Tải bản đầy đủ

Luận án tiến sĩ làng nghề truyền trống ở tỉnh nam định trong hội nhập quốc tế

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

VŨ NGỌC HOÀNG

,____________________________________________«'_______9

2_____________________

LÀNG NGHỂ TRUYỀN THỐNG ả TINH NAM ĐỊNH
TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 62 31 01 02

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS. NGÔ TUẤN NGHĨA
PGS.TS. ĐOÀN XUÂN THỦY

HÀ NỘI - 2016




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn
gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Vũ Ngọc Hoàng

Trang


DANH MỤC CÁC CHỮ VIÉT TẮT

CNH, HĐH
CN-TTCN

: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
: Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

DANIDA
GDP

: Tổ chức Hỗ trợ phát triển quốc tế đan
Mạch
: Thu nhập quốc dân

HTX

: Hợp tác xã

JICA

: Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản

KT-XH


: Kinh tế - xã hội

LN

: Làng nghề

LNTT

: Làng nghề truyền thống

NTCTT

: Nghề thủ công truyền thống

SDC

: Bộ Hợp tác phát triển Thụy Sĩ

SIDA
TCMN

: Cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế Thụy
điển
: Thủ công mỹ nghệ

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

TP

: Thành phố

TTCN

: Tiểu thủ công nghiệp

UBND

: Uỷ ban nhân dân

USD
WCCI
WTO

: Đô la Mỹ
: Hội đồng Quốc tế về nghề thủ công thế
giới
: Tổ chức thương mại thế giới

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


Các làng nghề truyền thống phân bố theo địa bàn hành chính huyện và thành phố (đến tháng
06 năm 2015)
Các làng nghề truyền thống từ năm 2010 đến tháng 06 năm 2015 Tình hình xuất khẩu sản
phẩm làng nghề truyền thống tỉnh Nam Định giai đoạn 2010Các mặt hàng xuất khẩu qua các năm của tỉnh Nam Định từ năm
Trình độ lao động trong các làng nghề truyền thống của tỉnh
2010 và 2015
Số lao động làng nghề của làng nghề truyền thống năm 2015
nghề truyền thống ở Ý Yên từ 2010-2014 Cơ cấu kinh tế theo
Cơ cấu lao động của tỉnh Vốn đầu tư cho phát triển làng nghề
Sự hình thành làng nghề vùng nông thôn

75 2015
76
79
80
83
85
86
93
94
131
22

2010-2015
Nam Định năm
Lao động ở các làng
GDP ở Nam Định


6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với đặc thù là một nước nông nghiệp, làng nghề truyền thống hiện có vị trí
quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Việc khôi phục và phát triển các làng nghề
truyền thống đang góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng tiến bộ
khoa học - kỹ thuật, huy động và khai thác tiềm năng về lao động, nguyên vật liệu và
nguồn vốn trong nhân dân để phát triển sản xuất - kinh doanh, tạo ra nhiều việc làm,
góp phần xoá đói - giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. Bên cạnh đó, phát triển các
làng nghề truyền thống đúng hướng còn tác động đến việc phân công lại lao động xã
hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao
thu nhập và đời sống người dân, hội nhập quốc tế.
Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương,
chính sách nhằm khuyến khích tạo điều kiện để các làng nghề truyền thống được
khôi phục và phát triển. Nhiều địa phương trên cả nước đã phát triển cụm công
nghiệp làng nghề, làng nghề truyền thống và làng nghề mới không chỉ phục vụ nhu
cầu trong tỉnh, trong nước mà còn vươn ra thị trường khu vực và thế giới trong điều
kiện hội nhập quốc tế hiện nay.
Nam Định là một tỉnh nằm ở phía Nam vùng Đồng bằng sông Hồng, có nhiều
làng nghề truyền thống tiểu thủ công nghiệp (TTCN); với những sản phẩm nổi tiếng
như: dệt may, nón lá, trạm khắc gỗ, cây cảnh, cơ khí đúc, sơn mài... trong đó có
những sản phẩm đã tồn tại và phát triển hàng trăm năm, được khách hàng trong và
ngoài nước ưa chuộng.
Trong những năm qua, quá trình hình thành và phát triển làng nghề truyền
thống gắn liền với quá trình phát triển nông thôn, đã góp phần tích cực vào sự nghiệp
công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn trên địa bàn tỉnh Nam Định, đời sống người
lao động từng bước được nâng cao, tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người
lao động, giảm khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giảm tỷ lệ hộ nghèo... góp
phần quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn.


7
Tuy nhiên,

trước yêu cầu của hội nhập quốc tế, thực tiễn phát triển làng

nghề truyền thống tỉnh Nam Định hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, phải đối mặt nhiều
khó khăn thách thức như:
-

Làng nghề truyền thống phát triển chưa bền vững, đa số vẫn là sản xuất nhỏ,
năng lực trình độ quản lý kinh doanh các chủ hộ, cơ sở sản xuất còn hạn chế.

-

Người sản xuất trong các làng nghề truyền thống ở Nam Định khó tiếp cận
những khoản vay ưu đãi để phát triển sản xuất, thiếu đội ngũ lao động có tay
nghề cao, thiếu vốn để đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị máy móc nhằm nâng
cao sản lượng, chất lượng sản phẩm.

-

Chủng loại sản phẩm tuy đa dạng nhưng chất lượng chưa cao, sản phẩm

đạt trình độ tinh xảo còn ít, chưa có sản phẩm mang tính chủ lực mũi nhọn của địa
phương. Việc tiêu thụ sản phẩm còn bị động, các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu vẫn
chủ yếu phải qua khâu trung gian. Vai trò của các công ty, doanh nghiệp chưa phát
huy hết hiệu quả. Mặt khác, với yêu cầu hội nhập ngày càng sâu rộng trong thời gian
tới các sản phẩm làng nghề truyền thống Nam Định sẽ phải cạnh
với

sản phẩm

tranh gay

gắt

cùng loại tại thị trường trong nước, thị

trường khu vực và thị trường quốc tế.
-

Hơn nữa, môi trường trong các làng nghề truyền thống ở Nam Định hiện nay
bị ô nhiễm nghiêm trọng điển hình là tại các làng nghề như: Vân Chàng, xã
Nam Giang, Làng Phượng, xã Nam Dương; làng nghề Phong Lộc, phường
Cửa Nam; làng nghề Cổ Chất, xã Phương Định; làng nghề cơ khí Bình Yên,
xã Nam Thanh; làng nghề tái chế nhựa Vô Hoạn - xã Nam Mỹ; làng nghề sản
xuất hoa nhựa Báo Đáp - xã Hồng Quang và làng nghề sơn mài, tre nứa ghép
xã Yên Tiến...

