Tải bản đầy đủ

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KCN, KKT để THU hút vốn đầu tư nước NGOÀI

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KCN, KKT
ĐỂ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
(Bài viết của đ/c Vũ Đại Thắng, Vụ trưởng Vụ Quản lý các KKT
Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Phát triển KCN, KCX là định hướng chính sách quan trọng của Đảng và
Nhà nước ta. Chủ trương của Đảng qua các thời kỳ đều xác định vai trò của
KCN, KCX là một trong những nền tảng của công cuộc công nghiệp hóa (CNH),
hiện đại hóa (HĐH) đất nước, thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản
trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Thực tế đóng góp của hệ thống
các KCN, KCX vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong hơn 20 năm qua đã
khẳng định tính đúng đắn của chủ trương và mô hình KCN, KCX. Tính đến
9/2012, cả nước đã có 283 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên
80.100 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt gần 45.100 ha,
chiếm khoảng 65% tổng diện tích đất tự nhiên. Các KCN được thành lập trên 58
tỉnh, thành phố trên cả nước; được phân bố trên cơ sở phát huy lợi thế địa kinh
tế, tiềm năng của các Vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời phân bố ở mức độ hợp
lý một số KCN ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hơn nhằm tạo
điều kiện cho ngành công nghiệp địa phương từng bước phát triển.
Từ bài học thành công của các KCN, KCX, trong những năm gần đây
nước ta đã từng bước hình thành hệ thống các KKT ven biển. Trải qua 9 năm
phát triển các KKT ven biển đang từng bước thể hiện vai trò động lực thúc đẩy

phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và vùng. Tính hết tháng 9/2012,
trên cả nước đã có 15 KKT ven biển được thành lập với tổng diện tích 697.800
ha, trong đó 10% diện tích đất phục vụ trực tiếp cho sản xuất công nghiệp, du
lịch, dịch vụ, thương mại là các ngành tạo ra giá trị sản xuất cho KKT ven biển.
Mục tiêu hàng đầu của các KCN, KKT đã đặt ra ngay từ giai đoạn đầu
phát triển là thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) để
phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH. Đến nay, về cơ bản, các KCN, KKT đã thực
hiện tốt mục tiêu này thể hiện qua những kết quả thu hút FDI chủ yếu sau đây:
Một, KCN, KKT đã huy động được lượng vốn FDI lớn trong các lĩnh
vực sản xuất, kinh doanh.
Trong 20 năm qua, các KCN, KCX đã trở thành điểm đến hấp dẫn đối với
các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài.
Tính đến cuối tháng
9/2012, các KCN, KCX đã thu hút được 4.300 dự án có vốn đầu tư nước ngoài
còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt hơn 64,8 tỷ USD, tổng vốn đầu tư
thực hiện đạt 32,7 tỷ USD, bằng 51% tổng vốn đầu tư đăng ký. Hàng năm vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào KCN, KCX chiếm từ 40-45% tổng vốn
94


FDI đăng ký tăng thêm của cả nước, trong đó các dự án FDI về sản xuất công
nghiệp trong KCN, KCX chiếm gần 80% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào ngành công nghiệp cả nước. Riêng trong 9 tháng đầu năm 2012, tổng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đăng ký vào các KCN, KCX đạt 4,43 tỷ USD,
tăng 30% so với cùng kỳ năm 2011.
Trong thời gian qua, việc thu hút vốn đầu tư vào KKT ven biển bước đầu
đạt những kết quả khả quan. Luỹ kế đến nay, các KKT ven biển đã thu hút được
144 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký 38,4 tỷ USD. Trong đó, một số dự
án lớn và quan trọng tại KKT Nghi Sơn, Vũng Áng, Dung Quất, Chu Lai, Hải
Phòng như nhà máy lọc dầu số 2, khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu Sơn
Dương , nhà máy cơ khí nặng Dossan, nhà máy sản xuất động cơ ô tô Hyundai
Trường Hải. Các dự án sản xuất kinh doanh trong KKT đã lấp đầy 40% tổng
diện tích đất dành cho sản xuất công nghiệp, du lịch, dịch vụ trong KKT ven
biển.
Hai, đầu tư phát triển hạ tầng KCN, KKT trong đó có đầu tư nước
ngoài đã tạo ra một mạng lưới các công trình kết cấu hạ tầng có giá trị lâu
dài, góp phần hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng trên cả nước.
Tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng của 283 KCN khoảng 10 tỷ USD, trong
đó có 36 KCN do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm chủ đầu tư với
tổng vốn đăng ký trên 2 tỷ USD (trên 20% tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng đăng

