỹ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về
những thiệt hại và tàn phá do Mỹ gây ra cho nhân dân Việt
Nam ở cả hai miền Việt Nam.
7- Các bên thoả thuận về những hình thức tôn trọng và bảo
đảm quốc tế các hiệp định sẽ được ký kết.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×