Tải bản đầy đủ

PHÂN cấp QUẢN lý FDI – lợi THẾ đối với THU hút FDI

PHÂN CẤP QUẢN LÝ FDI – LỢI THẾ ĐỐI VỚI THU HÚT FDI
Giáo sư TSKH Nguyễn Mại
Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp đầu tư nước ngoài
-------------------------Tư duy phát triển kinh tế trong khi nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng
với thế giới toàn cầu hóa kinh tế quốc tế đòi hỏi không những phát huy lợi thế so
sánh động của quốc gia, mà rất cần phát huy bản sắc, lợi thế tự nhiên và xã hội
của từng vùng kinh tế, từng tỉnh và thành phố. Sự khác biệt gắn với lợi thế kinh
tế và xã hội của từng địa phương, tổng hòa những sự khác biệt đó sẽ có bức
tranh kinh tế- xã hội đa dạng, nhiều màu sắc ỏ từng vùng lãnh thổ và cả nước.
Từ tư duy đúng đắn đó đòi hỏi Chính phủ, các bộ phải có quy hoạch
ngành kinh tế gắn với quy hoạch vùng lãnh thổ; mỗi địa phương phải khai thác
và phát huy tối đa lợi thế tư nhiên và xã hội của mình đặt trong sự phân công và
hợp tác ở từng vùng lãnh thổ để giải quyết có hiệu quả những vấn đề đặt ra trong
quá trình phát triển của từng địa phương và toàn quốc.
1) Lý thuyết và thực tiễn phân cấp quản lý kinh tế
Chủ trương phân cấp quản lý cho chính quyền tỉnh, thành phố liên quan
đến vấn đề nhà nước trong kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Từ đầu thập
niên 90 của thế kỷ XX thế giới đang chứng kiến đồng thời hai khuynh hướng:
Thứ nhất, ngày càng có nhiều quốc gia theo đuổi nền kinh tế thị trường và
hội nhập quốc tế. Khi mô hình kế hoạch hóa tập trung tỏ ra không có hiệu quả,
các nước XHCN đã tiến hành nhiều phương thức khác nhau để đưa đất nước tiến

lên. Trung Quốc thực hiện “ cải cách và mở cữa” từ năm 1988, Việt Nam tiến
hành “ đổi mới và hội nhập” từ 1986. Nước Nga và các quốc gia thuộc Liên Xô
(cũ) áp dụng mô hình kinh tế thị trường gắn với thay đổi thể chế chính trị. Ấn
Độ và nhiều nước đang phát triển ở Châu Á, Châu Mỹ, Châu Phi thực hiện chính
sách mở cữa thị trường với thế giới. Do vậy, ngoại trừ một số nước đang tự cô
lập với thế giới, xu hướng phát triển chủ đạo của các quốc gia là kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế. Thị trường toàn cầu với giòng chu chuyển hàng hóa,
vốn, công nghệ, lao động qua biên giới ngày càng mở rộng; thị trường dân tộc
trở thành bộ phận hữu cơ, chịu tác động của thị trường toàn cầu. Đó là xu hướng
quyết định các đặc trưng của “ nền văn minh xuyên thị trường” như cách diễn
đạt trong quyển “ Đợt sóng thứ ba”.
Thứ hai, sự tan rã của một số cấu trúc nhà nước- dân tộc cùng với việc ra
đời của nhiều quốc gia mới, những khu vực tự trị và phong trào ly khai ở một số
22