ký). Tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng KCN thực hiện đến cuối tháng 9/2012 đạt
4,5 tỷ USD, bằng 44% tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng đăng ký, trong đó vốn
FDI thực hiện khoảng 1, 2 tỷ USD. Phần lớn các KCN do nhà đầu tư nước ngoài
làm chủ đầu tư đều cơ bản hoàn thành xây dựng kết cấu hạ tầng và đi vào hoạt
động. Kết cấu hạ tầng KCN, KCX vừa có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho
nhà đầu tư thứ cấp trong việc triển khai nhanh dự án sản xuất kinh doanh, vừa
góp phần cải thiện hệ thống kết cấu hạ tầng chung, đặc biệt là hạ tầng nông thôn
của các địa phương phục vụ tích cực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa
phương và cả nước.
Đối với các KKT, do diện tích lớn và mới được thành lập, các KKT ven
biển đều đang trong giai đoạn đầu tư, xây dựng hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ
thuật, bước đầu đã hoàn thành một số công trình hạ tầng quan trọng để hoạt
động gồm: một số tuyến đường giao thông trục chính, hệ thống cấp điện, cấp
nước, thông tin liên lạc, hạ tầng khu tái định cư, hạ tầng KCN… đáp ứng nhu
cầu của các nhà đầu tư, mang lại hiệu quả tích cực cho sự phát triển của khu
vực.
Ba, FDI trong KCN, KCX có đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng sản
xuất công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu và sức cạnh tranh của nền kinh
tế.
95


Thực tế 20 năm xây dựng và phát triển cho thấy, khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài trong các KCN, KCX đã có những đóng góp ngày càng lớn vào việc
nâng cao giá trị gia tăng trong ngành công nghiệp. Tỷ trọng vốn FDI trong KCN,
KKT chiếm tới 80% tổng vốn FDI đầu tư vào ngành công nghiệp cả nước.
Ngoài ra, qua vai trò của FDI trong KCN, KKT, sức cạnh tranh của các
doanh nghiệp KCN, KKT trên thị trường thế giới được nâng cao đáng kể trong
thời gian qua, thể hiện ở giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN, KKT tăng
đều qua các năm với tốc độ tăng bình quân cao hơn tốc độ tăng kim ngạch xuất
khẩu bình quân của cả nước. Tỷ trọng giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp
KCN, KKT trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước đã tăng lên từ mức
20% năm 2005 và 25-30% trong những năm gần đây.
Bốn, khu vực FDI trong KCN, KKT đã góp phần quan trọng trong việc
giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động, đào tạo nguồn nhân lực
phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tính đến 12/2011, các KCN, KKT đã giải quyết việc làm cho khoảng 2
triệu lao động trực tiếp, trong đó hơn 1,2 triệu lao động làm việc cho khu vực
vốn đầu tư nước ngoài. FDI trong KCN, KKT sử dụng lao động có chuyên môn
kỹ thuật phù hợp với công nghệ mới áp dụng vào sản xuất đạt trình độ khu vực
và quốc tến, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho Việt Nam để hình thành đội
ngũ lao động của nền công nghiệp hiện đại. Đến nay, nhiều trường cao đẳng
hoặc cơ sở dạy đào tạo công nhân làm việc trong KCN đã được xây dựng. Đặc
biệt đã hình thành mô hình liên kết đào tạo và sử dụng nhân lực giữa các khu
công nghiệp và nhà trường, góp phần quan trọng giải quyết tình trạng thiếu
nghiêm trọng lao động kỹ thuật hiện nay.
Vấn đề nhà ở cho người lao động đã được quan tâm hơn, một số địa
phương đã khởi công và hoàn thành các dự án xây dựng nhà ở công nhân KCN,
góp phần giải quyết chỗ ở cho công nhân lao động tại các KCN.
Năm, các nhà đầu tư nước ngoài trong KCN, KKT tuân thủ tương đối
tốt pháp luật về môi trường, góp phần tích cực vào công tác bảo vệ môi trường
sinh thái.
KCN, KKTlà nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp, do đó có điều
kiện xử lý tập trung các chất thải của các doanh nghiệp, tránh tình trạng khó
kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp do phân tán về địa điểm sản xuất.
Trong thời gian gần đây, nhận thức của các cơ quan quản lý Nhà nước và doanh
nghiệp KCN, KKT về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững đã được cải thiện.
Đến 12/2011, trong tổng số KCN đã vận hành có 118 KCN có hệ thống xử lý
nước thải tập trung, chiếm 65% tổng số KCN đã vận hành và hơn 30 KCN đang
xây dựng công trình xử lý nước thải tập trung. Trong số 36 KCN do nhà đầu tư
nước ngoài làm chủ đầu tư phát triển hạ tầng, đã có tới 25 KCN đã xây dựng
96


