Tải bản đầy đủ

Kinh tế tri thức và vấn đề đẩy mạnh công công nghiệp hóa hiện đại hóa ở việt nam liên hệ với thực tế phát triển đội ngũ tri thức ở huyện quảng xương – thanh hóa

MỞ BÀI
Đội ngũ trí thức có những phẩm chất mà các chủ thể chính trị khác
không thể có. Từ những đặc điểm lao động, tham gia vào đời sống chính trị
của họ cho thấy, phần lớn họ là “người dấn thân vì lợi ích của toàn thiên
hạ, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh vì đại nghĩa của toàn thiên hạ. Trí thức
như vậy là một phẩm cách đặc biệt”. Nét nổi bật của hoạt động của đội ngũ
trí thức là hướng đến sự sáng tạo. Chính vì vậy, lao động của họ rất đáng
được trân trọng, khuyến khích, vấn đề đặt ra chỉ là phải biết sử dụng họ.
Đây cũng chính là cái mấu chốt để Đảng và Nhà nước nhận thức đúng và
khuyến khích trí thức tham gia phản biện xã hội, cốâng hiến tài năng cho
xây dựng và phát triển đất nước. Còn với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
xã hội là nơi tập hợp, đoàn kết, đại diện cho tầng lớp trí thức, cần thấy được
tính vượt trội để phát huy vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức tham gia
phản biện xã hội, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước.Nếu như thế kỷ
XX trong lịch sử Việt Nam là “thế kỷ của những biến đổi to lớn và sâu sắc,
thế kỷ đấu tranh gian nan oanh liệt giành lại độc lập tự do thống nhất Tổ
quốc, thế kỷ của những chiến công và thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời
đại”(1), thì bước vào thế kỷ XXI sứ mệnh thiêng liêng của toàn dân tộc
chúng ta là phải tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Là một quốc gia có
truyền thống dựng nước và giữ nước lâu đời, có quá trình liên tục đấu tranh

để vươn lên làm chủ cuộc sống trước thiên nhiên khắc nghiệt và nhiều thế
lực ngoại xâm hung bạo, bản thân lịch sử dân tộc Việt Nam chính là những
bài học vô cùng quý báu để giáo dục cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, tinh thần
tự lực tự cường, khát vọng vươn lên vượt khó để xứng đáng với quá khứ
hào hùng và vinh quang của thế hệ đi trước. Hơn thế nữa, sức mạnh của tri
thức lịch sử không chỉ giới hạn ở chỗ giúp cho những thế hệ hôm nay, ngày
mai có hiểu biết đầy đủ về qúa khứ, mà còn làm cho người đang sống có ý
thức về xã hội, biết suy nghĩ cảm thụ những gì đã xảy ra trong qúa khứ để
1


có trách nhiệm với hiện tại và trong tương lai. Sau 20 năm đổi mới thế và
lực của đất nước ta đã mạnh hơn nhiều, tuy "từng bước phát triển" nhưng
một số thành phần của kinh tế tri thức như công nghệ thông tin, in-tơ-nét,
điện thoại di động... trong giai đoạn 2005 - 2010 đã phát triển khá nhanh.
Nhiều nước phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc, Phần Lan, Ấn Độ... biết
kết hợp phát triển kinh tế tri thức đều đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khá
cao. Do đó, tranh thủ thời cơ mà bối cảnh quốc tế tạo ra, kết hợp nội lực
với các thuận lợi bước đầu về phát triển kinh tế tri thức Vì vậy em quyết
định chọn đề tài “Kinh tế tri thức và vấn đề đẩy mạnh công CNH-HĐH ở
Việt nam. Liên hệ với thực tế phát triển đội ngũ tri thức ở huyện Quảng
Xương – Thanh Hóa” để làm đề tài nghiên cứu của mình.

2


NỘI DUNG
Chương I. Kinh tế tri thức
1.1. Phát triển kinh tế tri thức là một xu thế tất yếu
Xã hội loài người đã trải qua ba nền kinh tế chủ yếu. Kinh tế nông
nghiệp với trình độ sản xuất thô sơ, năng suất lao động thấp, sức lao động
là lực lượng sản xuất chủ yếu và nông nghiệp đóng vai trò nền tảng xã hội.
Kinh tế công nghiệp đạt trình độ sản xuất cao hơn, máy móc trở thành lực
lượng sản xuất chủ yếu và các ngành công nghiệp là nền tảng của xã hội.
Một số nhà khoa học cho rằng sau khi thực hiện thành công công nghiệp
hoá, các nước phát triển đã chuyển sang nền kinh tế phân phối với sự phát
triển mạnh mẽ của giao thông vận tải và các loại hình dịch vụ làm gia tăng
giá trị sản phẩm. Trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, sự phát triển như
vũ bão của công nghệ thông tin, sự tương tác giữa tin học, vi điện tử và
sinh học đã tạo ra những tiến bộ thần kỳ trong kinh tế và sẽ tiếp tục cung

cấp nhiên liệu cho sự tăng trưởng của thế giới trong vòng hai hoặc ba mươi
năm tới. Sự phát triển không ngừng có tính bùng nổ của lực lượng sản xuất
trong đó tri thức đóng vai trò như lực lượng sản xuất chủ yếu đã dẫn đến sự
hình thành một nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức (Knowledge Based
Economy hoặc Knowledge economy).
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất mới này đã dẫn tới
một hình thái kinh tế mới. Đó là một nền kinh tế trong đó việc sáng tạo tri
thức, sự lan truyền và quảng bá nhanh tri thức đưa vào ứng dụng là động
lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, tạo ra của cải, tạo ra việc làm cho tất
cả các ngành kinh tế. Nhà kinh tế học P.F.Durker gọi đó là nền kinh tế tri
thức và tên gọi này hiện nay đã trở thành phổ biến với việc sử dụng chính
thức của Ngân hàng thế giới. Trong nền kinh tế mới, kinh tế tri thức sản
xuất chủ yếu dựa vào nguồn lực tri thức. Tài nguyên và vốn dù quan trọng
vẫn chỉ giữ vai trò thứ yếu.