nước. Liên bang xô viết tan rã sau cuộc khủng hoảng chính trị- xã hội vào cuối
thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ XX với sự xuất hiện của những quốc
gia độc lập. Cuộc chiến tranh bùng phát vào trung tuần tháng 8 năm 2008 giữa
Grudia với hai nước Cộng hòa tự trị Nam Ossetia và Abkhazia là đỉnh điểm của
phong trào ly khai và chống ly khai ở một nước vốn thuộc Liên Xô (cũ). Liên
bang Nam tư (cũ) chia ra thành nhiều nước; năm 2008 thành phố Côxơvô tuyên
bố độc lập tách khỏi nước Secbi. Phong trào đòi quyền tự trị dân tộc đã diễn ra ở
Indonexia, Philippines, Êtiôpi và ở nhiều nước khác. Các hòn đảo nhỏ như
Đôfinica ở Caribê, Fiji ở Nam Thái Bình Dương tuyên bố chủ quyền quốc gia và
gửi đại diện đến Liên Hiệp Quốc.
Ngay trong lòng nước Mỹ, quan hệ giữa các bang ở miền Bắc và miền
Nam vốn là nguyên nhân gây ra cuộc nội chiến thảm khốc từ những ngày đầu
thành lập Hợp chúng quốc Hoa kỳ, thì ngày nay phong trào đòi ly khai đang lớn
dần đe dọa tách thành quốc gia độc lập. “ Ở California ngày nay có một cuốn
tiểu thuyết bí mật bán rất chạy, nội dung kêu gọi tách miền Tây Bắc ra khỏi Mỹ,
bằng cách đe dọa cho nổ mìn hạt nhân ở New York và Chicago. Những kịch bản
đòi sự phân biệt khác cũng vẩn liên tiếp xuất hiện. Như một bản báo cáo chuẩn
bị cho Kissinger khi ông còn là cố vấn an ninh, đã bàn đến khả năng California
và miền Tây Bắc tách ra để thành lập thực thể địa lý nói tiếng Tây Ban Nha hay
nói hai thứ tiếng, gọi là nước Chicano Quebec”.2
Những ví dụ trên đây cho thấy rằng, cùng với quá trình toàn cầu hóa là sự
phát triển của chủ nghĩa địa phương trong mỗi quốc gia, có nơi nhân danh đòi
quyền tự trị của dân tộc thiểu số, của sắc tộc, ngôn ngữ, có vùng thì nhấn mạnh
đến đặc điểm kinh tế- xã hội và truyền thống. Chính phủ nhiều nước đứng trước

tình thế tiến thoái lưỡng nan, hoăc phải phân quyền mạnh mẽ cho chính quyền
địa phương đến mức “ quyền tự trị” hoặc đòi ly khai trở thành quốc gia độc lập
nhờ có sự hậu thuẩn của các nước lớn, hoặc giữ nguyên trạng với quyền lực tập
trung vào Chính phủ trung ương thì cuộc đấu tranh sẽ tiếp diễn, tình trạng bất ổn
chính trị- xã hội có nguy cơ bùng phát.
Cựu Thủ tướng Canada, Pierre Trudeau nói về chủ nghĩa ly khai của vùng
nói tiếng Pháp của nước này như sau: “ Bạn không thể có một hệ thống hữu hiệu
hoạt động của Chính phủ liên bang nếu như một bộ phận của nó, tỉnh hay bang

