Tải bản đầy đủ

Chủ thể thưởng thức thẩm mĩ

CHỦ THỂ THƯỞNG THỨC THẨM MỸ
1.

Chủ thể thưởng thức thẩm mỹ là gì?

Đây là nhóm chủ thể tiêu thụ các giá trị thẩm mỹ. Nó có qui mô rộng lớn
nhất, hầu như mỗi con người xã hội đều có cơ hội để trở thành một chủ thể thưởng
thức trong một tình huống nhất định nào đó.
Nhóm chủ thể thưởng thức phản ánh thụ cảm những quá trình thẩm mĩ xảy
ra trong cuộc sống và nghệ thuật nhờ vào giác quan mà tích lũy được những giá trị
thẩm mĩ. Khả năng tiếp nhận, cảm thục các giá trị thẩm mĩ phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như mức độ nhạy cảm và được giáo dục về nghệ thuật, trình độ học vấn,
điều kiện kinh tế, môi trường sống
Nhóm chủ thể này cần được giáo dục về mặt thẩm mỹ để có thể thâm nhập
sâu hơn vào thế giới thẩm mỹ, nhất là thế giới nghệ thuật. Một chủ thể thưởng thức
nếu được rèn luyện về mặt thẩm mỹ thì phát hiện ra đâu là những cái đẹp cần cổ
vũ, đâu là cái xấu cần xoá bỏ. Không được giáo dục thẩm mỹ về nghệ thuật thì chủ
thể tiêu thụ không có khả năng cảm thụ và đánh giá thẩm mỹ, không thấy được giá
trị nghệ thuật chân chính và phản giá trị trong nghệ thuật.
2. Hai quá trình của chủ thể thưởng thức thẩm mỹ


Quá trình tiêu thụ, quan sát diễn ra trong 2 quá trình cơ bản đó là: tìm hiểu
các đối tượng thẩm mỹ rồi thâm nhập sâu hơn vào nó, tìm ra các quy luật nội tại
của đối tượng thẩm mỹ. Ví dụ như: xem triển lãm tranh, xem các bài thơ trữ
tình thì phải hiểu các tôi trữ tình thường là chính bản thân nhà thơ.
Khi tìm hiểu các tác phẩm nghệ thuật đặt trong quan hệ hiểu biết khám phá
thì giá trị thẩm mỹ của tác phẩm đó cao hơn.
Trong sáng tạo nghệ thuật có những tài năng quá lớn đi trước thời đại, vượt
qua sức tiếp nhận của chủ thể thưởng thức, phải có thời gian sàng lọc những giá
trị thẩm mỹ tiềm ẩn. Ví dụ như picatso sang lập trường phái lập thể vô cũng dị
lạ, triển lãm của ông bị công chúng dùng dao rạch nát.
Chủ thể thưởng thức phải không ngừng nâng cao năng lực thẩm mỹ của
mình. Ví dụ: tìm hiểu về âm nhạc, hội họa, văn học.


3.

Các đặc điểm của chủ thể thưởng thức thẩm mỹ
Nghệ thuật là một nhu cầu tinh thần đặc biệt của con người. Đây là nhu cầu