3


Như vậy, trong tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại con người là
động vật duy nhất có năng lực sáng tạo tri thức, do đó biết lao động sản
xuất và tiến dần tới nền kinh tế dựa vào tri thức là chính. Bởi vậy, kinh tế
tri thức là một lịch sử tất yếu.
Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, khoảng từ giữa thế kỷ XX,
dựa trên những tri thức sáng tạo, đi sâu vào thế giới vĩ mô và thế giới vi
mô, dẫn tới sự phát minh ra các máy móc, thuộc loại hoàn toàn mới, gọi là
máy móc thông minh. Điển hình là máy điện toán, mô phỏng được những
chức năng chủ yếu của não người: biết nhớ, biết tính toán kể cả các bài
toán rất phức tạp, biết thực hiện các lệnh, biết tư vấn cho người dùng trong
một số việc..., đóng vai trò chính trong các hệ tự động hóa toàn phần của
sản xuất và trong các mạng thông tin toàn cầu. Máy móc thông minh kết
hợp với tri thức sáng tạo trở thành nguồn lực của các công nghệ cao như:
công nghệ thông tin hoặc công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ
sinh học, công nghệ vật liệu tiên tiến - nano..., trong đó công nghệ thông tin
và truyền thông giữ vai trò dẫn đầu. Hệ thống công nghệ cao là cốt lõi của
lực lượng sản xuất mới. Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất mới
đã thúc đẩy hình thành nền kinh tế tri thức trong nửa sau của thế kỷ XX.
1.2. Kinh tế tri thức và vấn đề công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
a). Định hướng của Đảng cộng sản Việt nam về phát triển kinh tế
tri thức
Những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức là sự phát triển mạnh
mẽ của lực lượng sản xuất ở trình độ cao, áp dụng những thành tựu tiên tiến
nhất về công nghệ và kỹ thuật. Theo các chuyên gia thì những trụ cột chính
của nền kinh tế tri thức bao gồm công nghệ thông tin, sinh học, năng lượng
và vi điện tử. Những sản phẩm của nền kinh tế thông tin có hàm lượng tri
thức cao và giá trị gia tăng lớn. Trong nền kinh tế tri thức, dịch vụ có tỷ
trọng lớn, vượt xa cả các ngành công nghiệp truyền thống. Kinh tế mạng
(Network Based Economy) đóng vai trò vô cùng quan trọng. Internet là
4


động lực mạnh mẽ nhất và con đường nhanh nhất của tự do thương mại và
toàn cầu hoá. Trong phần lớn các ngành, xu thế sát nhập tạo ra những công
ty có tiềm lực khổng lồ như các ngân hàng, công ty sản xuất ô tô, máy tính.
Các công ty lớn đã hợp tác với nhau để nâng cao sức cạnh tranh. Lực lượng
lao động cũng có thay đổi đáng kể. Nhu cầu về lao động chuyên môn kỹ
thuật ngày càng tăng lên. Sự thiếu hụt lập trình viên kỹ thuật là vấn đề của
toàn thế giới từ những nước phát triển như Mỹ, Canada tới những nước
đang phát triển như Việt nam. Các khu kỹ thuật cao cũng được coi như là
một nét đặc trưng của nền kinh tế tri thức. Tại Mỹ, chỉ riêng Thung lũng
Silicon tập trung hơn 7000 công ty kỹ thuật cao và có doanh số khoảng
450 tỷ USD, tổng số Mỹ có hơn 300 khu công nghệ cao, Nhật có 32, Pháp
có 35. Những khu công nghệ cao là nơi tập trung trí tuệ và sức sáng tạo
của lực lượng sản xuất tiên tiến. Một nét đặc trưng đáng chú ý khác là các
quy luật kinh tế truyền thống như lợi ích cận biên giảm dần, chi phí cận
biên tăng dần có thể không còn chỗ đứng trong nền kinh tế tri thức. Một
ví dụ điển hình là số người sử dụng thông tin càng nhiều thì thông tin
càng có giá trị.
Học thuyết hình thái kinh tế xã hội của Mác về sự vận động và phát
triển xã hội bao gồm 4 luận điểm cơ bản:
Thứ nhất: sản xuất vật chất là nền tảng cơ sở của đời sống xã hội
Thứ hai: quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất.
Thứ ba: cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
Thứ tư: sự phát triển của các hình thái xã hội là luận điểm của lịch sử
tự nhiên
Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới năm 1986 cùng với việc từng bước
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải phóng
lực lượng sản xuất chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế Đảng và Nhà nước đã xác định ngày càng rõ
5


quan điểm mới về công nghiêp hoá, hiện đại hoá. Quan điểm mới cũng là
kết quả tổng kết thực tiễn rút ra từ những bài học của mấy thập kỷ trước
đây kết hợp với sự nghiên cứu học hỏi kiến thức và kinh nghiệm của thế
giới và thời đại. Cuối thế kỷ XX Đảng và Nhà nước ta đã vạch ra CNH –
HĐH không phải là hai quá trình tuy có phần lồng vào nhau nhưng về cơ
bản vẫn tách biệt và nối tiếp nhau là một quá trình thống nhất có thể nói là
công nghiệp hoá theo hướng hiện đại hoá.
Nghị quyết đại hội Trung ượng 7 Khoá 7 của Đảng ta (năm 1994)
chỉ rõ: “ CNH –HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản , toàn diện các hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội sử dụng lao
động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động
cùng với công nghệ phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa
trên sự phát triển của công nghệ và tiến bộ khoa học, tạo ra năng suất lao
động xã hội cao
Coi sự nghiệp CNH – HĐH ở nước ta trong thời kỳ đổi mới là một
cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống
kinh tế, xã hội, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII ( năm 1996) khi
thong qua đường lối CNH – HĐH Đảng ta nhấn manh: “ mục tiêu của
CNH – HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật
chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và
tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội
công bằng văn minh”.Tại đại hội Đảng này, Đảng ta cũng xác định rõ mục
tiêu: “ phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp” cùng với những thành tựu phát triển quan trọng đạt được sau 10
năm đổi mới, sự xác định rõ ràng về chủ trương đã tạo điều kiện thuận lợi
cho nước ta đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá .
Bước vào thế kỷ 21 bối cảnh trong nước và quốc tế có những thay
đổi mau chóng. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
6


(năm 2001) của Đảng nhận định: “thế kỷ 21 sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi,
khoa học công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt, kinh tế tri thức có vai trò
ngày càng nổi bật, có vai trò ngày càng lớn trong quá trình phát triển lực
lượng sản xuất”. Trong bối cảnh ấy nhận thức của Đảng ta về CNH – HĐH
đất nước cũng có bước đổi mới quan trọng, cho rằng quá trình CNH –
HĐH ở nước ta có thể rút ngắn. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai
đoạn 2001 – 2010 được thông qua tại đại hội IX xác định: “con đường
CNH – HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những
bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt, phát triển những lợi thế của đất nước,
tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công
nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều
hơn ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và
công nghệ từng bước phát triển kinh tế tri thức”
Như vậy ngay từ khi tiến hành đổi mới thông qua các kỳ đại hội
Đảng ta đều xác định thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá phải gắn liền
với phát triển kinh tế tri thức. Điều này đã trở thành tôn chỉ định hướng rõ
ràng sự phát triển của nước ta.
b). Những quan điểm, nhận thức về công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra: từ
nay đến năm 2020 chúng ta phải phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp hiện đại.
"Mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành
một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế
hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh
vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội”.