2

Dẫn từ Alvin Toffler: “ Đợt sóng thứ ba”, Nxb Khoa học xã hội, 2007, tr. 523

23


có một quy chế rất quan trọng, nếu nó có một mạng lưới quan hệ với Chính phủ
trung ương nhiều hơn những thành phố khác”.3
Cả hai khuynh hướng đó đã làm thay đổi chức năng và vai trò của Nhà
nước- dân tộc: i) Một phần chức năng của nó được các tổ chức quốc tế, công ty
xuyên quốc gia và tổ chức hợp tác khu vực thực hiện khi một nước đã hội nhập
với thế giới, tham gia thị trường khu vực và thế giới, thu hút đầu tư quốc tế,
chấp nhận luật chơi chung toàn cầu; ii) Một phần chức năng của nó được chuyển
cho chính quyền địa phương với cách thức thấp nhất là “ phân cấp quản lý”, địa
phương được thực hiện một số quyền và nghĩa vụ vốn trước đây thuộc Chính
phủ trung ương; cao hơn là trao quyền tự trị cho một vùng lãnh thổ, Chính phủ
trung ương chỉ giữ lại một vài quyền tập trung thống nhất như ngoại giao và
quốc phòng, nấc thang cuối cùng là ly khai hình thành Nhà nước độc lập.
“ Chính trong khi những người dân tộc chủ nghĩa yêu cầu nói thay cả
nước thì những người toàn cầu luận lại yêu cầu nói thay cả thế giới…Tóm lại, từ
kinh tế và chính trị đến tổ chức và hệ tư tưởng chúng ta đang chứng kiến một
cuộc tấn công phá hoại từ bên trong và bên ngoài vào cái cột trụ của nền văn
minh Đợt sóng thứ hai: Nhà nước- dân tộc”.4
J. Naisbitt nhận định, nền kinh tế thế giới càng lớn thì những phần tử nhỏ
nhất trong nó sẽ càng mạnh hơn. “ Tôi nhận thấy ở đây nghịch lý là một cách
hiểu chung chung; một câu nói hay một công thức mà dường như là trái ngược
hoặc vô lý, nhưng hiện nay lại có giá trị hoặc hợp lý. Một nghịch lý nổi tiếng
trong kiến trúc đã đóng góp cho nghề này rất nhiều là “ít nghĩa là nhiều”, có
nghĩa là bạn càng ít tô vẽ lên ngôi nhà thì trông nó càng lịch sự hơn và nhiều
công việc kiến trúc hơn có vẻ được thực hiện”5 Theo quan điểm này thì trong
khi các quốc gia hướng ra toàn cầu để tận dụng lợi thế so sánh động trong một
thế giới đang biến đổi nhanh chóng thì đồng thời phải hướng về địa phương,
phát huy bản sắc, tuyền thống, lợi thế của từng vùng lãnh thổ để tạo thành sức
mạnh quốc gia trong hội nhập quốc tế.
Phân cấp quản lý cho chính quyền tỉnh, thành phố là đòi hỏi khách quan
của việc nâng cao hiệu năng quản lý nhà nước, bởi vì quản lý là quá trình thu
thập và xử lý thông tin để ra quyết định; tính phức tạp của nền kinh tế quốc dân
gia tăng đến mức chính phủ trung ương không đủ năng lực tiếp nhận khối lượng
3

Dẫn từ “ Đợt sóng thứ ba”, sách đã dẫn, tr. 527
Đợt sóng thứ ba, sách đã dẫn, tr.540
5
John Naisbitt: Nghịch lý toàn cầu, Thông tin chuyên đề, 1997, tr. 21
4

24


khổng lồ các giòng thông tin theo ngành và theo lãnh thổ để đưa ra quyết định
kịp thời, đúng đắn đối với vấn đề và sự kiện. Chính quyền tỉnh, thành phố được
giao một số chức năng, quyền hạn vốn thuộc Chính phủ, bộ, ngành trung ương
để xử lý kịp thời và đúng đắn các vấn đề kinh tế- xã hội của địa phương.
Vấn đề cốt lõi là điều kiện bảo đảm để những chức năng, quyền hạn được
giao cho chính quyền địa phương được thực hiện tốt hơn. Có 4 yếu tố chính :
(1) Đặc điểm tự nhiên của địa phương: Cơ cấu hành chính của nước ta có
thể chia làm ba loại, i) Hà Nội và TPHCM là với dân số trên 6 và 7 triệu người,
thuộc loại siêu đô thị ( theo cách phân loại của thế giới), ii) Hải Phòng, Đà
Nẵng, Cần Thơ là đô thị loại vừa và iii) Các tỉnh có đô thị nhưng chủ yếu là
nông thôn.
(2) Trình độ phát triển kinh tế- xã hội của địa phương: Hà Nội và
TPHCM là trung tâm kinh tế lớn, trung tâm văn hóa, khoa học của cả nước, Hà
Nội là đầu não chính trị; Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ là trung tâm kinh tế,
giáo dục của từng vùng. Các tỉnh đồng bằng Sông Hồng và Sông Cửu Long có
trình độ phát triển hơn các tỉnh Trung du, Miền núi Phia Bắc, Tây Nguyên.
(3) Khối lượng và tính phức tạp của quản lý nhà nước: Các thành phố
gắn với quản lý đô thị và quá trình đô thị hóa, di dân, biến động dân số, việc
làm, cơ sở hạ tầng kỷ thuật- xã hội; các tỉnh gắn với quá trình công nghiệp hóa
nông thôn, vấn đề tam nông…
(4) Năng lực của cán bộ quản lý nhà nước: các thành phố có điều kiện tốt
hơn các tỉnh về lựa chọn đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, xây dựng hệ thống
thông tin, bồi dưỡng cán bộ.
Phân cấp quản lý cho chính quyền địa phương cần tính đến 4 yếu tố đó để
có cơ chế và mức độ thích hợp, không dàn đều nhằm mục đích khi được phân
cấp thì chính quyền địa phương có đủ điều kiện bảo đảm thực hiện tốt chức năng
quản lý nhà nước.
Chủ trương phân cấp là đúng, nhưng do không tính đầy đủ các yếu tố
chính nên đã cào bằng, hai thành phố lớn Hà Nội và TPHCM vẩn quá phụ thuộc
vào nhiều quyết định của trung ương, trong khi một số địa phương chưa đủ điều
kiện bảo đảm thực hiện tốt quản lý nhà nước sau khi phân cấp.
2) Về phân cấp quản lý đối với FDI
25