bồi đắp bản chất của con người theo quy luật cái đẹp. Vì vậy, khi nghiên cứu về
chủ thể thưởng thức, nhóm 1 tập trung nghiên cứu những nhu cầu mà chủ thể
này đòi hỏi để thấy tác động qua lại giữa công chúng và nghệ thuật.
3.1 Nhu cầu tồn tại “bằng tất cả các giác quan” của mình
Đây là một nhu cầu làm nên sức mạnh bản chất người. Mác đã viết: “Đặc
điểm sức mạnh của bất cứ con người nào cũng chính là cái bản chất riêng của họ”.
Không phải chỉ ở trong tư duy mà bằng tất cả các giác quan con người, đã tồn tại
rõ rệt trong thế giới khách quan.
Nhu cầu tồn tại “bằng tất cả các giác quan” qua nghệ thuật của con người,
tuy là nhu cầu cảm nhận cuộc sống tưởng chừng như cụ thể, cảm nghĩ bên ngoài,
nhưng thực ra nó lại là nhu cầu bên trong. Nhà triết học và mỹ học Đức I. Kant đã
cho rằng, cần phải dùng “tiên nghiệm” bổ sung cho nhận thức lý tính, con người
mới nhận thức đầy đủ các sự vật, đặc biệt trong nhận thức thẩm mỹ.
Nhận thức lý tính là cần thiết nhưng có những vấn đề lý tính sáng suốt phải
bó tay. Có những vấn đề không thể nhận thức bằng logic mà chỉ có thể “cảm
nhận”, do “linh tính” mách bảo.
Ví dụ chứng minh: Lịch sử vật lý đã có những bằng chứng rất lý thú
về cách suy nghĩ kết hợp với suy đoán do linh tính thẩm mỹ mách bảo của
Anhxtanh dẫn đến kết quả tìm ra thuyết tương đối. Anhxtanh vừa nghiên cứu vật lý
lại vừa thích thú thưởng thức âm nhạc. Nghệ thuật đặc biệt là âm nhạc đã thổi vào
tâm hồn ông một loại “linh cảm vật lý” và ông suy nghĩ theo cách mới, quyết định

gạt bỏ các suy nghĩ đã “được chứng nhận”. Ông quyết định khi đã “cảm thấy”
đúng, ông đã cho công bố thuyết tương đối.
Rõ ràng từ nhu cầu cảm nhận thực tại bằng tất cả các giác quan của
mình, con người đã tiến đến nhu cầu cảm nhận “cái huyền bí”, mà sự cảm nhận
này lại chỉ có nghệ thuật mới có khả năng mách bảo, có khả năng hé mở cánh cửa
ngoài năng lực của lý tính.
Ở đây còn có vấn đề của những vùng sáng và những vùng tối trong các biểu
tượng cảm xúc của chúng ta. Trên tấm bản đồ to lớn của tâm hồn chúng ta sở dĩ chỉ
có một vùng nào đó được rọi sáng về phương diện thẩm mỹ thì phải chăng lại
chính là ánh sáng của sự bừng tỉnh trong kho tàng tri thức của chúng ta. Như vậy,


con người rất thích nhờ vào nghệ thuật để cảm nhận được nhiều hơn những cảm
nhận tự họ có được qua con đường đối diện trực tiếp với khách quan.
Ví dụ: Có thể dẫn chứng những trường hợp về “giác quan thứ sáu”.
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhờ vào lý tính khôn khéo, cảm nhận đúng thời
cuộc trong một xã hội chia năm, sẻ bảy đã giúp đất nước thoát nạn binh đao, dân
tình lầm than khốn khổ trong quá trình hưng vong của triều Mạc và chứng kiến
cuộc Trung hưng của nhà Lê. Trạng Trình khuyên họ Mạc rút lên giữ Cao Bằng, họ
Trịnh chỉ nên mượn danh nghĩa nhà Lê mà nắm lấy thực quyền, chứ không cướp
ngôi nhà Lê để giữ bình ổn cho xã hội.
Xét về mặt khoa học, hiện tượng “tiên đoán” cũng chỉ là một kiều trực giác,
nhưng trực giác khoa học cũng chỉ là sự kết hợp giữa cảm tính và lý tính.
Nhu cầu thanh lọc hóa tâm hồn
Theo Arixtôt (Aristote), nhà lí luận mĩ học thời cổ đại Hi Lạp, các vở kịch
Hi Lạp, dù viết theo thần thoại hay anh hùng ca, đều xoay quanh các xung đột gia
đình (giữa cha con, anh em, chồng vợ, vv.). Các vở đều có chung một cách giải
quyết số phận nhân vật kịch bằng cái chết do chính những hành động lỗi lầm của
họ gây ra. Những lỗi lầm bi kịch này phần lớn là lỗi lầm không tự giác, do nhiều
nguyên nhân khách quan mà họ không hề được biết trước dẫn tới. Vì vậy, hiệu quả
của các vở bi kịch là đem lại cho người xem một cảm giác xót thương và khiếp sợ.
Xót thương vì kết cục bi thảm của các nhân vật, những người mà hành động, tư
tưởng và tình cảm cao cả của họ đều được khán giả đồng tình. Khiếp sợ vì thấy
định mệnh quá khắt khe và nghiệt ngã đối với số phận các nhân vật, qua những lỗi
lầm không thể tha thứ được, như con giết cha, vợ giết chồng, anh em chém giết lẫn
nhau, vv. Hai hiệu quả tâm lí này tác động khách quan đến khán giả làm cho mọi
người phải “cảnh giác” đề phòng với những lỗi lầm mà mình cũng có thể sẽ gây ra,
qua đó có tác dụng thanh lọc, tẩy rửa tâm hồn con người, hướng họ về cái thiện, cái
đẹp, tránh xa cái ác, cái xấu.
3.2