-

Sức ép của xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa trong điều kiện cách mạng
khoa học và công nghệ có thể bóp chết làng nghề truyền thống.

-

Không những thế vấn đề bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống chưa
được quan tâm đúng mức của các cấp chính quyền nên một số nghề, làng
nghề đang có nguy cơ mai một, thất truyền khi các nghệ nhân cao tuổi không
còn nữa.


8
Nếu những hạn chế nêu trên tiếp tục kéo dài, các làng nghề truyền thống ở tỉnh Nam
Định sẽ không những không phát huy được tiềm năng, thế mạnh, mà thậm chí
còn làm cho các nghề truyền thống bị mai một, nếu điều này xảy ra sẽ ảnh hưởng
nghiêm trọng tới kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương nhất là khu vực nông thôn.
Vì thế nghiên cứu, đánh giá tìm ra câu trả lời về xu hướng mới cho phát triển làng
nghề truyền thống ở Nam Định là vấn đề cấp thiết hiện nay. Với ý nghĩa đó, chủ đề:
"Làng nghề truyền thống ở tỉnh Nam Định trong hội nhập quốc tế" được chọn
làm để tài luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành kinh tế chính trị.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu làm rõ những cơ sở lý luận cơ bản về
làng nghề truyền thống trong hội nhập quốc tế, đánh giá thực trạng làng nghề truyền
thống tỉnh Nam Định thời gian qua và đề xuất giải pháp phát triển trong xu thế hội
nhập quốc tế thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về làng nghề truyền
thống trong hội

nhập quốc tế, đặc biệt nêu bật những vai trò, nhân tố tác động

mới của các làng nghề truyền thống trong hội nhập quốc tế.
Thứ hai: Nghiên cứu kinh nghiệm một số địa phương ở Việt Nam về phát
triển làng nghề truyền thống trong hội nhập quốc tế và rút ra những bài học cho tỉnh
Nam Định.
Thứ ba: Nghiên cứu thực trạng làng nghề truyền thống ở tỉnh Nam Định trong
quá trình hội nhập quốc tế từ giai đoạn 2010 - 2015, chỉ rõ các thế mạnh, những hạn
chế của làng nghề truyền thống ở tỉnh Nam Định trước yêu cầu mới của hội nhập
quốc tế hiện nay.
Thứ tư: Đề xuất

các giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy sự phát triển làng

nghề truyền thống ở Nam Định đáp ứng yêu cầu mới của hội nhập quốc.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là làng nghề truyền thống với tư cách là


9
một hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đặc thù trong kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
-

Về nội dung: làng nghề truyền thống là vấn đề có phạm vi rộng, bao hàm
nhiều phương diện. Luận án chủ yếu tập trung làm rõ dưới góc độ kinh tế
chính trị đặc điểm và vai trò của làng nghề truyền thống với tư cách là loại
hình tổ chức sản xuất kinh doanh truyển thống của một số địa phương tại các
nước đang phát triển, vận động và phát triển trong điều kiện hội nhập quốc tế.

-

Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu các làng nghề truyền thống đã
được hình thành, đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Nam Định hiện nay.

-

Về thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng
làng nghề truyền thống ở Nam Định từ năm 2010 đến 2015 và đề xuất giải
pháp phát triển các làng nghề truyền thống của tỉnh Nam Định đến năm 2025,
tầm nhìn đến năm 2035.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài luân án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng
thời tiếp thu, kế thừa phương pháp luận nghiên cứu kinh tế hiện đại.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
-

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như trừu tượng hoá khoa
học, phương pháp lôgic và lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh,
thống kê. Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng phương pháp khảo sát thực tế,
phỏng vấn sâu trong quá trình nghiên cứu làm rõ chủ đề chính của luận án.
Chương 1: Sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích để đánh giá quan

điểm của các học giả và trường phái lý luận về vấn đề nghiên cứu, từ đó rút ra những
vấn đề đã được nghiên cứu đầy đủ và các vấn đề cần nghiên cứu bổ sung và nghiên
cứu mới.
Chương 2:
những khái

Sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để rút ra

niệm cơ bản như làng nghề, làng nghề truyền thống và luận giải


1
0
những vấn đề lý luận cơ bản về đặc điểm, vai trò, nhân tố ảnh hưởng đến làng nghề
truyền

thống trong hội nhập quốc tế. Đồng thời sử dụng phương pháp

nghiên cứu đánh giá thực tiễn phát triển làng nghề truyền thống của một số địa
phương để rút ra bài học cho tỉnh Nam Định.
Chương 3: Sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, nhằm
làm rõ thực trạng làng nghề truyền thống tỉnh Nam Định trong hội nhập quốc tế, rút
ra những kết quả tích cực, hạn chế chủ yếu và nguyên nhân.
Chương 4: Sử dụng phương pháp khái quát hóa những vấn đề đã nghiên cứu
ở chương hai và chương ba cùng với đánh giá dự báo về bối cảnh và nhu cầu thị
trường quốc tế về sản phẩm làng nghề truyền thống để rút ra những phương hướng
và giải pháp phát triển làng nghề truyền thống tỉnh Nam Định trong xu thế hội nhập
quốc tế thời gian tới.
5. Những đóng góp về khoa học
-

Làm rõ vai trò mới của làng nghề truyền thống trong hội nhập quốc tế là vừa
góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, vừa thúc đẩy xuất khẩu và phát
triển du lịch quốc tế.

-

Phân tích, đánh giá thực trạng làng nghề truyền thống tỉnh Nam Định trong
hội nhập quốc tế giai đoạn 2010 - 2015; chỉ ra những thành công, hạn chế và
nguyên nhân. Những hạn chế chủ yếu bao gồm: phát triển tự phát, chưa được
nhà nước định hướng và hỗ trợ có hệ thống; sản phẩm làng nghề truyền thống
(LNTT) có chất lượng chưa cao, chưa có thương hiệu hàng hóa, mẫu mã, kiểu
dáng chậm thay đổi, sức cạnh tranh kém, tỷ lệ hàng xuất khẩu còn thấp; du
lịch làng nghề chưa phát triển; ô nhiễm môi trường ở một số LNTT đã đến
mức nghiêm trọng.