công trình xử lý nước thải tập trung, các KCN còn lại cũng đang triển khai các
thủ tục để đầu tư xây dựng.
Sáu, thu hút FDI trong KCN, KKT gắn liền với việc từng bước hoàn
thiện cơ chế, chính sách và môi trường đầu tư vào KCN, KKT
- Quá trình phát triển KCN, KCX gắn liền với quá trình đổi mới, hoàn
thiện cơ chế, chính sách, mô hình quản lý đầu tư nói chung và KCN, KCX nói
riêng. Nghị định số 36/CP ngày 24/04/1997 là một bước ngoặt trong cơ chế,
chính sách đối với KCN, KCX, bao quát khá đầy đủ các khía cạnh trong thực
tiễn hoạt động của KCN, KCX. Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 đã
tiếp tục hoàn thiện thêm một bước cơ chế, chính sách đối với KCN, KKT. Nghị
định đã thống nhất các quy định liên quan tới KCN, KKTnằm rải rác ở các văn
bản pháp luật trước đây vào một văn bản; cụ thể hóa chủ trương tăng cường
phân cấp, ủy quyền cho UBND cấp tỉnh và Ban quản lý KCN, KKT thực hiện
đầu mối quản lý Nhà nước KCN, KCX trên các lĩnh vực.
- Quá trình xây dựng và phát triển KCN, KKT gắn liền với việc xây dựng
mô hình quản lý và hoạt động của các KCN, KKT tương đối đặc thù, mang tính
đột phá; từng bước hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, bộ máy của Ban quản lý các
KCN, KKT thể hiện vai trò đầu mối quản lý Nhà nước KCN, KKT ở địa
phương. Trên thực tế, thành công của thu hút FDI vào các KCN, KKT mang dấu
ấn đậm nét của việc mạnh dạn thử nghiệm và triển khai áp dụng có hiệu quả các
cơ chế, chính sách, mô hình hoạt động riêng cho KCN, KKT, qua đó tạo môi
trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, KCN, KKT nói chung và
thu hút FDI trong KCN, KKT nói riêng, trong bối cảnh chung của nền kinh tế
còn nhiều khó khăn về môi trường đầu tư kinh doanh, thể chế chính sách, tổ
chức bộ máy còn chưa hoàn thiện, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, chất lượng
nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, trong thời gian qua các KCN, KKT vẫn
còn một số hạn chế nhất định. Cụ thể là:
Một, hàm lượng công nghệ, tính phù hợp về ngành nghề trong cơ cấu
đầu tư chưa cao
Các địa phương và chủ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN vẫn ưu tiên
tập trung thu hút đầu tư lấp đầy KCN; chưa thực sự chú trọng tới cơ cấu ngành
nghề, công nghệ, yếu tố môi trường của các dự án đầu tư vào KCN, KKT. Tính
liên kết ngành của các doanh nghiệp, công nghiệp phụ trợ trong các KCN, KKT
còn yếu. Riêng đối với KKT thì thu hút đầu tư còn gặp nhiều khó khăn, do thời
gian phát triển chưa lâu, đầu tư hạ tầng chưa đồng bộ nên đóng góp của các
KKT vào phát triển kinh tế xã hội địa phương còn khiêm tốn.