Nước ta bắt đầu thu hút FDI từ đầu 1988, từ đó đến tháng 4/1989 Bộ Kinh
tế đối ngoại ( nay là Bộ Công thương ) cấp giấy phép đầu tư đối với FDI. Tháng
5/1989 Ủy ban nhà nước về Hợp tác và Đầu tư- SCCI được thành lập có chức
năng quản lý nhà nước đối với FDI, việc cấp phép đầu tư được chuyển giao cho
SCCI. Năm 1993- 1995 mặc dù một vài thành phố kiến nghị về việc phân cấp
cho chính quyền địa phương nhưng Chính phủ chủ trương thống nhất quản lý
nhà nước đối với FDI vào SCCI.
Cuối 1995 SCCI và Ủy ban kế hoạch nhà nước hợp nhất thành Bộ Kế
hoạch và Đầu tư- MPI. Chủ trương phân cấp quản lý được thực hiện.

Từ 1996 đến quý III/2006 Chính phủ phân cấp cho chính quyền tỉnh,
thành phố thẩm định và cấp giấy phép các dự án FDI được giới hạn bởi quy mô
vốn và lĩnh vực đầu tư. Trừ một số dự án FDI về dầu khí, bảo hiểm, ngân hàng,
kiểm toán do các bộ cấp phép, UBND TP Hà Nội và TPHCM được cấp phép các
dự án FDI có vốn đăng ký đến 10 triệu USD, các địa phương khác đến 5 triệu
USD, Ban quản lý KKT, KCN, KCX và KCNC
( gọi tắt là Ban quản lý) được cấp phép các dự án FDI có vốn đăng ký đến 30
triệu USD. Một nghịch lý khi thực hiện là UBND tỉnh, thành phố được cấp phép
những dự án không quá 5-10 triệu USD, trong khi các Ban quản lý trực thuộc
UBND tỉnh, thành phố thì được cấp phép dự án đến 30 triệu USD. Các thành
phố lớn còn có dự án dịch vụ, khách sạn, văn phòng cho thuê do UBND cấp
phép. Các tỉnh chủ yếu là dự án công nghiệp nằm trong các KCN nên phần lớn
việc cấp phép dự án FDI do Ban quản lý thực hiện.
Từ quý IV/2006 đến nay trừ một số dự án chuyên ngành vẩn quy định như
cũ, Chính phủ đã giao cho chính quyền địa phương và Ban quản lý cấp phép các
dự án FDI, đối với các dự án có tầm quan trọng quốc gia thì phải được Thủ
tướng Chính phủ chấp thuận trên cơ sở ý kiến của các bộ liên quan.
Chủ trương phân cấp quản lý nhà nước đối với FDI nhằm mục đích phát
huy tính sáng tạo, ý tưởng mới của lãnh đạo tỉnh, thành phố khai thác tốt hơn lợi
thế so sánh của từng địa phương trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội, kể cả
thu hút FDI. Tuy vậy về cơ bản không được lãnh đạo nhiều địa phương coi trọng
đúng mức. Lấy tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu làm ví dụ.