7


Như vậy, công nghiệp hoá không phải chỉ là phát triển nền công
nghiệp, mà là phát triển mọi lĩnh vực từ sản xuất vật chất và dịch vụ của
nền kinh tế, cho đến các khâu trang thiết bị, phương pháp quản lý, tác
phong lao động, kỹ năng sản xuất…
Hiện đại hoá cũng không có nghĩa chỉ là đưa khoa học - công nghệ kỹ thuật thông tin - vi điện tử hiện đại vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế,
mà là quá trình vận dựng tất cả những phương tiện đó vào tổng thể hệ
thống kinh tế, chính trị, xã hội, nó đòi hỏi phải thực hiện cách mạng công
nghệ trong các cơ cấu kinh tế - xã hội một cách hợp lý, cân đối, tạo lập cơ
chế quản lý xã hội ở trình độ chuyên môn cao với phương pháp quản lý
hiện đại.
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá phải hoàn thiện cơ cấu - tổ chức - vận
hành xã hội, chuyên môn hoá chức năng ngày càng sâu của các thể chế,
nâng cao chất lượng các phương tiện thông tin đại chúng và chất lượng
sống: dân chủ hoá đời sống xã hội trong khuôn khổ một Nhà nước pháp
quyền, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và dân đức thông qua
việc phát triển nền giáo dục quốc gia.
Như vậy, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, thực chất tự bản
thân nó chính là một quá trình biến mọi hoạt động kinh tế - chính trị - xã
hội, đặc biệt là hoạt động sản xuất tinh thần và đời sống văn hóa từng bước
lên trình độ tiên tiến và hiện đại. Đó là quá trình văn hoá hoá đời sống xã
hội và văn hoá hoá ngày càng cao bản thân con người. Bởi văn hoá là hiện
thân sức mạnh bản chất người được thể hiện trong "Thiên nhiên thứ hai"
của con người (Mác). Tất cả sức mạnh bản chất người đó được tàng chứa
trong toàn bộ thế giới vật chất - tinh thần, nó thể hiện một cách năng động
nhất trong cơ cấu - tổ chức - vận hành của một xã hội, đặc biệt là ở phần
tinh thần nơi thăng hoa toàn bộ giá trị văn hoá nằm tương ứng bên trên cơ
cấu - tổ chức - vận hành đó.

8


Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã vạch ra qui luật
khách quan rằng, đời sống vật chất (hiện thực) quy định đời sống tinh thần
của xã hội. Do đó, trình độ kinh tế - chính trị - xã hội tiên tiến và hiện đại
do công nghiệp hoá - hiện đại hoá tạo ra sẽ là cơ sở quy định bản chất và
trình độ của nền văn hoá xã hội.
Một vấn đề lớn và quan trọng đặt ra là: Nền văn hoá tiên tiến, hiện đại
do công nghiệp hoá - hiện đại hoá hình thành nên có mâu thuẫn, có thủ tiêu
nền văn hoá truyền thống và làm mất đi bản sắc dân tộc của văn hoá truyền
thống?
Phép biện chứng duy vật và thực tiễn xã hội cho thấy, đời sống tinh
thần có cuộc sông độc lập của nó so với nền tảng vật chất xã hội. Văn hoá,
một khi ra đời, dù là xuất phát từ tồn tại kinh tế, từ đời sống vật chất, nó trở
thành thực thể độc lập với cơ sở kinh tế - xã hội. Thực tế đã chứng minh,
những hệ tư tưởng, chính trị, văn hoá đã đóng vai trò điều chỉnh và qui
định chiều hướng vận động của xã hội. Ngày nay, loài người càng nhận rõ
rằng, văn hoá không chỉ là cái phái sinh của điều kiện kinh tế - xã hội, mà
còn là động lực nội sinh của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nghĩa là, trước
sự hiện đại hoá xã hội, và cùng với nó là sự hình thành những yếu tố văn
hoá tiên tiến, hiện đại, thì những yếu tố, những thực thể văn hoá truyền
thống như là bản sắc văn hoá Việt Nam vẫn độc lập tồn tại và không những
tồn tại, mà chúng còn làm tiền đề cho sự nảy sinh và phát triển các yếu tố
văn hoá mới.
Công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay ở nước ta thực sự
đang là một cuộc tiếp biến lớn lao, rất căn bản của văn hoá Việt Nam với
thế giới văn hoá hiện đại. Với truyền thống luôn giữ vững bản sắc của
mình, văn hoá Việt Nam không bao giờ bị văn hoá hiện đại làm lu mờ, thôn
tính, mà sẽ tiếp thu những yếu tố văn hoá tiên tiến, hiện đại chứa đựng
trong khoa học - công nghệ hiện đại, nó cộng sinh, làm phong phú và hiện
đại thêm nền văn hoá của chính mình. Theo nghĩa đó, công nghiệp hoá 9


hiện đại hoá không nhưng không là tác dụng xấu, mà là tác dụng tích cực,
hay có thể nói, chúng đem lại những yếu tố mới cho việc làm sâu sắc thêm
phong phú thêm bản sắc văn hoá Việt Nam.
Nói như vậy không có nghĩa công nghiệp hoá - hiện đại hoá chỉ có
đem lại những thuận lợi, tạo ra tất cả những yếu tố tích cực cho và giữ gìn
bản sắc văn hoá Việt Nam.
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nâng cao chất lượng sống, từ đó hình
thành nên những chuẩn mực mới lạ trong đời sống tinh thần, có thể dẫn
đến "sự va chạm" giữa lối sống, lối tư duy hiện đại với lối sống và tư duy
truyền thống: Lối sống và cách tư duy hoà với thiên nhiên, tình cảm cộng
đồng tình làng nghĩa xóm dường như "mặc cảm" với lối sống đô thị và
toan tính kinh tế có tính cá nhân, nếp sống thanh bình dễ "dị ứng” với
nhịp độ gấp gáp của tác phong công nghiệp, ứng xử tình cảm nghiêng về
đạo đức thường tương phản với văn hoá trí tuệ và nền pháp lý chặt chẽ, lối
sống tiêu xài không mấy phù hợp với truyền thống thanh đạm của con
người Việt Nam…
Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại là hoá có kết quả hay không còn
phụ thuộc vào quá trình giao lưu hội nhập quốc tế. Hội nhập quốc tế
không chỉ là nhập công nghệ mà là hoạt động toàn diện khoa học kỹ thuật,
kinh nghiệm sản xuất - quản lý kinh tế - xã hội. Sự hội nhập sẽ làm tăng
nhanh nhiều loại sản phẩm văn hoá, trong đó, bên cạnh các yếu tố tốt đẹp,
có cả những yếu tố không phù hợp với văn hoá truyền thống, thậm chí độc
hại nữa.
Chúng ta chủ động lựa chọn chính sách trong tiếp biến của công
nghiệp hoá - hiện đại hoá. Những thế mạnh trong dối sách đó là tương đối
bởi trình độ kinh tế - xã hội nước ta rất thấp so với các nước đầu tư vào ta.
Trong biết bao loại đầu tư, ở đó đồng thời cũng kèm theo những dạng văn
hoá nhất định. Cái ta cần, nói chung là vượt hẳn cái ta có khả năng cho.
Trong một xã hội nghèo, sự thâm nhập ồ ạt từ bên ngoài làm đảo lộn nhiều
10