Đối với Aristote,Cái Đẹp được coi như là sự thanh lọc hóa tâm hồn vì
Cái Đẹp là sự sắp xếp cấu trúc của một thế giới được hình dung dưới mặt tốt
nhất của nó.Ở đây không phải là nhìn thấy con người như đang có mà như những
con người lẽ ra phải có. Trong tác phẩm Chính trị, Aristote viết: “người ta chỉ tìm
kiếm cái có ích và cái cần thiết để có cái đẹp mà thôi”, do vậy,Cái Đẹp được xác
định như một sự xuất phát từ nội tại tinh thần nhằm hướng đến cái lý tưởng
nhất của đời sống con người.
Với đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng cảm quan sinh động và
cụ thể, mang dấu ấn chủ quan của người nghệ sĩ, văn học là tấm gương phản chiếu


xã hội, là sản phẩm của sự nhận thức thẩm mỹ của chủ thể sáng tạo. Hình tượng
nghệ thuật chỉ có giá trị khi nghệ sĩ dùng nó để miêu tả và bảo vệ cái đẹp, lên án
cái xấu, tác động đến cảm xúc của công chúng, định hướng thẩm mỹ và định
hướng nhân cách cho công chúng.
Với ý nghĩa đó, văn học là một phương tiện quan trọng dùng ảnh hưởng của
nó hướng con người đến Chân, Thiện, Mỹ. Song để ảnh hưởng đến mức cao nhất,
văn học không thể tác động một cách chung chung, trừu tượng mà cần tạo nên
những kinh nghiệm, những tấm gương về tư cách người, những điển hình văn học
bất hủ. Arixtốt đề cao sự thanh lọc hóatâm hồn của con người, J.Locke nói đến sự
phản tỉnh, Hêghen đề cập quá trình tự nhân đôi của con người qua tác động của thế
giới nghệ thuật. Chúng tôi muốn đi sâu hơn vào quá trình con người tự làm mình
tốt lên, hoàn thiện hơn dưới sự tác động của văn học.
“Cái đẹp cứu rỗi nhân loại” (Đôxtôiépxki), văn học đã cứu rỗi vị thế xã hội
của con người. Trong văn học hiện thực phê phán ở Việt Nam có một hiện tượng,
mà nhà văn Nguyên Hồng vẫn khẳng định, ngay ở những con người dưới đáy, họ
vẫn mang bản tính là những con người trong sạch. Chỉ có hoàn cảnh làm xấu con
người, chứ con người không muốn tự làm xấu mình. Đó chính là quan niệm nghệ
thuật góp phần hoàn thiện nhân cách con người, chi phối toàn bộ những sáng tác
của văn học hiện thực phê phán.
Ngô Tất Tố phát hiện ra hình ảnh một người phụ nữ nông thôn Việt Nam
trong sạch, đẹp đẽ và lung linh trong màn đêm của xã hội thực dân và phong kiến.
Những phẩm chất: thủy chung, hiền dịu, đảm đang, giàu sức quật khởi ở chị Dậu là
tấm gương sáng mà bạn đọc mãi mãi đi tìm.
Nhu cầu thanh lọc hóa tâm hồn của công chúng yêu nghệ thuật còn dẫn tới
hình thành cả một hệ thống mang tính chất triết luận sâu sắc, đó là bi kịch.Ở bi
kịch có vấn đề sự sống và cái chết có vinh quang, bất tử, có luân hồi, tuẫn nạn,...
nhưng tất cả đều hướng đến một nền an ủi cao quý cho con người.
Trong nhu cầu thanh lọc hóa tâm hồn bao giờ cũng hàm chứa lẻ phải đáng
mong muốn.Cái lẻ phải nhiều khi không thực hiện được ở ngoài đời thì nghệ thuật
có thể giúp thực hiện nó trong tâm linh.
Như vậy nhu cầu thanh lọc hóa tâm hồn là nhu cầu quan trọng mà chủ thể
thưởng thức đòi hỏi.