26


Bà Rịa- Vũng Tàu là một trong những địa phương khá thành công trong
thu hút FDI. Cho đến nay dự án FDI lớn và có hiệu quả nhất là Liên doanh dầu
khí Việt- Xô ( Vietxopetro ). Sau khi có Luật đầu tư nước ngoài thì Bà RịaVũng Tàu là một trong các địa phương được cấp phép dự án FDI đầu tiên. Các
doanh nghiệp FDI đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, làm thay đổi
bộ mặt của thành phố Vũng Tàu và cả tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
Tuy vậy, có một thực tế cần được lưu ý là ngoài dầu khi thì các dự án FDI
khác của Bà Rịa- Vũng Tàu cũng tương tự như nhiều địa phương khác. Đó là
tình trạng phổ biến của cả nước, trên 300 khu công nghiệp có cơ cấu sản xuất na
ná như nhau, 15 Khu kinh tế không có sự khác biệt nhiều lắm. Nếu nhìn rộng ra
cơ cấu kinh tế từng địa phương thì mỗi tỉnh, thành phố của nước ta là một “
vương quốc” có đủ cảng biển, nhiều nơi đã có hoặc sắp có cảng hàng không, sản
xuất từ sắt thép đến quần áo, dày dép, xi măng, nhưng lại chưa hình thành được
kinh tế vùng lãnh thổ- yếu tố cấu thành nền kinh tế quốc dân có năng lực cạnh
tranh cao.
Vũng Tàu vốn là một đặc khu kinh tế, nghĩa là một địa phương có những
khác biệt so với nhiều địa phương khác; khác biệt cả về tự nhiên và cả về điều
kiện phát triển. Không chỉ so với những tỉnh nằm trong hai vùng châu thổ Sông
Hồng và Sông Cửu Long, mà cả những địa phương ven biển thì Bà Rịa-Vũng
Tàu ( và Quảng Ninh ) có ưu thế nổi trội.
Phần lớn trử lượng dầu khí nằm ngoài khơi Vũng tàu, đã mấy chục năm
Vietxopetro khai thác dầu thô, đáng ra nhà máy lọc dầu đầu tiên đã được xây
dựng từ năm 1995 trên địa bàn tỉnh này, nhưng do trung ương quyết định chuyển
đi nơi khác lúc đầu là Văn Phong hiện nay là Dung Quất, do đó lợi thế tự nhiên
từ khai thác dầu thô đến lọc dầu và hóa dầu đã không được tận dụng. Liệu có
nên trên cơ sở nghiên cứu hiệu quả kinh tế- xã hội, đặt lại vấn đề để đề xuất với
trung ương về việc hình thành liên hiệp khai thác dầu thô- lọc dầu- hóa dầu tại
địa phương này (!).
Năm 1993 Bà Rịa- Vũng Tàu đã được cấp phép xây dựng cảng biển trung
chuyển quốc tế Sao Mai- Bến Đình theo phương thức BOT với vốn đầu tư 650
triệu USD nhưng không được thực hiện, từ đó đến nay tỉnh không tìm cách khai
thác lợi thế to lớn này.
Bà Rịa-Vũng Tàu là vùng biển đẹp đối với du lịch trong nước và quốc tế.
Nhiều năm vừa qua tỉnh đã chú trọng phát triển ngành dịch vụ quan trọng này.
27