-

Đề xuất giải pháp phát triển làng nghề truyền thống tỉnh Nam Định đến

năm 2025 và tầm nhìn 2035 bao gồm hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch phát triển; Tạo
nguồn vốn cho phát triển sản xuất; Khuyến khích mở rộng và phát triển thị trường
tiêu thụ sản phẩm; Kết hợp các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh Khuyến khích
và hỗ trợ đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực; Khuyến khích phát
làng nghề

triển

truyền thống gắn với du lịch lữ hành; Xây dựng

thương hiệu sản phẩm, thương hiệu làng nghề truyền thống.


1
1
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung luận án gồm 4 chương, 12 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐÉN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRONG HỘI NHẬP QUỐC TÉ
Làng nghề truyền thống, ngành nghề ở nông thôn là những nguồn lực còn nhiều
tiềm năng của đất nước. Việc nghiên cứu phát triển làng nghề, làng nghề truyền
thống, ngành nghề ở nông thôn và phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hội
nhập quốc tế có ý nghĩa thực tiễn quan trọng và đã được nghiên cứu, thảo luận tại
nhiều công trình hội thảo, hội nghị ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các công trình
đó được thể hiện dưới hình thức chuyên khảo, bài báo trên các tạp chí chuyên ngành.
Tiêu biểu là nhóm công trình cụ thể như:
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI CÓ LIÊN QUAN ĐÉN LÀNG
NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRONG HỘI NHẬP QUỐC TÉ

- “Ứng dụng khoa học và công nghệ vào phát triển các làng nghề ” của Trung
tâm Khoa học Công nghệ của các Quốc gia không liên kết và đang phát triển [68] đã
báo cáo kinh nghiệm của Chính phủ Ethiopia trong việc chú trọng đến nâng cấp, hiện
đại hóa tân trang kết cấu hạ tầng giúp các làng nghề phát triển, theo các tác giả tám
mươi ba phần trăm người dân Ethiopia sống ở các vùng nông thôn và kế sinh nhai
xuất phát từ nông nghiệp. Chính phủ Ethiopia đã thông qua chiến lược công nghiệp
hoá phát triển nông nghiệp, đóng vai trò làm khung cho quy hoạch đầu tư nông thôn
trong các lĩnh vực: cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội, nghiên cứu và mở rộng. Kế hoạch
phát triển bền vững và nhanh chóng để chấm dứt đói nghèo: 70% người dân nông
thôn được tổ chức theo hợp tác xã, 200 điểm cung cấp thông tin thị trường cấp huyện
và 20 trung tâm đầu cuối ở vùng sâu vùng xa của Ethiopia đã được dựng lên; 25
trung tâm giáo dục và đào tạo nghề ra đời; 55.000 công nhân được đào tạo; 18.000
trung tâm đào tạo cho nông dân được lập lên; 10 triệu người được đào tạo; làm giảm
khoảng cách đi bộ trung bình trên mỗi con đường xuống còn 3,2 giờ; 8 triệu đường


1
2
dây điện thoại (cố định, không dây và di động) và tăng dịch vụ ITC.
Việc mở rộng cơ sở hạ tầng này thực hiện theo cấp số nhân. Thay đổi cách sống
của người nông thôn, đặc biệt là bằng cách giúp họ có thể sử dụng được các thiết bị
máy móc hiện đại và kết nối họ với thế giới hiện đại (radio và TV).
- "Ly nông, bất ly hương, làm thủ công tại làng" của tác giả Đặng Nguyên Anh,
Hoàng Xuân Thành [2] đã báo cáo thành quả của một dự án nghiên cứu với sự hỗ trợ
tài chính của Tổ chức Hỗ trợ phát triển quốc tế đan Mạch (DANIDA), cơ quan Hợp
tác phát triển quốc tế Thụy điển (SIDA) và Bộ Hợp tác phát triển Thụy Sĩ (SDC).
Các tác giả chỉ rõ: Mối liên kết giữa các trung tâm đô thị và các vùng nông thôn được
phản ánh bằng mối quan hệ dân số, lưu thông hàng hoá, tiền tệ và thông tin. Liên kết
nông thôn - thành thị có ý nghĩa quan trọng đối với sự tăng trưởng
tế

địa phương,

sự tiếp cận đến thị trường thành thị

kinh
có ý

nghĩa sống còn đối với người sản xuất nông sản. Trong khi đó nhiều doanh
nghiệp ở thành phố tồn tại và phát triển trên nhu cầu khách hàng nông thôn. Liên kết
nông thôn - thành thị còn đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xóa đói giảm
nghèo ở nhiều vùng nông thôn. Các nông hộ thường kết hợp các nguồn thu nhập từ
các hoạt động phi nông nghiệp. Bên cạnh đó những người thân đi ra thành phố làm
ăn có thể gửi tiền về cho gia đình để đầu tư vào sản xuất, cung cấp thông tin thị
trường. Với nhóm người nghèo, tiền gửi về có thể giúp họ trang trải các chi phí hàng
ngày về ăn, mặc, học hành, sức khỏe và trang trải nợ nần.
Ngoài ra tiềm năng liên kết nông thôn - thành thị đối với phát triển kinh tế và
xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam đã được thể hiện trong các kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành trong chiến lược toàn diện về tăng trưởng và
xóa đói giảm nghèo. Phát triển nông nghiệp và nông thôn thông qua thâm canh sản
xuất, đa dạng hoá nông nghiệp cùng với việc thúc đẩy thương mại trong nước và tiếp
cận thị trường

quốc tế vẫn là những mục tiêu hàng đầu

trong chính sách. Tuy nhiên, do dân số tăng và quỹ đất có hạn nên sản xuất nông
nghiệp không thể thu hút thêm được lao động. Chiến lược hành động là chú trọng
đẩy mạnh các ngành nghề phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn. Việc khai thác hết
tiềm năng của liên kết nông thôn - thành thị phụ thuộc nhiều vào sự phối hợp giữa