3.3 Nhu cầu khoái cảm thẩm mỹ:
Sự tiếp nhận thẩm mỹ bao giờ cũng kèm theo những khoái cảm.
Khoái cảm thẩm mỹ là một khoái cảm tinh thần, nó dựa trên nền tảng của cái
đẹp. Khoái cảm thẩm mỹ là khoái cảm “vô tư” không vụ lợi thô thiển.
Trước hết là những khoái cảm do nhận biết qua nghệ thuật. Rõ ràng, sự tồn
tại của mỗi cá nhân là rất hữu hạn: hữu hạn về tuổi đời, về vốn văn hóa, xã hội, về
phạm vi giao tiếp; mà khát vọng của mỗi người lại vô tận. Nghệ thuật có khả năng
phá vỡ không gian và thời gian vật lý để đi tới không gian và thời gian tinh thần,
lấp đây thêm kinh nghiệm sống cho mỗi người. Nghệ thuật có thể giúp con người
trở lại thời khủng long, đi giữa những hoang mạc, bay lên các vì sao, lặn sâu xuống
đáy biển…
Khoái cảm do nhận biết sâu sắc về thời đại có thể kể đến trường học
của Ăngghen lúc đọc Banzắc; “… khi tôi nằm trên giường, tôi hầu như không đọc
gì hết trừ Banzắc, và tôi rất khoái về ông già tuyệt diệu này. Ở đấy chứa đựng lịch
sử nước Pháp từ năm 1815 đến năm 1848 và ở mức độ nhiều hơn so với tất cả
những lão Vôlaben, Cápphích… Và táo bạo làm sao! Ở trong lối xét xử nên thơ
của ông ta toát lên một phép biện chứng cách mạng biết chừng nào!”.
Nhu cầu khoái cảm thẩm mỹ là lý do quan trọng nhất về sự cần thiết của
nghệ thuật đối với đời sống của con người. Nghệ thuật không tự bó hẹp phạm vi
hoạt động hướng vào thỏa mãn chỉ riêng khám phá trực tiếp về cái đẹp. Với nghĩa
rộng là thỏa mãn khoái cảm thẩm mỹ, nghệ thuật còn có nhiệm vụ phản ánh cả
những mặt trái của đời sống; phản ánh cả những cái bi kịch lẫn cái hài kịch; nghệ
thuật khi dùng nước mắt để răn đời, nó còn đung tiếng cười để uốn nắn lẽ sống.
Qua nghệ thuật, con người khoái trá khi nhận ra chân tướng của cái xấu, cho dù nó
được che đậy rất tinh vi. Con người còn thăng hoa đầy táo bạo khi vươn lên đồng
vọng với cái trắc tuyệt.