Tuy vậy, ¼ thế kỷ chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập với thế giới, đã có
lúc nào tỉnh thử so sánh Vũng Tàu với Phù- Khẹt của Thái lan để biết được
khoảng cách còn khá xa về số lượng khách du lịch, nguồn thu, các dịch vụ, tính
hấp dẫn giữa hai địa phương, mặc dù vẻ đẹp tự nhiên của Phù- Khẹt không bằng
Vũng tàu.
Làm gì và bằng cách nào để tận dụng các lợi thế đó tạo ra bước đột phá
phát triển kinh tế- xã hội của địa phương đem lại lợi ích ngày càng nhiều hơn
cho cộng đồng dân cư địa phương (?). Đó không chỉ là ý muốn hay chủ trương,
mà khi đã trở thành định hướng thì phải dày công xây dựng thương hiệu, hệ
thống tổ chức, nguồn nhân lực chuyên nghiệp có trình độ cao.
Khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo của từng tỉnh, thành phố phải
gắn với cơ cấu kinh tế của từng vùng lãnh thổ, từng địa phương. Các trường đại
học, cao đẳng, dạy nghề, viện nghiên cứu được hình thành theo định hướng phát
triển kinh tế- xã hội, dần trở thành những cơ sở nghiên cứu khoa học và đào tạo
chuyên nghiệp có chất lượng cao, trở thành thương hiệu của từng địa phương.
Chủ trương phân cấp quản lý cho chính quyền địa phương có tác động
tích cực đến tính chủ động của chính quyền tỉnh, thành phố trong hoạt động
XTĐT, cải thiện môi trường đầu tư, giảm thiểu phiền hà, tiết kiệm thời gian và
chi phí đầu tư. Báo cáo “ Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2011” của
VCCI cho thấy, năm 2009 doanh nghiệp FDI phải chờ hai tháng để gia nhập thị
trường thì năm 2011 còn 43 ngày, thời gian cấp phép từ 60,9 ngày còn 49,5
ngày, đăng ký kinh doanh từ 48 ngày còn 20,8 ngày.
Tuy vậy cũng đã nảy sinh một số vấn đề cần được lưu ý:
- Một số địa phương đã ban hành và thực hiện các quy định về ưu đãi đầu
tư trái pháp luật làm tổn hại lợi ích chung của đất nước.
- Việc tiếp xúc, lựa chọn nhà đầu tư chưa thận trọng, đã có tình trạng một
số nhà đầu tư “rởm” được cấp GCNĐT dự án FDI hàng trăm triệu đô la để bán
lại, khi không thực hiện được thì buộc phải trả lại GCNĐT.
- Năng lực thẩm định của cán bộ một số địa phương đối với dự án FDI
lớn rất hạn chế, nên đã xảy ra tình trạng cấp phép mà không đảm bảo các điều
kiện cần thiết, thậm chí cùng thời gian đã có các dự án xi măng, sắt thép quy mô
lớn được nhiều địa phương cấp phép không phù hợp với quy hoạch ngành và
vùng lãnh thổ.
28


- Các bộ thiếu công khai quy hoạch phát triển ngành trên từng vùng lãnh
thổ và địa phương, định hướng phát triển, tiêu chuẩn, định mức kinh tế- kỷ thuật
để chính quyền địa phương căn cứ thực hiện đúng luật pháp, thiếu kiểm tra, phát
hiện hành vi phạm pháp để xử lý.
Theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 1617/CP-Ttg ngày 19/9/2011,
Bộ KH&ĐT phối hợp với các bộ, ngành và chính quyền địa phương tiến hành
đánh giá thành tựu, vấn đề, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm của 25 năm thu
hút FDI, trên cơ sở đó thay đối cơ bản chính sách thu hút và sử dụng FDI, coi
trọng hơn chất lượng và hiệu quả vốn FDI, sửa đổi ưu tiên ngành, lãnh thổ và
chính sách ưu đãi để khu vực FDI đóng góp tốt hơn việc thực hiện mục tiêu
tăng trưởng kinh tế với tốc độ hợp lý, bảo đảm tính bền vững và xây dựng nền
kinh tế xanh.
Định hướng mới về FDI đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống luật pháp như
Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp năm 2005, hệ thống luật thuế và các luật có liên
quan, nâng cao hiệu năng quản lý nhà nước từ vận động đầu tư, thẩm định và
cấp phép, hướng dẫn, hổ trợ nhà đầu tư triển khai dự án và kinh doanh, thanh tra,
kiểm tra, xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật.