1
3
các ngành, các cấp điạ phương.
Như vậy mục tiêu chính của báo cáo này nhằm:
+ Tìm hiểu chiến lược sinh kế dựa trên mối liên kết nông thôn - thành thị của
các nhóm nông hộ, sự biến đổi trong 15 - 20 năm qua và các yếu tố ảnh hưởng đến
chiến lược sống của hộ gia đình làm nghề thủ công ở nông thôn.
+ Gợi ý một số định hướng chính sách ở các cấp địa phương và quốc gia nhằm
phát huy vai trò của liên kết nông thôn - thành thị trong sự nghiệp phát triển kinh tế
và xoá đói giảm nghèo ở địa phương, tránh hiện tượng di cư ra thành phố.
Dưới sự tài trợ của quỹ Rockefeller, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Cộng
đồng (Trung Quốc) đã nghiên cứu về việc thương mại hóa nghề thủ công ở tỉnh Vân
Nam. Mục đích của dự án là cải thiện thu nhập của phụ nữ ở huyện miền núi
Malutang bằng cách thương mại hóa sản phẩm thêu truyền thống. Đầu tiên, họ triển
khai thu thập toàn bộ mẫu thêu truyền thống và thay đổi sao cho phù hợp với thị hiếu
của người tiêu dùng hiện nay. Sau đó, những người phụ nữ tham gia dự án sẽ được
huấn luyện kỹ thuật gia công, tạo mẫu để có thể sản xuất ra những sản phẩm chất
lượng cao và tiêu thụ tốt trên thị trường. Cuối cùng, dự án đưa ra khung chi phí hợp
lý về sản phẩm do những người tham gia dự án thực hiện; bao gồm: số lượng nguyên
vật liệu, thời gian và giá cả có thể tạo thu nhập cao. Dự án thành công và được
chuyển giao đến những huyện vùng núi khác ở tỉnh Vân Nam. Làng Malutang trở
thành một địa phương nổi tiếng về mặt hàng thêu truyền thống.
-

Trở lại lịch sử trên thế giới, từ những năm đầu của thế kỷ XX cũng đã xuất
hiện những công trình nghiên cứu có liên quan đến làng nghề như: “Nhà máy
làng xã” của Bành Tử [70]; “Mổ hình sản xuất làng xã" [42] và “Xã hội hóa
làng thủ công” của N.H.Noace [43]. Năm 1964, tổ chức WCCI được thành
lập, hoạt động phi lợi nhuận
quốc

gia có nghề



lợi ích chung

của các

thủ công

truyền thống.
-

"Rosearch on Tourism Developmment of Traditional Villaget and the Change
of Form" (Nghiên cứu phát triển du lịch của làng nghề truyền thống và các
thay đổi hình mẫu) của G.Michon và F. Mary [90] nghiên cứu nội dung


1
4
chuyển đổi khu vườn LNTT và chiến lược kinh tế mới của các hộ gia đình
nông
thôn trong khu vực Bogor, Indonesia. Từ đó, tạo bước đệm để phát triển các làng
nghề nơi

đây gắn liền với hình thái du lịch sinh thái kết hợp với khu vườn

LNTT, góp phần cải thiện thu nhập và tình hình kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn
ở Indonesia.
-

"To Establish a Protection System for China’s Famous Villages of

Historic and Cultural Interest" (Để thiết lập một hệ thống bảo vệ Làng lịch sử và văn
hóa của Trung Quốc) của tác giả Liu Peilin [91] đã cho rằng nên thành lập một hệ
thống bảo vệ cho “Làng nổi tiếng của Trung Quốc tham quan lịch sử văn hóa”.
Trong các di sản lịch sử và văn hóa của thế gới, những ngôi làng cổ xưa của Trung
Quốc chiếm một vị trí quan trọng. Ở Trung Quốc, số lượng LNTT là rất lớn, phân bố
rộng rãi và có giá trị lịch sử cao, được ví như “ngọc trai của văn hóa truyền thống”
và “bảo vật quốc gia của bộ sưu tập dân gian”. Tuy nhiên, việc bảo tồn và phát triển
chưa thỏa đáng. Do đó việc cấp thiết trước mắt là lựa chọn và quyết định một
làng

cổ đại diện

chi nghiên

số

cứu hộ ngay lập tức và

bảo vệ đặc biệt như “ngôi làng nổi tiếng lịch sử văn hóa của Trung Quốc ”.
Nghiên cứu này xem xét lại các quan niệm về ý tưởng về một hệ thống bảo vệ và
thảo luận về các điều kiện để chấp thuận tình trạng, nội dung, nguyên tắc, phương
pháp và biện pháp bảo vệ cũng như định hướng trong khai thác và phát triển của
chúng. Hệ thống bảo vệ sẽ đóng vai trò tích cực trong việc bảo tồn hiệu quả cảnh
quan và văn hóa cổ đại.
-

"Persistence and Tranformation of Chinese Traditional Villages - Rethinkinh
the Planning of Traditional Settlemetnts" (Sự kiên trì và phát triển của Trung
Quốc về truyền thống làng - Xem xét lại Quy hoạch khu định cư truyền thống)
của MA Hang [92] đã nghiên cứu vấn đề kiên trì và chuyển đổi của làng nghề
truyền thống Trung Quốc đồng thời xem xét lại các kế hoạch của khu định cư
truyền thống. Tác giả đã tiến hành trình bày các ký tự quy hoạch không gian
cơ bản của ngôi làng cổ của Trung Quốc, bài báo tập trung vào phân tích cơ
bản các yếu tố xã hội, văn hóa, và tự nhiên. Tuy nhiên trong quá trình đô thị


1
5
hóa và toàn cầu hóa. Biến đổi sắc bén của cơ cấu kinh tế mang lại tác động
tiêu cực đến phát triển làng nghề truyền thống ở Trung Quốc. Vì vậy, tác giả
đã nghiên cứu và chỉ ra được năm khía cạnh giá trị của các làng nghề truyền
thống của Trung Quốc cần được gìn giữ và bảo tồn, để hướng tới khôi phục và
phát triển làng nghề truyền thống ở Trung Quốc hiện nay.
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LÀNG
NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Các công trình liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án ở trong nước có
rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau và
hướng giải quyết các mục tiêu khác nhau đối với làng nghề truyền thống nói chung ở
Việt Nam được chia thành các nhóm cụ thể như sau:
* Các công trình nghiên cứu về thủ công nghiệp, nghề cổ truyền và vấn đề
môi trường gắn với các làng nghề:
-

“Phát triển tiểu thủ công nghiệp trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần ở đô thị Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Hữu Lực [38] đã lược thuật
khái niệm tiểu, thủ công nghiệp, làm rõ vị trí, vai trò và một số đặc điểm của
TTCN ở đô thị trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Đồng thời, khái
quát tình hình và kinh nghiệm phát triển TTCN của một số nước trên thế giới,
từ đó rút ra những kết luận về phát triển TTCN ở nước ta và đề ra những giải
pháp khả thi nhằm phát triển TTCN ở đô thị nước ta trong thời gian tới.