thói quen, nếp sống, kể cả suy nghĩ của nhân dân ta trên một bình diện rộng
hơn bao giờ hết.
Kinh tế tri thức bắt đầu xuất hiện vào những năm 60 - 70 của thế kỷ
trước tại các nước công nghiệp phát triển cao. Lúc đó tại những nước này
công nghiệp hiện đại công nghệ cao đã chiếm tỷ trọng với số lao động tri
thức đã vượt trên 50% tổng số lao động.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa thế giới, một số nước đang phát triển,
tuy chưa có công nghiệp hiện đại, công nghệ cao nhưng biết chủ động hội
nhập kinh tế, tranh thủ tiếp thu công nghệ cao trên cơ sở nguồn nhân lực
thích hợp, thì vẫn có thể bước đầu phát triển kinh tế tri thức.
Nước ta, tuy còn ở trong nền kinh tế nông nghiệp và là nước đang
phát triển thu nhập thấp, nhưng biết phát huy đội ngũ cán bộ khoa học và
công nghệ có năng lực tiếp thu và ứng dụng các công nghệ cao, qua chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế, vẫn có thể có cơ hội rút ngắn thời gian để
tiến nhanh hơn. Muốn vậy, phải đồng thời tiếp thu công nghệ cao của phát
triển kinh tế tri thức và vận dụng ngay vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong các lĩnh vực cần thiết. Ví dụ phát triển các phần mềm hệ điều hành
máy, có thể đem ứng dụng với sự điều chỉnh hợp lý, vào các máy trong
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thực tế cho thấy khi chúng ta phát triển công nghệ thông tin và truyền
thông, intermet, mạng viễn thông kỹ thuật số, điện thoại di động..., tức là
phát triển một số bộ phận của kinh tế tri thức thì mặc nhiên thúc đẩy hiện đại
hóa, ở trình độ cao, nhiều lĩnh vực của công nghiệp và xây dựng, nông
nghiệp, dịch vụ. Do đó việc kết hợp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với
phát triển kinh tế tri thức vừa là cơ hội, vừa là yêu cầu trong đổi mới.
Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: Tranh thủ thời cơ
thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút
ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu
11


tố quan trọng của nền kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức,
kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của người Việt Nam với tri thức
mới nhất của nhân loại. Như vậy, lý luận và thực tiễn là căn cứ vững chắc
để xây dựng đường lối đúng đắn, tranh thủ thời cơ, rút ngắn thời gian công
nghiệp hóa, hiện đại hóa sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại.
Theo kinh nghiệm của nhiều nước, phát triển kinh tế tri thức phải tập
trung nguồn lực vào bốn hướng chính sau đây:
Thứ nhất, Nhà nước phải xây dựng thể chế xã hội và chính sách
kinh tế năng động, rộng mở, khuyến khích sáng tạo và ứng dụng có hiệu
quả những tri thức mới. Thúc đẩy kinh doanh, tác động cho nở rộ doanh
nghiệp mới làm ăn phát đạt. Phải tạo dựng một nền hành chính có hiệu quả,
tránh phiền hà, tham nhũng. Giảm mạnh các chi phí hành chính, góp phần
tăng sức cạnh tranh.
Thứ hai, đào tạo nguồn nhân lực tài năng sáng tạo, biết phối hợp và
chia sẻ ứng dụng những thông tin, tri thức thành sản phẩm có sức cạnh
tranh cao.
Thứ ba, xây dựng một hệ thống đổi mới hiệu quả bao gồm: các doanh
nghiệp, các trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, các tổ chức tư vấn và
các tổ chức khác liên kết, trao đổi thông tin, tri thức với nhau theo những mục
tiêu đã xác định. Họ phải thường trực tiếp cận các kho thông tin, tri thức của
thế giới được liên tục chất đầy, để tích cực "tiêu hóa" chúng và thích nghi hóa
cho các nhu cầu của mình và từ đó sáng tạo ra công nghệ cao mới.
Thứ tư, tích cực xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và
truyền thông, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển ngành công nghệ cao dẫn đầu
này. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá, phổ biến và sáng tạo tri thức.
c).Những đặc điểm chủ yếu của CNH - HĐH ở nước ta
CNH - HĐH ở nước ta có nhiều nét đặc thù cả về nội dung và hình
thức,quy mô, cách thức tiến hành và mục tiêu chiến lược. Những nét đặc
thù này được thể hiện khái quát ở một số điểm:
12


Thứ nhất: Quá trình CNH - HĐH ở nước ta là một quá trình rộng
lớn phức tạp, toàn diện, có nghĩa là nó diễn ra trong tất cả các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, văn hoá, có sự kết hợp giữa các bước đi tuần tự và các bước
nhảy vọt,kết hợp giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều
sâu, kết hợp giữa biến đổi về lượng và biến đổi về chất… của các tác nhân
tham gia quá trình. mục tiêu của CNH - HĐH mang tính bao trùm rất cao,
theo đó đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại,nhưng mục tiêu sâu xa hơn là nước ta trở thành một
nước dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ, văn minh”
Thứ 2: Trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng khoa học công
nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, nước ta không thể chờ thực hiện xong công
nghiệp hoá rồi mớitiến hành hiện đại hoá,mà phải thực hiện đồng thời và
đồng bộ cnd và hđh như một quá trình thống nhất. về đại thể, riêng về mặt
kinh tế, có thể nhìn nhận quá trình này từ hai mặt thốngnhất với nhau: thứ
nhất đó là quá trình xây dựng nền công nghiệp hiện đại,cũng có nghĩa là
tạo nền tảng vật chất - kỹ thuật( lực lượng sản xuất) của nền kinh tế; thứ
hai, đó là quá trình cải cách hệ thống thể chế và cơ chế kinh tế,từ nền kinh
tế kế hoạc hoá tập trung,quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường hội
nhập. CNH gắn với HĐH là cách làm đẩy lùi nguy cơ tụt hậu xa hơn về
kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, nhanh chóng đưa
nước ta tiến kịp các nước trong khu vực, hội nhập vào sự phát triển chung
của khu vực và thế giới.
Thứ ba: quá trình CNH, HĐH ở nước ta cần và có thể được rút
ngắn,việc cần được rút ngắn ở đây là đòi hỏi khách quan của nhiệm vụ
thoát khỏi tình trạng tụt hậu phát triển. bên cạnh đó bối cảnh mới trong
nước cũng như trên thế giới cho phép nước ta có khả năng “rút ngắn” quá
trình CNH, HĐH. Về cơ bản, cách để nước ta thực hiện được công nghiệp
hoá, hiện đại hoá rút ngắn bao gồm hai mặt: thứ nhất, đạt và duy trì một tốc
độ tăng trưởng cao hơn các nước đi trước liên tục trong một thời gian dài
13


để rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ so với các nước đó(thực
chất là tăng tốc để đuổi kịp) và thứ hai, lựa chọn và áp dụng một phương
thức công nghiệp hoá , hiện đại hoá cho phép bỏ qua một số bước đi vốn là
bắt buộc theo kiểu phát triển tuần tự, để đạt tới nền kinh tế có trình độ phát
triển cao hơn( thực chất là lựa chọn con đường, bước đi và giải pháp công
nghiệp hoá để đi nhanh tới hiện đại). Hai mặt này không đối lập mà có thể
thống nhất với nhau và đang tiếp tục được làm rõ để định hình sang tỏ hơn
con đường đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta
d). Các giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn
với phát triển kinh tế tri thức
Vấn đề quan trọng hàng đầu là, chúng ta phải chủ động phát huy
năng lực sáng tạo tri thức ở trong nước, đồng thời phải biết tranh thủ cơ hội
tiếp thu tri thức của thế giới toàn cầu hóa.
Thực vậy, trong điều kiện chưa có đủ nguồn lực để phát triển kinh tế
tri thức lên ngay trình độ cao, ta phải coi trọng chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế nhằm đẩy mạnh hợp tác về công nghệ cao trong nhiều lĩnh vực,
trên cơ sở cùng có lợi. Qua hội nhập và hợp tác cùng với việc gửi đi nâng
cao trình độ ở nước ngoài, các chuyên gia Việt Nam từng bước trưởng
thành, có thể chủ động trong ứng dụng các công nghệ cao và tiến tới sáng
tạo tri thức mới rất cần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở trình độ
cao. Nhiều ví dụ trong công nghiệp điện tử, trong thiết lập mạng viễn thông
quốc gia, trong công nghiệp chế biến nông sản phẩm, trong chế tạo trang
thiết bị cơ - điện tử... đã cho thấy kết quả tốt và đạt bước tiến nhanh rõ rệt.
Để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh, nông nghiệp phải gắn kết
với phát triển ứng dụng tri sáng tạo mới, cụ thể là: phải chuyển giao tri thức
về công nghệ sinh học, tri thức về giống cây, con chất lượng và năng suất
cao, về canh tác và chăn nuôi hiện đại cho nông dân. Đồng thời phải cung
cấp tri thức về tổ chức sản xuất gắn với thị trường và về xây dựng nông

14


thôn mới và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong
mọi hoạt động hiện đại hóa nông nghiệp.
Trong công nghiệp và xây dựng thì công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ
gắn kết thuận lợi với phát triển kinh tế tri thức vì công nghiệp trong kinh tế
thị trường là rất hiện đại dựa vào các công nghệ cao. Trước hết công việc
thiết kế của công nghiệp và xây dựng ở mọi cấp phải chuyển nhanh từ thiết
kế thủ công sang thiết kế dùng máy tính sẽ rất chính xác và nhanh chóng,
tranh thủ khai thác các phần mềm thiết kế và thư viện các thiết kế sẵn có.
Ngành chế tạo cũng phải chuyển nhanh sang sử dụng máy thông minh có
"nhúng" máy điện toán tự động hóa hoàn toàn hoặc robot, hoặc các dây
chuyền máy tự động hóa toàn phần.
Việc tiếp thu nắm vững công nghệ cao trong công nghiệp và xây
dựng sẽ là điểm tựa để chúng ta có thể sáng tạo thêm nhiều tri thức mới
trong lĩnh vực này. Chúng ta bước đầu đã đạt được một số kết quả khích lệ
trong hiện đại hóa nền công nghiệp và xây dựng kết cầu hạ tầng. Nhưng
nhìn chung vẫn còn tụt hậu về công nghiệp công nghệ cao. Gần đây, sau
khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), số dự án công nghệ cao
đã tăng nhanh với vốn đầu tư lớn hứa hẹn triển vọng tốt.
Dịch vụ là một lĩnh vực rất lớn của kinh tế tri thức, có khi chiếm đến
trên 70% GDP, bởi vậy gắn kết với phát triển kinh tế tri thức sẽ có thuận
lợi đẩy mạnh hiện đại hóa nhanh dịch vụ ở nước ta. Các ngành dịch vụ
quan trọng như thương mại, tài chính, ngân hàng, du lịch, y tế, giáo dục,
pháp luật... bắt buộc phải nhanh chóng chuyển sang ứng dụng công nghệ
thông tin, mạng in-tơ-nét, viễn thông toàn cầu... Thời gian qua một số
ngành dịch vụ nước ta đã có tiến bộ đáng kể trong hiện đại hóa, nhưng nhìn
chung chưa khai thác hết tiềm năng, đáng lý còn có thể đóng góp cho tăng
trưởng kinh tế nhiều hơn nữa.
Về mặt xã hội có nhiều loại dịch vụ quan trọng cần hiện đại hóa theo
hướng kinh tế tri thức. Tuy nhiên, đối với một nước đang phát triển như
15


nước ta, có định hướng xã hội chủ nghĩa, thì cần tập trung vào dịch vụ hành
chính điện tử (hoặc chính phủ điện tử). Đây là một cuộc cách mạng thực sự
hướng tới chủ nghĩa xã hội, vì nó, nếu được xây dựng đúng đắn và đầy đủ,
sẽ khách quan bảo đảm được công khai, minh bạch, không tham nhũng,
công bằng, dân chủ, văn minh. Đáng tiếc là thời gian qua có quyết tâm cao,
nhưng dùng người chưa đúng nên kết quả yếu kém, cần rút kinh nghiệm để
sắp tới làm tốt hơn. Khi đó sẽ có một nền hành chính điện tử được hiện đại
hóa nhanh dẫn tới rút ngắn được thời kỳ quá độ
Thời đại chúng ta là thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm
vi toàn thế giới bắt đầu từ khoảng đầu thế kỷ XX (1917). Cũng không phải
ngẫu nhiên mà cách mạng khoa học công nghệ bùng lên từ khoảng giữa thế
kỷ XX dẫn đến sự khởi đầu kinh tế tri thức và trở thành đặc trưng của thời
đại. Phải chăng đây là phản ánh mối quan hệ biện chứng tất yếu giữa khoa
học và cách mạng, cơ bản tương tự như những lần biến động thay đổi hình
thái kinh tế - xã hội trước đây, nhưng phức tạp và dữ dội hơn nhiều.