97


Hai, công tác xúc tiến đầu tư còn chưa đồng bộ, đạt hiệu quả cao.
Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia vào KCN, KCX chưa được xây
dựng đồng bộ, thống nhất với định hướng thu hút các ngành nghề, lĩnh vực đầu
tư ưu tiên gắn với lợi thế so sánh và điều kiện phát triển thực tế của các địa
phương. Do vậy, các chương trình xúc tiến đầu tư do địa phương thực hiện còn
mang tính cục bộ, chưa đạt hiệu quả cao, chưa thu hút được các dự án đầu tư có
ngành nghề, hàm lượng công nghệ phù hợp với lợi thế phát triển; sự thống nhất,
đồng bộ trong các chương trình, kế hoạch xúc tiến đầu tư giữa các cơ quan
Trung ương và địa phương còn hạn chế.
Ba, FDI đầu tư vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng còn hạn chế và còn gặp
những khó khăn, vướng mắc trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, xây
dựng kết cấu hạ tầng
Các quy định của pháp luật liên quan tới công tác đền bù, giải phóng mặt
bằng KCN, KKT còn nhiều khó khăn, vướng mắc, hay thay đổi, chưa phản ánh
sát với điều kiện thực tế dẫn đến tình trạng chi phí bồi thường, giá thuê đất tăng
cao, làm giảm sức hấp dẫn đầu tư vào các KCN, KKT, giảm tính cạnh tranh
quốc gia của KCN. Những vướng mắc về giá đất và tình hình giá cả vật liệu xây
dựng tăng cao trong thời gian qua đã ảnh hưởng trực tiếp tới tiến độ đền bù, giải
phóng mặt bằng, xây dựng kết cấu hạ tầng và thu hút đầu tư vào các KCN, KKT.
Hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào của một số KCN, KCX
và hạ tầng KKT còn chưa được đầu tư, xây dựng một cách đồng bộ. Nguyên
nhân một phần do năng lực, kinh nghiệm của một số chủ đầu tư hạ tầng, một
phần do yếu tố bất ổn thị trường và sự kiểm soát chưa thực sự chặt chẽ của cơ
quan quản lý Nhà nước.
Bốn, tồn tại những vấn đề bất cập về môi trường, xã hội trong KCN,
KKT
Vấn đề bảo vệ môi trường KCN tuy đã được cải thiện, song vẫn còn tồn
tại một số KCN, doanh nghiệp KCN chưa tuân thủ nghiêm túc pháp luật về môi
trường. Nguyên nhân là do ý thức của doanh nghiệp thứ cấp, kể cả doanh nghiệp
là chủ đầu tư hạ tầng KCN nhiều khi chưa cao, vẫn đặt lợi ích kinh tế lên trên
trách nhiệm bảo vệ môi trường; công tác phối hợp kiểm tra, giám sát bảo vệ môi
trường KCN của các cơ quan Nhà nước chưa thật chặt chẽ. Mặc dù số lượng các
nhà máy xử lý nước thải tập trung đã tăng lên nhưng theo báo cáo của các Ban
Quản lý các KCN, tại khu vực xung quanh KCN ở một số địa phương, một số
tiêu chuẩn nước thải vượt quá quy định cho phép. Nguyên nhân là do việc vận
hành nhà máy xử lý nước thải chưa tuân thủ theo quy định trong khi công tác
giám sát, kiểm tra, thanh tra của các cơ quan quản lý còn hạn chế, chưa có chế
tài xử phạt có tính răn đe.
98