-

“Về các giải pháp phát triển thủ công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng” của Đặng Lê Nghị [41] đã tập
trung phân tích làm rõ về đặc
của

thủ

điểm,

tính chất,

vai trò lịch sử

công

nghiệp và đánh giá một cách sát thực thực trạng thủ công nghiệp làm chủ nhiệm. Đề
tài đã tập trung phân tích làm rõ về đặc điểm, tính chất, vai trò lịch sử của thủ công
nghiệp và đánh giá

một

cách sát thực

thực trạng thủ công

nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng với số liệu tương đối phong phú. Từ những vấn
đề đặt ra mà thủ công nghiệp đồng bằng sông Hồng phải giải quyết, đề tài đã đưa ra 9
điểm giải pháp cơ bản để phát triển thủ công nghiệp đồng bằng sông Hồng thời gian


1
6
tới.
-

Các công trình: “Nghề cổ truyền nước Việt” của Vũ Từ Trang [66]; "Làng
nghề thủ công truyền thống Viêt Nam" của Bùi Văn Vượng [88]. Các tác giả
đã

đề cập một

cách tổng quát về các nghề và làng nghề

tiêu biểu của Việt Nam

trong quá khứ cũng như hiện tại. Đồng thời trong đó các tác giả cũng thể hiện sự trăn
trở về nghề thủ công Việt Nam đứng trước sự thăng trầm của lịch sử.
- “Nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng công
nghiệp hóa nông thôn Việt Nam” của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn [11]
đã xác định làng nghề Việt Nam dựa theo 2 tiêu chí: (I) Có trên 20% số hộ trong làng
tham gia sản xuất thủ công, (II) chính quyền xã công nhận nghề thủ công đó có ý
nghĩa quan trọng đối với làng. Đóng góp có ý nghĩa phương pháp luận của công trình
là sử dụng phương pháp nghiên cứu thu thập tài liệu. Thông qua tiến hành điều tra
theo 3 mẫu phiếu trên 9.400 xã tại 61 tỉnh thành. Thời gian điều tra từ tháng 3 đến
tháng 6 năm 2002. Mẫu 1 xác định các thông tin cơ bản về từng xã, từng làng nghề.
Mẫu 2 thu thập các thông tin chi tiết về từng làng nghề được điều tra. Mẫu 3 làm rõ
hoạt động của các doanh nghiệp và các hợp tác xã sản xuất và kinh doanh hàng thủ
công trên địa bàn các xã. Tiến hành các dự án thí điểm song song với nghiên cứu, tổ
chức 7 cuộc hội thảo, thảo luận theo chuyên đề để nâng cao nhận thức các tổ chức, cá
nhân có liên quan. Tổ chức các cuộc thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam. Lựa
chọn thực hiện dự án thí điểm tại 4 tỉnh, đại diện 3 miền Bắc, Trung, Nam và khu
vực miền núi. Nghiên cứu công phu về quy hoạch tổng thể, phát triển ngành nghề
nông thôn Việt Nam và kết quả đạt được.
+ Lập bản đồ ngành nghề thủ công trên toàn quốc.
+ Phân bổ các làng nghề tại vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Tây Bắc, đông
Bắc, Nam Trung Bộ, đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long.
+ Đánh giá hiện trạng các mặt hàng thủ công như: Cói, sơn mài, chạm khắc đá,
nghề làm giấy dó, nghề in tranh bản gỗ... Thông tin chung cho từng ngành nghề.
+ Đánh giá hiện trạng các vấn đề nguyên liệu, điều kiện làm việc, tài chính vốn.
+ Đặc biệt,

đặt vấn đề hỗ trợ của chính phủ cho sản xuất nghề thủ công


1
7
truyền thống của đồng bào vùng dân tộc thiểu số. Sự hỗ trợ trên các phương diện: hỗ
trợ trực tiếp vốn; hỗ trợ gián tiếp về thực hiện thương mại bình đẳng,
năng lực quản lý kinh doanh.
+ Sơ đồ hóa các ban, ngành, tổ chức có liên quan trong lĩnh vực ngành nghề thủ
công Việt Nam.
Với số liệu khảo sát công phu, công trình đã đưa ra được những mục tiêu khá
chi tiết và cơ chế thực thi quy hoạch tổng thể ngành nghề thủ công Việt Nam theo
hướng CNH. “Quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng công nghiệp
hóa nông thôn ở Việt Nam” năm 2002, được coi là cơ sở cung cấp số liệu về làng
nghề cho các công trình nghiên cứu sau này.
-

“Làng nghề Việt Nam và môi trường” của Đặng Kim Chi [14] đã nghiên cứu
cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp
giải quyết vấn đề môi trường ở các làng nghề Việt Nam. Đề tài đã làm rõ hiện
trạng kinh tế - xã hội các làng nghề Việt Nam; hiện trạng môi trường các làng
nghề; ảnh hưởng đối với sự phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường làng nghề
Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá thực trạng đề tài đã dự báo xu hướng phát triển
và mức độ ô nhiễm môi trường do hoạt động của các làng nghề; nghiên cứu
xây dựng một số chính sách bảo đảm phát triển và cải thiện môi trường cho
làng nghề.

-

“Tác động xã hội và môi trường của việc phát triển làng nghề ” của Vũ Tuấn
Anh, Nguyễn Thu Hòa [3] đã trình bày một cách tổng quan những xu hướng
phát triển các nghề phi nông nghiệp và các làng nghề ở nông thôn Việt Nam.
Phân tích

những đặc điểm và tác động của sự phát triển làng nghề phi

nông nghiệp và các làng nghề đối với những thay đổi về kinh tế, xã hội và môi
trường, đặc biệt là tác động đối với nhóm những hộ nghèo ở nông thôn. Trên cơ sở
phân tích đó, đề xuất những kiến nghị về việc phát triển và quản lý các nghề phi
nông nghiệp và các làng nghề nhằm mục đích giảm nghèo nói riêng, cũng như đảm
bảo sự phát triển nông thôn Việt Nam.
Cùng chủ đề này còn có một số công trình: “Môi trường các làng nghề” Kỷ của
Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường [8]; “Phát triển tiểu thủ công nghiệp nông