16


Chương II. Giải pháp cho vấn đề phát triển kinh tế tri thức ở
huyện Quảng Xương – Thanh Hóa
2.1. Chủ trương, đường lối và nhận thức về công tác trí thức
Khi nói tới vai trò, vị trí của trí thức cũng như công tác xây dựng đội
ngũ trí thức, các cấp lãnh đạo ban - ngành, và đội ngũ cán bộ, chuyên viên
cũng như trí thức huyện Quảng Xương và nhân dân trong huyện đều nắm
bắt được. Có 95% trí thức được hỏi cho rằng xây dựng và phát triển đội
ngũ trí thức có vai trò và tầm quan trọng to lớn, ảnh hưởng tới sự phát triển
nhanh và bền vững của huyện. Và họ cũng nhận thức được mục đích của
đào tạo và phát triển đội ngũ trí thức là nhằm tạo ra những con người xã hội
chủ nghĩa vừa hồng vừa chuyên, có đủ năng lực lãnh đạo và làm chủ đất
nước, đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của thời đại, góp phần nâng cao mức
sống của chính bản thân người trí thức nói riêng, toàn dân nói chung. Rất ít
trí thức cho rằng việc đó là không cần thiết (3%). Một số ít còn lại thì trả
lời là không quan tâm và không biết nhiều về công tác xây dựng đội ngũ trí
thức của huyện nói riêng cũng như cả nước nói chung.
Với nhận thức, tư tưởng các cấp lãnh đạo thì hầu như tất cả đều nhận
thức được vai trò và tầm quan trọng của việc đào tạo và xây dựng đội ngũ
trí thức, việc này là nhờ có công tác tuyên giáo huyện Ủy quảng Xương
luôn thực hiện tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến, tư vấn… các
nội dung cơ bản của đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước tới từng
cán bộ, đảng viên, viên chức trong địa bàn huyện. Tuy nhiên, vẫn còn tồn
tại một số ít cá nhân chưa thực sự đề cao vấn đề xây dựng và phát triển đội
ngũ trí thức của huyện, mà thực hiện mang tính chất hình thức, còn xa lánh
và chưa thực sự chú ý tới tầng lớp trí thức. Điều này cũng là dễ hiểu, bởi
chức năng và nhiệm vụ của huyện mang tính chất đặc thù trong cơ cấu tổ
chức về chính trị và hành chính của cấp huyện. Do đó, công tác xây dựng
đội ngũ trí thức huyện Quảng Xương vẫn chưa có một nghị quyết nào, hay
17


một tổ chức chuyên trách nào của huyện được đặt ra để thành lập một
chuyên ban riêng, mà chủ yếu là thực tiễn hóa, tuyên truyền, giáo dục nội
dung của các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Bên cạnh đó, Đảng bộ Thanh Hoá đã đưa ra một trong những giải
pháp cơ bản nhằm phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là: “Đẩy mạnh xã hội
hoá, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ, giáo
dục và đào tạo, văn hoá - xã hội, y tế, thể dục thể thao; nâng cao chất lượng
cuộc sống của nhân dân”[11; 60]. Và một trong những chương trình trọng
tâm của tỉnh trong giai đoạn tới là: “Chương trình phát triển nguồn nhân
lực”[11; 41].
Việc xây dựng đội ngũ trí thức một phần chủ yếu là tạo ra nguồn
nhân lực đủ năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu của quá trình xây dựng
và phát triển đất nước đã được Đảng bộ huyện Quảng Xương cụ thể thành
một trong bốn chương trình kinh tế - xã hội trọng tâm của huyện (giai đoạn
2010 - 2015) là: “Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực”[10; 17] trong Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Quảng Xương lần
thứ XXIV.
Tuy nhiên, chúng ta cũng phải hiểu rằng, việc xây dựng và phát triển
đội ngũ trí thức Quảng Xương không bó hẹp trong cách hiểu đơn giản là
phải có những chính sách cụ thể đối với việc phát triển đội ngũ trí thức của
huyện, mặc dù điều đó là quan trọng và cần thiết. Do những yêu tố khách
quan và chủ quan nên việc phát triển đội ngũ trí thức được thể hiện trong
chính sách giáo dục và đào tạo của huyện. Vì như đã phân tích, trí thức
Quảng Xương xuất thân từ nhiều tầng lớp xã hội, đa số hiện nay đang trên
ghế nhà trường. Bên cạnh đó, thực chất của công tác đào tạo và xây dựng
đội ngũ trí thức thì phải được chú trọng và quan tâm phát triển từ khi trí
thức đang còn là học sinh. Có như thế thì mới đảm bảo cho chất lượng đội
ngũ trí thức sau này.

18


Đồng thời, chúng ta cần phải đặt việc nâng cao chất lượng, số lượng
đội ngũ trí thức Quảng Xương trong mối quan hệ với các chủ trương,
đường lối phát triển kinh tế - xã hội của huyện về kinh tế, chính trị, quốc
phòng, an ninh… vì các đường lối chính sách đó có tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp tới công tác trí thức.
2.2. Chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng và phát triển trí thức
Chất lượng và hiệu quả của công tác bồi dưỡng trí thức của huyện có
thể được đánh giá cơ bản thông qua thành tựu của công tác giáo dục và đào
tạo trên địa bàn huyện: Quy mô giáo dục tiếp tục ổn định và phát triển theo
hướng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người học, 100% số xã đạt chuẩn phổ
cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và giáo dục trung học cơ sở; chất lượng
giáo dục toàn diện có chuyển biến tích cực; chất lượng mũi nhọn được chú
trọng. Kết quả thi học sinh giỏi cấp tỉnh hàng năm ở các cấp học luôn được
xếp trong tốp các huyện dẫn đầu của tỉnh. Số học sinh thi đậu đại học, cao
đẳng của 4 năm qua là 7.015 em, bình quân hàng năm tăng 11%. Công tác
đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ quản lý, điều chuyển giáo viên
được coi trọng, 100% giáo viên các cấp học có trình độ đạt chuẩn, trong đó
có 38,9% giáo viên trên chuẩn. Cơ sở vật chất giáo dục được tăng cường.
Hết năm học 2009 - 2010 có 49 trường học đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ
39,2%, (tăng 17,2% so với năm 2005).
So với tỷ lệ trường chuẩn quốc gia của huyện Nga Sơn thì huyện
Quảng Xương thấp hơn (Nga Sơn có tỷ lệ trường chuẩn đến 2010 là 45%).
Bên cạnh đó, tỷ lệ tốt nghiệp và đậu vào cao đẳng - đại học của huyện
Quảng Xương cũng kém hơn so với Nga Sơn - Thanh Hóa và Hoằng Hóa Thanh Hóa. Học sinh tốt nghiệp Trung học phổ thông trên địa bàn huyện
trong năm học 2007 - 2008 đạt 76%, năm học 2008 - 2009 đạt 81%, năm
học 2009 - 2010 đạt 85%. Từ năm học 2001 đến 2009 toàn huyện có 6.268
em đậu đại học, trong đó có 2 thủ khoa và 2 á khoa. Việc đẩy mạnh công
tác khuyến học, khuyến tài thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham
19