Vấn đề phân cấp quản lý đối với FDI được đặt ra để xem xét nhưng không
dễ thay đổi do hai nguyên nhân sau đây: (1) Về tâm lý lãnh đạo địa phương
muốn mở rộng phân cấp, không muốn “ trả lại” Chính phủ quyền hạn và trách
nhiệm đã được giao từ năm 2006, thậm chí có cán bộ phát biểu “ làm mình, làm
mẩy” tùy trung ương, muốn thế nào cũng được; bởi vì trên thực tế, từ khi được
phân cấp mặc dù đã xảy ra nhiều vụ vi phạm pháp luật của một số địa phương
do vượt quá thẩm quyền, nhưng chỉ được “ nhắc nhở”, chưa có cá nhân nào bị
xử lý (2) Lãnh đạo trung ương ở nước ta thường chiều lòng các tỉnh, thành phố,
nhất là trong dịp đi thăm các địa phương, dễ chấp nhận và quyết định tại chổ
kiến nghị về xin thêm vốn, kinh phí, quyền hạn mà không cân nhắc lợi ích toàn
cục, kết quả là “ lạm phát’ cảng hàng không, cảng biển, trường đại học và cao
đẳng, đầu tư dàn trải kém hiệu quả
Mặc dù vậy, để bảo đảm lợi ích quốc gia trong thu hút FDI thì cần tiến
hành điều tra, nghiên cứu với thái độ khách quan, khoa học kết quả và vấn đề
thực hiện chủ trương phân cấp toàn diện cho chính quyền tỉnh, thành phố từ
2006 để có phương án điều chỉnh hợp lý, vừa phát huy dược tính sáng tạo của
29


địa phương, vừa bảo đảm tính thống nhất luật pháp, nâng cao hiệu năng quản lý
nhà nước. Ba phương án được kiến nghị:
Phương án tối đa, điều chính hợp lý quy định phân cấp cho chính quyền
địa phương, đối với những dự án quan trọng như điện năng, giao thông, công
nghiệp chế tạo có vốn đầu tư từ 50 triệu USD, để bảo đảm lợi ích toàn cục trong
phân bố lực lượng sản xuất theo vùng lãnh thổ và trong cả nước thì do Bộ
KH&ĐT cấp phép sau khi có ý kiến của các bộ, ngành. UBND tỉnh, thành phố
và Ban quản lý cấp phép các dự án quy mô vừa dưới 50 triệu USD. Trung Quốc
mặc dù dân số mỗi tỉnh gần bằng hoặc nhiều hơn dân số nước ta nhưng vẩn duy
trì cơ chế phân cấp như vậy.
Phương án trung bình điều chỉnh một phần quy định phân cấp cho chính
quyền địa phương: có cơ chế đặc thù đối với Hà Nội và TPHCM theo hướng giữ
nguyên quy định phân cấp hiện tại; các tỉnh, thành phố thì thực hiện theo
phương án tối đa.
Phương án tối thiểu giữ nguyên quy định hiện hành với điều kiện quy
hoạch ngành, lĩnh vực gắn với quy hoạch vùng lãnh thổ và địa phương được
công bố công khai, chính quyền địa phương chỉ được cấp phép đầu tư trong
khung khổ dự án đã được quy hoạch với trình tự và thủ tục chặt chẽ hơn, rà soát,
bãi bỏ các quy định của chính quyền tỉnh, thành phố trái với thẩm quyền; các bộ,
ngành xây dựng, ban hành, hướng dẫn thực hiện các định mức, tiêu chuẩn, quy
trình, quy phạm, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện và xử lý nghiêm mọi vi
phạm.
Phương án tối thiểu dễ thực hiện vì không gặp phải phản ứng tiêu cực của
địa phương, nhưng cũng là phương án mang tính thỏa hiệp không xuất phát từ
yêu cầu nâng cao hiệu năng quản lý nhà nước đối với FDI.
Kết luận
Lý thuyết lợi thế so sánh ngày nay của mỗi nước, mỗi địa phương gắn với
những gì mà nước đó, địa phương đó sẽ tạo ra chứ không phải do các nhân tố
sẵn có. Nguồn duy nhất tạo ra lợi thế lâu dài và bền vững là tiềm lực trí tuệ, do
vậy đầu tư để bồi dưỡng, khai thác nguồn lực tri thức của con người chính là
đầu tư cho tương lai tươi sáng của đất nước và từng địa phương.
Vốn FDI tiếp tục đổ vào nước ta ngày một nhiều hơn; nước ta cũng cần có
nguồn vốn đó để bảo đảm đủ nguồn lực cho nhu cầu phát triển kinh tế. Các bài
30


học thành công và thất bại trong kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế trong đó có
thu hút FDI là tài sản quý giá để người Việt Nam khôn ngoan hơn trong việc tiếp
nhận vốn đầu tư quốc tế có hiệu quả hơn và phát triển bền vững hơn./.

31



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×