1
8
thôn vùng đồng bằng sông Hồng” của Nguyễn Thị Hiền [33]; “Làng nghề công
nghiệp - thủ công nghiệp với vấn đề giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo ở
Nam Định” của Nguyễn Xuân Bách [4]; “Tình trạng ô nhiễm không khí, đất, nước ở
các làng nghề và tác động của nó đến môi trường sống và sức khỏe cộng đồng” của
Nguyễn Trí Tiến [61].
* Các công trình nghiên cứu về tình hình sản xuất và kinh doanh của làng
nghề và làng nghề truyền thống
- Nhóm các công trình sách nghiên cứu
+ “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở vùng ven thủ đô Hà Nội” của Mai Thế Hởn [36] đã đi sâu phân tích đánh
giá tiềm năng, thực trạng của việc phát triển làng nghề truyền thống cả những mặt
được và chưa được, cũng như vấn đề bức bách đặt ra cần giải
quyết như: Chủ trương, chính sách và luật pháp; vốn đầu tư cho sản xuất; vấn đề môi
trường; về thị trường và tiêu thụ sản phẩm; về trình độ quản lý của người lao động.
Công trình này đã đề xuất được những phương hướng và giải pháp phát triển LNTT
vùng ven thủ đô Hà Nội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH).
+ “Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa” của
Dương Bá Phượng [45] đã đề cập những vấn đề chung về làng nghề, vai trò tác động
và những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của làng nghề. Đồng thời, đi sâu phân
tích thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh của các làng nghề về lao động, vốn,
công nghệ, thị trường tiêu thụ của sản phẩm và môi trường trong các làng nghề. Các
quan điểm và phương hướng bảo tồn, phát triển các làng nghề trong quá trình CNH,
HĐH nông thôn mang tính khả thi cao và sát thực với thực tế.
+ “Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của
làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ đến năm 2010” của Trần Công Sách [46] đã luận
giải khá rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của LNTT và vai trò của các
chính sách, giải pháp tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế để phân tích, đánh giá thực trạng phát triển và tác động
của các chính sách và giải pháp của Nhà nước để tiêu thụ sản phẩm LNTT ở Bắc Bộ.
Đánh giá đúng mức độ ảnh hưởng của yếu tố công nghệ đến kết quả sản xuất kinh


1
9
doanh. Đề xuất phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới hoàn thiện chính sách
nhằm tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ đến năm 2010.
+ “Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của làng nghề mới gắn với chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng
bằng sông Hồng” của Nguyễn Tấn Trịnh [67] đã tập trung đi sâu phân tích thực
trạng quá trình hình thành và phát triển các làng nghề mới, gắn với quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đồng bằng sông Hồng; nhất là quá trình hình thành
làng nghề mới và điều kiện sản xuất kinh doanh, kết quả sản xuất kinh doanh. Sự tác
động của làng nghề mới đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Đồng thời, tác
giả đề xuất những kiến nghị, phương hướng và giải pháp, chính sách thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và phát triển làng nghề mới vùng đồng bằng
sông Hồng.
+ “Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Trần Minh Yến [89] đã hệ thống những vấn đề
lý luận cơ bản về làng nghề truyền thống ở nông thôn theo những quan điểm của
khoa học kinh tế chính trị Mác-Lênin và đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt
Nam và làm rõ vai trò của làng nghề truyền thống ở nông thôn để phân tích thực
trạng và động thái phát triển của các làng nghề truyền thống ở nông thôn từ khi đổi
mới đến 2003. Khái quát xu hướng vận động của LNTT dưới tác động của quá trình
CNH, HĐH nhằm xây dựng những quan điểm và đề xuất những giải pháp cơ bản để
phát triển LNTT ở nông thôn trước yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế.
+ “Phát triển bền vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
” của Bạch Thị Lan Anh [1] đã nghiên cứu lý thuyết phát triển bền vững, luận án đã
đưa ra kết luận phát triển bền vững làng nghề truyền thống phải đảm bảo kết hợp các
nội dung phát triển bền vững về kinh tế với xã hội và môi trường phát triển bền vững
làng nghề truyền thống đặt trong quy hoạch triển bền vững nông thôn và vùng kinh
tế. Đồng thời xây dựng các tiêu chí phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên
các mặt: tăng trưởng kinh tế ổn định, tiến bộ và công bằng xã hội, khai thác tối đa
các nguồn lực, sử dụng hợp lý tiết kiệm tài nguyên bảo bệ môi trường và nâng cao


2
0
chất lượng cuộc sống.
Đề xuất kết quả rút ra từ kết quả nghiên cứu của luận án như sau:
-

Đề xuất quan điểm, định hướng và hệ thống đồng bộ 9 giải pháp để giải quyết
mâu thuẫn giữa sản xuất, hiệu quả xã hội và môi trường trong các làng nghề
truyền thống đảm bảo phát triển bền vững làng nghề truyền thống.

-

Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực đã chỉ ra hướng kết hợp với trường Đại học
Sư phạm kỹ thuật TW sẽ tạo nguồn lực dồi dào với chi phí thấp trong sáng tạo
mẫu thiết kế cho các làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ.

-

Xây dựng định hướng về chiến lược cạnh tranh các sản phẩm làng nghề
truyền thống tập trung khâu thiết kế. Tăng cường mối quan hệ các trường đào
tạo chuyên ngành mỹ thuật với các làng nghề truyền thống.
+ “Làng nghề truyền thống phục vụ du lịch ở tỉnh Thừa Thiên Huế” của

Nguyễn Lê Thu Hiền năm 2014 [31] đã hệ thống, làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò
làng nghề truyền thống phục vụ du lịch trong điều kiện mới của đất nước và thế giới,
xây dựng các tiêu chí và các nhân tố ảnh hưởng đến làng nghề truyền thống phục vụ
du lịch và nghiên cứu đánh giá thực trạng làng nghề truyền thống phục vụ du lịch ở
tỉnh Thừa Thiên Huế, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và một số giải pháp để
khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống phục vụ du lịch của địa phương đến
năm 2020.
+ “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa” của Mai Thế Hởn và các cộng sự [36] đã tập trung nghiên cứu làm rõ phạm trù
làng nghề truyền thống, đặc điểm hình thành và vị trí, vai trò của LNTT đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội qua các thời kỳ lịch sử; đồng thời, đi sâu phân tích những
kinh nghiệm phát triển LNTT tiểu thủ công nghiệp của một số nước và rút ra bài học
quý báu mà Việt Nam cần quan tâm; đánh giá tiềm năng, thực trạng của việc phát
triển LNTT trong những năm đổi mới và những hạn chế, thiếu sót cần khắc phục các
tác giả đã. Đưa ra những phương hướng và đề xuất những giải pháp đồng bộ, xác
thực nhằm phát triển mạnh mẽ LNTT bao gồm: Giải pháp lập quy hoạch, kế hoạch
phát triển LNTT; giải pháp mở rộng và phát triển đồng bộ các loại thị trường cho
LNTT; giải pháp đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong


2
1
LNTT; giải pháp chuyển giao công nghệ thích hợp và đổi mới công nghệ cho LNTT;
giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý và nâng cao tay nghề cho người lao
động của các làng nghề.
+ “Phát triển thị trường cho làng nghề tiểu thủ công nghiệp vùng đồng bằng
sông Hồng trong giai đoạn hiện nay”, của Trần Văn Chử [19] đã hệ thống và làm rõ
vị trí, vai trò của làng nghề tiểu thủ công nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến sự
phát triển thị trường của làng nghề tiểu thủ công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng;
đánh giá tiềm năng, xu hướng phát triển và thực trạng của làng nghề tiểu thủ công
nghiệp, đồng thời nêu lên những khó khăn vướng mắc về thị trường của làng nghề
tiểu thủ công nghiệp vùng nồng bằng sông Hồng. Đề tài xác định rõ phương hướng
phát triển và các giải pháp để mở rộng thị trường cho làng nghề tiểu thủ công nghiệp
vùng đồng bằng sông Hồng theo hướng CNH, HĐH đất nước.
+ “Những giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở một số tỉnh đồng bằng sông
Hồng” của Nguyễn Trí Dĩnh [22] đã tập trung làm rõ những lý luận cơ bản về làng
nghề,

từ khái niệm, tiêu chí để phân

loại và đặc điểm của làng nghề

truyền thống trong nền kinh tế thị trường, đi sâu phân tích vai trò của làng nghề và
những nhân tố tác động đến sự phát triển của làng nghề. Dựa trên cơ sở chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển làng nghề, đề tài đã đi sâu khảo sát,
đánh giá thực trạng phát triển làng nghề ở đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đổi
mới từ 1986 đến 2005. Từ đó, đề xuất hệ quan điểm và các giải pháp chủ yếu phát
triển kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh và tính hiệu quả của các làng nghề ở một số
tỉnh đồng bằng sông Hồng.
+ “Xây dựng và phát triển mô hình làng nghề du lịch sinh thái tại một số tỉnh
đồng bằng bắc Bắc Bộ” của Hoàng Văn Châu [15] đã làm rõ được khái niệm về làng
nghề, làng nghề du lịch. Nêu bật tiềm năng về làng nghề du lịch và sự cần thiết phải
phát triển mô hình làng nghề du lịch tại một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ cả những mặt
được và chưa được; đã trình bày rõ quan điểm và mục tiêu phát triển làng nghề du
lịch trong những năm tới để đưa ra giải pháp và kiến nghị đối với các cơ quan hữu
quan nhằm phát triển mô hình làng nghề du lịch. Đặc biệt là trong công trình các tác
giả đã đề xuất phương án xây dựng các tour du lịch hợp lý và hiệu quả nhất để thu


2
2
hút khách du lịch đến với các làng nghề.
+ “Xây dựng thương hiệu sản phẩm làng nghề truyền thống ở đồng bằng sông
Hồng hiện nay ” của Nguyễn Vĩnh Thanh [55] đã tập trung luận giải vai trò của
thương hiệu đối với việc phát triển sản phẩm làng nghề truyền thống vùng đồng bằng
sông Hồng trong nền kinh tế thị trường hội nhập hiện nay trên các khía cạnh: Thương
hiệu và phân loại thương hiệu; vai trò và chức năng của thương hiệu; quan hệ thương
hiệu - sản phẩm trong nền kinh tế thị trường và sự cần thiết phải xây dựng thương
hiệu cho sản phẩm làng nghề truyền thống. Đánh giá thực trạng vấn đề xây dựng
thương hiệu sản phẩm làng nghề truyền thống ở đồng bằng sông Hồng, trong đó có
vấn đề nhận thức của làng nghề về thương hiệu, chiến lược phân phối và quảng bá
thương hiệu. Từ thực trạng vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm làng nghề, đề tài
đã đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng thương
hiệu sản phẩm của làng nghề ở vùng đồng bằng sông Hồng trong thời gian tới.
+ “Một số giải pháp phát triển bền vững làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước ”
của Lê Đức Viên, Võ Thị Phương Ly [85] đã nêu sơ lược quá trình hình thành của
làng nghề; vài nét về thực trạng trong đó có phân tích kết quả sản xuất kinh doanh,
lao động và thu nhập, nguồn nguyên liệu, sản phẩm, thị trường tiêu thụ, những chính
sách hỗ trợ của nhà nước và phân tích hạn chế và nguyên nhân; cuối cùng khuyến
nghị một số giải pháp phát triển mang tính đột phá.
+ “Làng nghề truyền thống đồng bằng sông Hồng sau khi Việt Nam gia nhập
tổ chức thương mại thế giới” của Vũ Thị Thoa [58] đã phân tích những tác động tích
cực và tiêu cực tới sự phát triển của các làng nghề truyền thống sau khi gia nhập
WTO. Đồng thời, tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển của các
làng nghề truyền thống đồng bằng sông Hồng sau khi gia nhập WTO; từ đó rút ra
những vấn đề cần phải tháo gỡ và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy sự
phát triển các LNTT ở đồng bằng sông Hồng sau khi gia nhập WTO [83].
Ngoài ra, còn có một số công trình như:
-

“Một số ý kiến về đảm bảo vốn cho phát triển làng nghề" của Trần Kim Hào,
Nguyễn Hữu Thắng [34] đã nêu bật vai trò làng nghề; thực trạng sự phát triển


2
3
LNTT tại Hà Bắc, Nam Hà; thực trạng về vốn tại các làng nghề ở 2 địa
phương trên; đề xuất giải pháp huy động vốn cho phát triển làng nghề.
-

“Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề tiểu thủ công
nghiệp” của Nguyễn Thị Hường [37] đã phân tích nguyên nhân dẫn đến chất
lượng sản phẩm chưa cao. Đặc biệt tập trung vào nguyên nhân chất lượng
nguồn nguyên liệu.

-

“Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề” của Hồ Thanh Thủy [59]
đã phân tích các giải pháp tài chính tiền tệ; vai trò của chính sách tài chính
tiền tệ và tác động của chính sách tiền tệ đối với các làng nghề.