gia, xây dựng được trên 7 tỷ đồng quỹ khuyến học các cấp; thưởng khuyến
học cho trên 90.000 lượt học sinh và giáo viên.
Về số lượng trí thức có bằng cấp từ trình độ cao đẳng (không tính
trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề và cao đẳng nghề), đại học trở lên
thì đang có chuyển biến tích cực, tăng dần về số lượng và nâng cao về chất
lượng trong giai đoạn 2000 - 2010.
Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng số trí thức đang sinh sống và công
tác trên địa bàn huyện chiếm 0,37% dân số của huyện. Trong khi đó, tổng
số trí thức sinh sống và làm việc trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa là 1,5%,
Nghệ An là 1,8%, Hà Nội là 7,4%. Như vậy, tỷ lệ trí thức hiện đang sinh
sống và công tác trên địa bàn huyện là rất ít so với các huyện khác và của
cả tỉnh nói chung, các tỉnh khác nói riêng và ở các trung tâm phát triển kinh
tế - xã hội của cả nước.
Nếu so sánh với số trí thức là con em Quảng Xương ta thấy rằng số
lượng (3% dân số của huyện, chiếm 0,2% trí thức của cả nước) của đội ngũ
trí thức Quảng Xương là khá lớn, gần tương đương với bình quân trí thức
trên cả nước so với số dân (3,1%). Song, thực tế tổng số trí thức làm việc
và công tác trên huyện nhà là ít (0,3%).
Về tư tưởng - đạo đức của trí thức Quảng Xương, với Cuộc vận động
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được triển khai
sâu rộng trong toàn Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân, việc tổ chức, triển
khai có chất lượng các chuyên đề về Cuộc vận động nên không chỉ các tổ
chức Đảng, cơ quan, đơn vị đã xây dựng được tiêu chí đạo đức phù hợp…
tạo sự chuyển biến tích cực về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và
các tầng lớp nhân dân, đặc biệt trong đó là đội ngũ trí thức của huyện.
Hơn nữa với việc đẩy mạnh các hoạt động văn hóa - thông tin - thể
dục thể thao về quy mô cũng như chất lượng, đẩy mạnh phong trào “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” nên tạo điều kiện phát triển về
văn hóa trên toàn huyện nói chung và đội ngũ trí thức nói riêng. Do đó,
20


không những về đạo đức lối sống của trí thức Quảng Xương được nâng lên,
hầu hết đạt chuẩn mục tiêu xây dựng đội ngũ trí thức mới, mà các trí thức
cũng quan tâm tới các vấn đề văn hóa - xã hội, chính trị - quốc phòng - an
ninh của huyện nhiều hơn, nhận thức được vai trò và vị trí của mình đối với
sự nghiệp phát triển của đất nước. Cũng từ đó mà đẩy mạnh việc học tập,
nghiên cứu khoa học góp phần thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của huyện
nhà, tỉnh nhà và cả nước.
2.3. Hình thức và phương pháp bồi dưỡng trí thức
Để xây dựng được đội ngũ trí thức đạt yêu cầu và nhiệm vụ cách
mạng thời kỳ mới, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế thì
giáo dục vẫn đóng vai trò hàng đầu - lĩnh vực có ý nghĩa quyết định trong
việc nâng cao dân trí cho toàn dân, tạo điều kiện đầu tiên và quyết định cho
việc hình thành đội ngũ trí thức, nơi thu hút một bộ phận lớn trí thức có
trình độ cao làm việc. Chính giáo dục, đào tạo là nền tảng tạo ra nguồn lực
quyết định, lớn nhất của huyện Quảng Xương nói riêng, cả nước, là nơi
chuẩn bị một cách toàn diện về học thức, thể lực, nhân cách, lối sống và
những giá trị tinh thần, văn hóa quan trọng nhất cho lớp trẻ trở thành những
trí thức, người lao động, chủ nhân ưu tú của dân tộc, của chế độ hôm nay
và mai sau. Do đó, hình thức cơ bản xây dựng trí thức Quảng Xương trong
thời gian qua là tập trung vào giáo dục và đào tạo.
Bên cạnh đó, nổi bật và đóng góp không kém phần to lớn vào sự
nghiệp trồng người của đất nước, đào tạo đội ngũ trí thức tương lai của
huyện, không thể không nói tới Hội khuyến học Quảng Xương. Thành lập
ngày 08/05/2001 theo Nghị quyết 16/QD-UBND ngày 21/01/2001 của Uỷ
ban nhân dân huyện Quảng Xương. Qua 9 năm hoạt động sôi nổi, tích cực,
Hội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ khuyến học, khuyến tài, xây dựng
một xã hội học tập, trở thành một địa chỉ tin cậy của cấp ủy Đảng, chính
quyền và nhân dân huyện Quảng Xương.
21