Bản thân nghệ thuật là sản phẩm của óc tưởng tượng, của men say sáng tạo,
nghệ thuật đã truyền men say đó sang khát vọng sang tạo cái mới cho mỗi người.
Nghệ thuật là những mơ tưởng phóng khoáng về cuộc sống nhưng không hề hoang
tưởng. Những nghệ sĩ lớn của thời Phục hưng đã phát hiện và thể hiện thành công
hình tượng nghệ thuật về những con người khổng lồ ( tác phẩm Đavít của Miken
lăng). Còn Seechsxpia lại vẽ lên cảnh người khổng lồ đó dang bị bủa vây bằng một
lực lượng vô hình, rất uyển chuyển, nhưng lại rất nguy hiểm, đó là những mưu toan
xấu xa của bao thế lực hắc ám. Những thế lực này lại bị chi phối bởi một lực lượng
kép đó là thế lực của quyền lực và của vàng khiến người khổng lồ sức vóc là vậy
mà không sao cựa quậy được để thoát khỏi tầm khống chế của nó. Hiện tượng này
được thể hiện rất đặc sắc trong các tác phẩm nổi tiếng của ông như Hămlét,
Ôtenlô… Đi xa hơn, con người rất cần nghệ thuật để ca hát, mở đường cho cả một
thời đại mới.
Ở nhu cầu khoái cảm thẩm mỹ của chủ thể thưởng thức còn có nhu cầu về
hình thức của mỹ cảm.
Trong cuộc sống xô bồ bon chen của đời sống miếng cơm manh aaos hằng
ngày, con người dễ sa vào thô tục. Để khắc phục những khiếm khuyết đó, con
người rất cần khỏa lấp bằng hình thức nghệ thuật để bồi đắp thêm sự tinh tế, thau
thế cái cau có, cái nhăn nhúm bằng nụ cười và các sắc điêu màu hồng.
Ca dao, tục ngữ, cả kho tàng văn nghệ dân gian Việt Nam đã là đậm tình,
đậm nghĩa, đậm sắc màu cho bức tranh quê và tình người của nông dân ngày xưa.
“ Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”
Sự quyện lại của nhạc, của họa trong thơ làm cho vẻ đẹp của cảnh, của tình
thêm phong phú.


“ Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”
3.4 Nhu cầu được sống trong “môi trường ảo”
Con người sống trong quan hệ Thiên – Nhân – Địa, tức là sống trong Hư và
Thực; người Trung Hoa xưa coi cuộc sống có hai lĩnh vực của hình thể: Hình nhi
thượng và Hình nhi hạ, Đại ngã và Tiểu ngã.
Người phương Tây kể từ Arixtot (384 – 322 TCN) cũng chia khoa học làm
hai mảng lớn: Khoa học nghiên cứu các sự vật thấy được và Khoa “siêu hình học”
(Metaphysics) – Nghệ thuật chủ yếu khám phá cái hình chưa thấy được. Đương
nhiên, nó phải đi từ cái thấy được. Do đó, vấn đề đặt ra là, trong quan hệ Thực và
Hư ấy cái gì là số một. Thông thường người ta cho rằng Thực là số một, nhưng
càng đi vào chiều sâu thì té ra là không phải.
Arixtot giải thích rằng: “Thực là cái hữu hạn, còn Hư là cái vô hạn. Cái hữu
hạn là cái mang trong nó sự phủ định. Ví dụ: Một đời người cho dù thọ đến mấy
cũng mang trong nó một giới hạn và giới hạn là một phủ định; nghĩa là một sự vật
tồn tại, đồng thời sự vật đó cũng chứa đựng quá trình đi tới tiêu vong. Từ đó ta
thấy thế giới Hình nhi thượng mới là thế giới vô hạn. Thế giới vô hạn tự phủ định
mình ra từng phần của thế giới hữu hạn. Lão Tử của phương Đông trong Đạo đức
kinh viết:
“Vô danh thiên địa chi thủy
Hữu danh vạn vật chi mẫu”
Như vậy, với Lão Tử, cái Vô mới là cha vạn vật, còn cái Hữu chỉ là mẹ của
vạn vật mà thôi.
Về mặt tâm lý thẩm mỹ, con người luôn khát vọng tìm đến cái đẹp vô cùng,
vô tận. Trong quan hệ sống và chết, con người muốn nuôi dưỡng trong mình cái
bất tử.
Đứng trên quan điểm liên tục, chúng ta thấy Hữu hạn ở một thời điểm trong
sự phát triển tới cái vô tận, nó là gián đoạn. Như vậy, khoảng giữa cái Hữu hạn và
cái Vô hạn là “giải tần mờ”. Chính vì thế để nắm bắt được khu vực “mờ” chỉ có
cách là tạo ra “môi trường ảo” từ “môi trường ảo trở về” môi trường thực mới đạt
hiệu quả cao hơn.