Các chính sách khuyến khích hiện hành đối với đầu tư xây dựng nhà ở
cho công nhân vẫn chưa đủ mạnh, chưa đủ hấp dẫn các doanh nghiệp, chưa
khiến họ quan tâm thỏa đáng đến việc đầu tư xây nhà ở cho người lao động
trong KCN, KKT. Phần lớn người lao động thuê nhà ở do các hộ dân xây dựng
thiếu nhiều tiện nghi, tiện ích, chưa đáp ứng nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Các
địa phương và nhà đầu tư hiện nay vẫn chưa chú ý đúng mức đến việc đầu tư
xây dựng nhà ở và các công trình phúc lợi xã hội khác cho người lao động (cơ
sở khám chữa bệnh, nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, khu vui chơi giải trí...). Thu
nhập, đời sống của người lao động còn chưa ổn định. Mâu thuẫn về lương, phụ
cấp thêm giờ, bảo hiểm xã hội, hợp đồng lao động, chăm sóc sức khỏe người lao
động còn tồn tại nên số lượng các vụ đình công tại các KCN, KCX vẫn diễn ra.
Năng lực của các tổ chức công đoàn cơ sở trong thương lượng tập thể còn hạn
chế, do thiếu hiểu biết về luật pháp, thiếu kiến thức và kỹ năng đàm phán.
Năm, cơ chế, chính sách đối với KCN, KKT còn một số vấn đề cần tiếp
tục hoàn thiện
Việc phân cấp, ủy quyền cho Ban quản lý KCN, KKT trong một số lĩnh
vực còn chưa được thực hiện đầy đủ, nhất quán trên cả nước do có sự không
thống nhất với các quy định của pháp luật chuyên ngành, chưa được các bộ,
ngành hướng dẫn cụ thể hoặc chủ trương phân cấp, ủy quyền chưa được địa
phương quán triệt và thực hiện, đặc biệt là lĩnh vực thanh tra, môi trường, lao
động.
Chính sách ưu đãi đối với các KCN hay thay đổi, thiếu ổn định, mức ưu
đãi đối với dự án đầu tư vào KCN còn nhiều điểm chưa hợp lý, chưa thực sự hấp
dẫn đầu tư một cách lâu dài, ổn định. Việc các dự án trong KCN không còn
được hưởng ưu đãi đầu tư như đối với địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó
khăn, không áp dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư mở rộng theo quy định của một
số văn bản pháp luật về thuế đã tạo khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp,
làm giảm tính khuyến khích đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh trong KCN.
Để tiếp tục phát huy những thành quả đạt được, khắc phục những khó
khăn vướng mắc, cản trở đối với thu hút đầu tư nước ngoài vào KCN, KKT,
trong thời gian tới, đồng hành với những định hướng phát triển chung của nền
kinh tế về tái cấu trúc đầu tư, doanh nghiệp ngân hàng, nâng cao sức cạnh tranh
quốc gia, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội, phát
triển nguồn nhân lực quốc gia, các KCN, KKT cần xây dựng và phát triển theo
một số định hướng cơ bản sau:
Một, nâng cao chất lượng quy hoạch KCN, KKT
Xây dựng, triển khai quy hoạch KCN, KKT gắn với thực hiện quy hoạch
phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển các
99