-

“Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của các làng nghề trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế” của Vũ Thị Thoa [57] đã phân tích vai trò của các làng
nghề. Phân tích giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của các làng nghề: Giải
pháp nghiên cứu thị trường để xác định cơ cấu sản phẩm; giải pháp quy hoạch
và chiến lược phát triển làng nghề ở từng địa phương; tập trung giải pháp
hoàn thiện các chính sách thúc đẩy sự phát triển làng nghề.

-

“Xu hướng phát triển làng nghề ở khu vực đồng bằng sông Hồng” của
Nguyễn Thị Ngân [40] đã chỉ ra vai trò của các làng nghề và bốn xu hướng:
Xu hướng kết hợp yếu tố truyền thống với hiện đại, xu hướng phát triển gắn
cụm công nghiệp nông thôn, xu hướng khôi phục nghề truyền thống gắn với
phát triển nghề mới và đa dạng hóa các loại hình sản xuất kinh doanh.

-

“Phát triển

làng nghề và vấn nề bảo vệ môi trường trước hết là nước

sạch” của Ngô Thái Hà [32] đã chỉ rõ vai trò ích lợi của sự phát triển làng nghề; vấn
đề kiểm soát và xử lý phát thải môi trường hiện nay ở các làng nghề; chỉ ra các
nguyên nhân gây ô nhiễm trong làng nghề và giải pháp tập trung các làng nghề theo
hướng chuyên môn hóa để dễ xử lý ô nhiễm; giải pháp đề cao vai trò giám sát của
chính quyền cơ sở và nhà nước. Cuối cùng là giải pháp quy hoạch cụm công nghiệp
làng nghề.
- “Làng nghề và bảo vệ môi trường làng nghề theo hướng phát triển bền vững”
của Chu Thái Thành [56] đã chỉ ra những đóng góp và thách thức trong sự phát triển
làng nghề hiện nay. Nêu lên những số liệu dẫn chứng các chỉ số mức độ ô nhiễm và


2
4
bức xúc môi trường trong làng nghề. Để giải quyết hậu quả ô nhiễm cần giải quyết
các vấn đề sau: chú trọng chính sách phát triển bền vững làng nghề; quy hoạch
không gian làng nghề; tăng cường quản lý môi trường tại các làng nghề; phát hiện và
xử lý các làng nghề gây ô nhiễm; tổ chức thí điểm triển khai áp dụng sản xuất sạch
tại các làng nghề.
Ngoài ra còn có nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành, các
bài tham luận tại các hội thảo quốc tế và trong nước, đề cập đến sự phát triển của các
làng nghề, làng nghề truyền thống với nhiều nội dung khác nhau.
1.3. KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

1.3.1.

Những vấn đề đã được nghiên cứu luận giải rõ có thể kế thừa

trong luận án
Những công trình nêu trên đã tiến hành nghiên cứu LNTT trên nhiều khía cạnh
khác nhau, về việc bảo tồn và phát triển các làng nghề ở Việt Nam nói chung, của
các địa phương nói riêng trong những năm gần đây với định hướng và phương pháp
về phát triển làng nghề truyền thống có liên quan mật thiết đến đề tài của tác giả luận
án. Nội dung các nghiên cứu có thể chia thành 3 lĩnh vực sau đây:
Thứ nhất, đã phân tích khái quát một số vai trò của làng nghề truyền thống
trong phát triển kinh tế xã hội nông thôn, trong giải quyết việc làm, nâng cao thu
nhập cho người lao động ở các làng nghề truyền thống.
Thứ hai, nghiên cứu về tình hình phát triển thủ công nghiệp và những vấn đề
lớn về môi trường tác động đến làng nghề. Cụ thể là đã đi sâu phân tích sự phát triển
của tiểu thủ công nghiệp trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Ngoài ra,
nhiều công trình còn nghiên cứu thực trạng về các mặt hàng thủ công, thủ công mỹ
nghệ, vấn đề ô nhiễm môi trường trong các làng nghề. Các công trình này giúp tác
giả luận án nhận biết một cách tổng quan về năng lực của ngành tiểu thủ công nghiệp
và năng lực sản xuất kinh doanh trên lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp. Giúp cho tác giả
nắm được tổng quát mức độ ô nhiễm trong các làng nghề hiện nay.
Thứ ba, các công trình đã nghiên cứu về tình hình sản xuất và kinh doanh đề
xuất các giải pháp phát triển làng nghề truyền thống từ lao động, công nghệ, vốn, thị


2
5
trường tiêu thụ sản phẩm đã giúp cho tác giả luận án đánh giá được phần nào về thực
trạng của làng nghề truyền thống khi bước vào kinh tế thị trường, mở cửa và hội
nhập quốc tế với bên ngoài.
1.3.2.

Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Nhìn chung, các công trình tiếp cận dưới những góc độ khác nhau cả về lý luận
và thực tiễn về các lĩnh vực phát triển của LNTT, song các công trình trên chưa đề
cập đến các vấn đề.
Một là, chưa đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề phát triển LNTT trên
3 nội dung: kinh tế - xã hội - môi trường gắn với các yếu tố của sự liên kết và cạnh
tranh giữa các chủ thể kinh tế, về vai trò mới, các nhân tố ảnh hưởng đến làng nghề
truyền thống. Đặc biệt chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến nội dung phát
triển Làng nghề truyền thống trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Hai là, các công trình chưa đi sâu vào phân tích thực trạng các làng nghề truyền
thống trong quá trình hội nhập quốc tế và chưa có công trình nào có sự phân tích toàn
diện các thách thức chỉ ra các xu hướng của LNTT trong điều kiện hội nhập. Các
công trình chưa đưa ra các quan điểm có tính hệ thống để LNTT phát triển theo
hướng bền vững mà trong những năm tới cần phải tập trung giải quyết trong quá
trình hội nhập sâu hơn vào thị trường khu vực và thế giới.
Ba là, các công trình nghiên cứu chưa đưa ra được những định hướng chiến
lược cho làng nghề truyền thống trong quá trình hội nhập quốc tế một cách tổng thể
nhằm phát triển bền vững các LNTT trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
Tóm lại, có thể nói cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể về
phát triển Làng nghề truyền thống tỉnh Nam Định trong quá trình hội nhập kinh dưới
góc độ kinh tế chính trị. Vì vậy, đây là đề tài độc lập, không trùng tên và nội dung
với các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước.
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRONG HỘI NHẬP QUỐC TÉ

2.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRONG HỘI


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×