Bản thân con người là như thế! Làm sao có thể giải đáp thỏa mãn mọi vấn
đề của cuộc sống? Có một phương thức rất quan trọng giúp con người tự giải đáp
được nhiều vấn đề khúc mắc của thế giới bên trong con người, đó là nghệ thuật, vì
nghệ thuật có bản chất là “hư cấu” là tạo ra thứ “trò chơi” anh minh, sâu sắc; một
thứ “môi trường ảo cao cấp” của tâm hồn.
Chính Lê-Nin trong phần ghi chép tóm tắt lược bài giảng về bản chất tôn
giáo của Phoiobac đã đồng ý với nhận xét cho rằng: “Nghệ thuật không đòi hỏi
người ta phải thừa nhận tác phẩm của nó như là hiện thực”.
Rõ ràng, nghệ thuật phản ánh hiện thực, nhưng nghệ thuật không phải là một
tấm kính vô cảm. Nghệ thuật thường lấy cái Hư để nói cái Thực làm cho cái Thực
sâu sắc hơn, sinh động hơn, hấp dẫn hơn. Bởi lẽ mục tiêu của nghệ thuật là phát
hiện cái còn ẩn dấu bên trong các sự vật. Nghệ thuật có sức mạnh gợi ý, gợi tình,
khiến chủ thể thưởng thức có thể tự mình đi sâu vào những mặt còn tiềm ẩn của
đời sống; tự khám phá nó và tạo nên một sự bừng tỉnh trỗi dậy từ bên trong để làm
cho tâm hồn con người có thể tiến vào sáu cõi hư mà “thần du” lựa chọn cách sống
sao cho tốt hơn, cao đẹp hơn, nhân văn hơn.
Có thể dẫn trường hợp biến hóa của nghệ thuật phương Đông qua bài thơ
của Hồ Chí Minh:
“Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài của sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”
Tù ngục là nơi giam hãm, là tận cùng của cái Hữu hạn. Vậy mà nhà thơ đã
phá vỡ cái tận cùng của Hữu hạn để đi tới tận cùng của Vô hạn, của khát vọng tự
do. Nếu không có cách sống trong “môi trường ảo” để nuôi khát vọng tự do thì tù
ngục rất dễ hủy hoại một đời người, thui choottj một nhân cách lớn.
Nhu cầu được sống trong môi trường ảo của chủ thể tiếp nhận bắt gặp nhu
cầu tổng hợp, tái tạo qua chọn lọc các tình huống của đời sống nghệ sĩ tạo thành
tính đặc thù của tư duy nghệ thuật. Tính đặc thù này thể hiện qua tư duy hình
tượng.
Trong nghệ thuật có vấn đề giao tiếp thẩm mỹ. Nghệ thuật là nơi để nghệ sĩ
dãi bày tâm sự của mình và lắng nghe tiếng đồng cảm của công chúng. Tất cả điều


này tạo nên sự giao tiếp. Nhưng giao tiếp trong nghệ thuật bao giờ cũng là giao
tiếp qua môi trường ảo.
Có thể thấy bản chất của vấn đề này qua bài “Độc Tiểu Thanh ký” của
Nguyễn Du. Nhân đọc câu chuyện viết về cô Tiểu Thanh một nhân vật tưởng
tượng, hư cấu của văn học. Cứ giả dụ Tiểu Thanh có thực đi nữa thì nàng cũng chỉ
là một “thảo dân”.
Vậy thì tại sao bao nhiêu giai nhân tuyệt sắc, nghiêng nước nghiêng thành
của thời xưa Nguyễn Du không để ý, mà ông lại quan tâm đến một cô gái bình
thường. Vấn đề là Nguyễn Du hay suy nghĩ về đời người, về lẽ sống, về nỗi đau
của người phụ nữ qua tâm trạng của chính mình.
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Tất cả những thiên tài rất dễ gặp nhau. Banzac cũng có một quan niệm tương
tự: “Rung cảm, chịu đau khổ, hy sinh, những chữ này mãi mãi dệt nên trang đời
của người phụ nữ”.
Trong “Độc Tiểu Thanh ký”, người ta nói đến chữ “độc” của Nguyễn Du:
“cô độc” là lẻ loi, đơn chiếc, chẳng muốn ai cùng chia sẻ, chỉ riêng mình gặm
nhấm nỗi đau của người bạc mệnh thương cảm dâng đầy và lien hệ với số phận
đáng thương của bản thân mình.
Đúng! Tất cả những tâm trạng lớn đều cô độc, tất cả những tài năng lớn đều
lẻ loi:
“Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất
Không có chi bạn bè nổi cùng ta”
Xuân Diệu
Nhưng đơn độc trong nghệ thuật không hoàn toàn là một cách biệt. Trong
nghệ thuật có khát vọng muốn giải bày,chia sẻ. Sức lan tỏa của các tác động thẩm
mỹ không cho phép sự đơn độc của bất kỳ ai, là sự đơn độc khép kín, cá nhân chủ
nghĩa. Ngay cả khi nhà thơ viết: “Một mình mình biết, một mình mình hay” cũng
vẫn là một trạng thái mở; khát vọng giao hòa.
“Độc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du là một giải bày oan khuất, một thương
cảm cho một cô gái tài sắc mà phải lấy lẽ, phải rơi vào cảnh:


“Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng”
Tiểu Thanh bị vợ cả hành hạ, đau đớn, ê chề. Cả cuộc đời nàng chỉ còn lại
hình bóng của chính nàng được thể hiện qua bức chân dung do một họa sĩ vẽ. Tiểu
Thanh dựng bàn thờ, treo bức chân dung đó lên thắp nhang khóc rồi chết. Bức họa
đó được chồng nàng giấu lại để tưởng nhớ bóng dáng của người xấu số.
Chịu sự chi phối của quan điểm triết học “Tài mệnh tương đố” Nguyễn Du
bắt gặp số phận của Đạm Tiên, của Kiều, của Tiểu Thanh, nhà thơ ngậm ngùi: “Ta
hiểu được oan tình của nàng, ta thương cảm số phận nàng, một người xưa của ba
tram năm trước nhưng sau này ai có thể hiểu và khóc cho ta đây”.
Khóc cho người cũng là giải nỗi sầu nhân thế cho mình, nghệ sĩ lớn là người
đau nỗi đau của cả nhân quần, là người có trái tim lớn. Nhưng cho dù trái tim nghệ
sĩ có lớn đến đâu, vẫn chưa thể cầm chắc thiên hạ thấu hết long mình nên vẫn còn
vấn hỏi:
“Ba trăm năm nữa ta đâu biết
Thiên hạ ai người khóc Tố Như”
Thương nhau, đồng cảm với nhau, dễ ai gặp trực tiếp được ai, chỉ có qua
nghệ thuật, qua trang văn, qua cái “môi trường ảo” thần diệu ấy để thế hệ này gửi
thong điệp cho thế hệ sau và ngược lại:
“Mai sau dù có bao giờ
Câu thơ thuở trước đâu ngờ hôm nay”
Tố Hữu
Chính những điều đó, văn học, nghệ thuật đáp ứng nhu cầu được sống trong
môi trường từ ảo đến thực của con người.
4.

Tính thụ động của chủ thể thưởng thức thẩm mĩ:

Chủ thể thưởng thức thẩm mỹ không thụ động tất cả mà thụ động ở giai
đoạn đầu trong tương tác của mối quan hệ và thụ động chuyển hướng tích cực từ
tình cảm thẩm mĩ:
Trong lịch sử mỹ học, mỹ học duy tâm khách quan Platông, Hêghen đều
coi ý niệm và ý niệm tuyệt đối là chủ thể của mọi hoạt động thẩm mỹ của con
người, hay nói một cách khác con người là chủ thể thẩm mỹ với tư cách là hiện
thân của “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối”. Platông coi sáng tạo nghệ thuật là hoạt