ngành công nghiệp, quy hoạch đô thị, quy hoạch khu dân cư, quy hoạch nhà ở và
các quy hoạch ngành khác.
Hai, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng KCN, KKT
Nâng cao chất lượng xây dựng kết cấu hạ tầng KCN theo hướng xây dựng
một cách đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật với các tiện nghi, tiện ích công cộng
phục vụ cho KCN; gắn kết cấu hạ tầng trong hàng rào với ngoài hàng rào KCN.
Đa dạng các nguồn vốn để đầu tư xây dựng nhà ở và các công trình tiện nghi,
tiện ích phục vụ đời sống người lao động KCN.
Đối với các KKT, trong thời gian tới cần có cơ chế huy động tổng hợp các
nguồn vốn (ODA, FDI, Ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ) và nhiều hình
thức đầu tư như (đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, BT, BOT, PPP…) để tiếp tục
đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu, quan trọng trong các KKT để
tạo điều kiện đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển các KKT. Tăng cường tính chủ
động của địa phương trong việc huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng hạ
tầng KKT.
Đẩy nhanh tiến độ các dự án động lực đã thu hút được và các cơ sở hạ
tầng kỹ thuật thiết yếu trong các KKT để tạo tiền đề cho việc hình thành khu vực
phát triển công nghiệp nòng cốt trong các KKT và thu hút các nhà đầu tư khác.
Ba, cải thiện chất lượng thu hút đầu tư vào KCN, KKT
Tập trung ưu tiên thu hút các ngành nghề, lĩnh vực có hàm lượng công
nghệ tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường, các ngành nghề xác định là
mũi nhọn phát triển và có lợi thế của Việt Nam và phù hợp với chương trình tái
cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư của đất nước. Tăng cường tính liên kết ngành trong
phát triển KCN, KKT; hình thành các KCN liên kết ngành nhằm tăng lợi thế
cạnh tranh của KCN và nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN, dần hình
thành các ngành công nghiệp phụ trợ, đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế
địa phương.
Bối cảnh kinh tế tại một số quốc gia trong thời gian vừa qua cũng tạo ra
cơ hội cho Việt Nam trong việc kêu gọi dòng đầu tư đang dịch chuyển sang các
nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, đặc biệt là các nhà đầu tư Nhật Bản,
Hàn Quốc. Điều này tạo cơ hội cho Việt Nam trong thu hút đầu tư nhưng cũng
đặt ra thách thức cho Việt Nam trong việc cải thiện môi trường đầu tư nâng cao
tính hấp dẫn của Việt Nam trong quá trình cạnh tranh với các quốc gia truyền
thống khác trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia và một số quốc gia
mới nổi như Campuchia, Myanma. Để đón nhận được làn sóng đầu tư nước
ngoài mới, trong giai đoạn tới, Việt Nam cần phải nhanh chóng hoàn thiện các
cơ chế, chính sách về đầu tư nước ngoài, hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ nhà
đầu tư và tăng cường hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư.
100


Bốn, kiểm soát chặt chẽ vấn đề môi trường
Tăng cường giám sát, thanh, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về môi
trường trong các KCN, KKT gắn với việc xử lý vi phạm một cách kiên quyết,
dứt điểm. Nâng cao năng lực quản lý và kỹ thuật về môi trường cho các cơ quan
liên quan đến KCN, KKT để tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý có đầy đủ
nguồn lực thực hiện nhiệm vụ về bảo vệ môi trường KCN.
Năm, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động
Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm cải thiện điều kiện lao
động, hỗ trợ đời sống vật chất, tinh thần của người lao động trong KCN, KKT
phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước. Xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa
người lao động và người sử dụng lao động, tăng cường vai trò của tổ chức công
đoàn trong doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp phát triển kinh doanh gắn
với nâng cao trách nhiệm đối với quyền lợi của người lao động và của cộng
đồng. Nghiên cứu, xây dựng chính sách mang tính khuyến khích cao để huy
động các nguồn lực đầu tư xây dựng nhà ở cho người lao động KCN, KKT thuê;
chú trọng huy động nguồn lực sẵn có trong dân cư gắn với kiểm soát tiêu chuẩn
xây dựng, kinh doanh nhà ở cho người lao động thuê.
Sáu, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển KCN, KKT
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách hiện hành về KCN, KKT theo hướng
tăng cường phân cấp, ủy quyền từ Trung ương tới địa phương, gắn chặt với cơ
chế phân công trách nhiệm và phối hợp rõ ràng, minh bạch giữa các cơ quan
Trung ương và địa phương. Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước ở cấp Trung ương
và địa phương đảm bảo đủ thẩm quyền và nguồn lực để quản lý các KCN, KKT
theo hướng một cửa, một đầu mối và tương xứng với vai trò vị trí ngày càng quan
trọng của các KCN, KKT trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước./.
.

101



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×