Hiện nay, toàn huyện có 23.617 gia đình đăng ký gia đình hiếu học
và được công nhân 13.217 gia đình, số gia đình tiêu biểu được xét chọn là
2.617; 405/484 khu dân cư đăng ký thôn hiếu học. Trong đó, 162 khu dân
cư được xã công nhận, 43 khu dân cư được huyện công nhận là thôn hiếu
học tiêu biểu. Bên cạnh đó, khuyến học dòng họ cũng có sự phát triển. Năm
2003 toàn huyện mới có 123 dòng họ có ban khuyến học, đến 2009 đã có
405/796 dòng họ có ban khuyến học. Trong đó, có 277 dòng họ được Uỷ
ban nhân dân xã cấp dấy công nhận và huyện công nhận 41 dòng họ hiếu
học tiêu biểu.
Việc phát triển không ngừng về hội viên và chi hội khuyến học,
khuyến tài có hiệu quả rõ rệt trong từng gia đình, dòng họ, thôn xóm, nhà
trường, cơ quan, góp phần phát triển và nâng cao số lượng và chất lượng
đội ngũ trí thức Quảng Xương hiện nay và trong tương lai.
Bên cạnh đó, Trung tâm bồi dưỡng Chính trị (Trường Đảng) huyện
Quảng Xương cũng đã góp phần không nhỏ vào công tác trí thức của
huyện. Là cái nôi đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ huyện, là trung tâm
tuyên truyền các chủ trương đường lối chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước, xây dựng niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng với đội ngũ
cán bộ tâm huyết, nhiệt tình, tất cả vì học viên, vì sự nghiệp vinh quang của
Đảng mà phục vụ. Do đó, công tác trí thức luôn được Trung tâm tuyên
truyền, phổ biến đạt chất lượng, hiệu quả cao. Đặc biệt là trong 5 năm vừa
qua (2005 - 2010), Trung tâm đã mở được 5 lớp trung cấp với với 498 học
viên, 7 lớp sơ cấp với 720 học viên, 498 lớp bồi dưỡng cho đối tượng
Đảng, đảng viên mới, bí thư cấp uỷ, 15 lớp cho khối đoàn thể chính trị.
Trong 3 năm 2007 - 2010, hưởng ứng Cuộc vận động và học tập làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Trung tâm đã mở được 300 lớp chuyên
đề. Từ đó, nâng cao lập trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, viên chức và
đội ngũ trí thức của huyện.

22


Đồng thời, Phòng Văn hoá - thông tin huyện cũng đã góp phần nâng
cao chất lượng đời sống văn hoá, tinh thần và chất lượng cuộc sống của
nhân dân nói chung và đội ngũ trí thức nói riêng với các hoạt động văn hoá
ngày càng phong phú, đa dạng với chất lượng ngày một nâng cao; nhiều
câu lạc bộ được thành lập; nhiều thiết chế văn hoá được xây dựng mới.
Nói đến hình thức của công tác trí thức trên địa bàn huyện Quảng
Xương không thể không nói tới công tác truyền thanh trên địa bàn huyện.
Được thành lập từ ngày 21/06/1967, đến nay, Đài truyền thanh huyện có 9
cán bộ phóng viên. 100% cán bộ Đài huyện có trình độ từ trung cấp trở lên,
trong đó 70% trình độ đại học. 100% Đài cơ sở có cán bộ từ sơ cấp trở lên,
trong đó có 80% trình độ từ trung cấp báo chí hoặc nghiệp vụ kỹ thuật phát
thanh truyền hình.
Đài huyện mỗi tuần thực hiện 3 chương trình gốc với thời lượng từ
25 - 30 phút. Ngoài chương trình địa phương, đài huyện còn tiếp âm đài
tỉnh, đài Quốc gia mỗi ngày gần 300 phút. Mỗi năm thực hiện được từ 150
- 180 chương trình phát thanh phát trên sóng FM với gần 2.000 tin bài;
cộng tác với 2 Đài tỉnh và Báo Thanh Hoá đưa hàng trăm tin bài các loại.
Đài xã, thị trấn ngoài việc phát các bản tin của địa phương còn thường
xuyên làm tốt việc tiếp song đài huyện và đài cấp trên.
Để đảm bảo phát triển trí thức trong đội ngũ cán bộ huyện, từ cán bộ
trong các cấp, ngành Đảng bộ tới cán bộ quân sự, công an… huyện Quảng
Xương luôn tổ chức các lớp bồi dưỡng chính trị và bồi dưỡng về trình độ
chuyên môn cho cán bộ các cấp - ngành phù hợp với yêu cầu thực tiễn công
việc và nhiệm vụ hoặc gửi cán bộ, cử cán bộ đi đào tạo nâng cao về trình
độ chuyên môn cũng như lý luận tại các trường đại học ở trong và ngoài
nước…

23


III KẾT LUẬN
Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ, lao
động thủ công là chủ yếu, trải qua hơn 20 năm đổi mới và phát triển đến nay
nền kinh tế của nước ta đã có những đổi thay đáng kể và đạt được nhiều thành
tựu quan trọng. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nghèo nàn, đời sống dân cư
thấp Việt Nam đã vươn lên trở thành một nước có nền kinh tế khá ổn định, tiếp
cận được với nhiều nền kinh tế phát triển mà đáng kể là việc trở thành thành
viên của tổ chức thương mại thế giới WTO. Đây là một bước tiến lớn lao khẳng
định sự phát triển của nền kinh tế nhưng đồng thời cũng tạo ra không ít thách
thức đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực không ngừng để bắt kịp xu thế thời đại và để
không bị tụt hậu. Gắn với phát triển kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước,
phải không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, nâng cao vai trò lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.Trong
điều kiện hiện nay việc đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá gắn liền với
phát triển kinh tế tri thức là một bước đi đúng đắn để tạo nội lực mạnh cho kinh
tế trong nước đồng thời tăng ngoại lực để chúng ta có thể hoà nhập với các nền
kinh tế trên thế giới.Nghị quyết đại hội IX đã chỉ ra: “ Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 10 năm 2001 – 2010 nhằm: đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém
phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền
tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu
hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của
nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”. Chiến lược này đã được Đảng ta
vận dụng một cách sáng tạo trong điều kiện cụ thể của đất nước để vạch ra
đường lối đúng đắn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cho sự nghiệp
thúc đẩy nền kinh tế vươn lên mạnh mẽ mà không gì khác là phải : “công
nghiệp hoá hiện đại hoá gắn liền với phát triển kinh tế tri thức”.
24


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Giáo trình triết học Mác – Lênin / NXB Chính Trị Quốc Gia
2 Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin / NXB Chính Trị Quốc Gia
3 Văn kiện đại hội đảng VI, VII,VIII, IX, X
4 Bài tham luận: “đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế - vấn
đề giải pháp” – Thứ trưởng bộ thương mại: Lương Văn Tư
5 Bài tham luận: “Hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam” – PGS.TS Trần
Nguyễn Tuyên.
6 “Tác động của việc gia nhập các tổ chức thương mại thế giới và hội
nhập kinh tế quốc tế đến phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam – Một năm
nhìn lại” – Bộ trưởng bộ thương mại: Trương Đình Tuyển
7 “Hội nhập kinh tế quốc tế với phát triển bền vững” – Lê Thế Giới,
Võ Xuân Tiến, Trương Bá Thanh / NXB hành chínhh quốc gia
8

Tạp chí kinh tế và phát triển - Số chuyên đề của kinh tế Mac-

Lênin (Tháng 11/2001)
9

Tạp chí Kinh tế và Phát triển - Số 48/2001

10

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX

11

Tạp chí Khoa học xã hội

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×