động linh cảm. Còn Hêghen coi sáng tạo nghệ thuật là sự vận động của ý niệm
tuyệt đối ở trong hoạt động tinh thần của con người. Còn mỹ học duy tâm chủ quan
của Cantơ coi hoạt động thẩm mỹ là chủ thể con người nhưng nó mang tính chủ
quan. Mỹ học duy vật trước thế kỷ XIX với khuynh hướng “vị thiên nhiên”
coi chủ thể thẩm mỹ không chỉ là con người, mà còn những động vật. VD:Tiếng
chim hót…. Lúc đầu con người chỉ tồn tại với tư cách là con người thực dụng, chỉ
biết sản xuất ra thức ăn, đồ mặc. Mặc dù con người biết sáng tạo ra công cụ lao
động, biết biến đổi hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất
tối thiểu. Phải trải qua một quá trình sáng tạo lâu dài ở con người mới hình thành
các giác quan thẩm mỹ, - tức các giác quan có khả năng thụ cảm, đánh giá và sáng
tạo thẩm mỹ. C. Mác viết: “thông qua sự phong phú, đã được phát triển về mặt vật
chất, của bản chất con người, thì sự phong phú của tính cảm giác chủ quan của con
người mới phát triển một phần thậm chí lần đầu tiên mới được sản sinh ra; lỗ tai
thính âm nhạc, con mắt nhận thấy cái đẹp của hình thức, - nói tóm lại là những cảm
giác có khả năng về sự hưởng thụ có tính chất người và tự khẳng định mình như
những lực lượng bản chất của con người”. Đôi bàn tay con người không chỉ biết
thể hiện những hoạt động bản năng sinh tồn, mà còn biết lao động; biết sáng tạo –
nhất là sáng tạo thẩm mỹ, sáng tạo nghệ thuật theo qui luật của cái đẹp. Đôi mắt
con người là “cửa sổ của tâm hồn”. Vì, không chỉ thấy mà còn để biết; không chỉ
ngắm nhìn mà còn biết khám phá, biết sáng tạo; không chỉ tiếp thu mà còn phản
ứng; không chỉ biết lựa chọn, mà còn biết vâng lời, biết từ chối… Đôi tai của con
người không chỉ nghe mà còn phải hiểu; không chỉ biết lắng nghe mà phải nghe
cho rõ; không chỉ biết khám phá, mà còn biết sáng tạo…
Chủ thể thưởng thức thẩm mĩ cần được giáo dục về mặt thẩm mỹ để có thể
thâm nhập sâu hơn vào thế giới thẩm mỹ, nhất là thế giới nghệ thuật. Một chủ thể
thưởng thức nếu được rèn luyện về mặt thẩm mỹ thì phát hiện ra đâu là những cái
đẹp cần cổ vũ, đâu là cái xấu cần xoá bỏ. Không được giáo dục thẩm mỹ về nghệ
thuật thì chủ thể tiêu thụ không có khả năng cảm thụ và đánh giá thẩm mỹ, không
thấy được giá trị nghệ thuật chân chính và phản giá trị trong nghệ thuật. Tác phẩm
nghệ thuật là khâu trung gian giữa nghệ sĩ và công chúng. Và công chúng là lẽ
sống còn của của nghệ sĩ và tác phẩm. Công chúng là người tiếp nhận hoặc chối từ
một tác phẩm nghệ thuật. Dựa vào tình cảm thẩm mĩ để cảm nhận một tác phẩm
nghệ thuật. Tình cảm thẩm mĩ là một bộ phận của tình cảm con người, là năng lực
mang tính chất người về tình yêu đối với cái đẹp và sự căm ghét đối vs cái xấu.
Vd: tình cảm của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gởi vào từng bài nhạc… Lúc đầu người
ta cấm nghe nhạc Trịnh nhưng sau đó đã có sự chuyển hướng và nhạc Trịnh được
công chúng đón nhận.


Tóm lại: Chủ thể thưởng thức thẩm mĩ không phải là một chủ thể thụ
động; nhờ những nhu cầu sống đa dạng và phong phú của nó về mặt mỹ cảm, mà
chủ thể thưởng thức thẩm mĩ trở thành một đối tượng cần được thảo mãn. Đấy
cũng là nguyện vọng buộc chủ thế sáng tạo (văn nghệ sĩ) phải chú ý đáp ứng nhu
cầu “ tiêu dùng” của họ. Sự tác động biện chứng giữa các chủ thể thẩm mĩ đã tạo
nên đời sống thẩm mỹ, đời sống nghệ thuật trong hoạt động tình cảm sâu xa của
con người.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×