Tải bản đầy đủ

GIÁO dục đại học VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH hội NHẬP QUỐC tế tHUẬN lợi và KHÓ KHĂN

PGS.TS. Nguyễn Cảnh Huệ
 Họ và tên: Nguyễn Cảnh Huệ, nam; sinh ngày 10/3/1958, tại Yên Thành , Nghệ An.
 Chức vụ, nơi làm việc hiện nay: Q. Trưởng Khoa Lịch sử, Trường ĐHSP TP. Hồ Chí Minh.
 Học hàm, học vị: Tiến sĩ, được nhận năm 1992.
 Phó giáo sư, được phong năm 2005.
 Quá trình đào tạo: Học đại học từ 1975 đến 1979, tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng
hợp Hà Nội( nay là Khoa Lịch sử, Trường ĐHKH XH&NV, ĐHQG HN), ngành Lịch sử;
 Nghiên cứu sinh: từ 1988-1992 tại Liên Xô, ngành Lịch sử.
 Lĩnh vực nghiên cứu chính: Những vấn đề về quan hệ quốc tế hiện đại, Quan hệ Việt NamẤn Độ thời kỳ hiện đại, ASEAN và quan hệ Việt Nam-ASEAN, Quan hệ Quốc tế của Việt
Nam…
 Thành tích nghiên cứu khoa học: Đã chủ trì, tham gia 8 đề tài khoa học từ cấp Trường, cấp
Bộ đến cấp Nhà nước; công bố gần 50 bài báo trong sách chuyên khảo, Tạp chí khoa học, Kỷ
yếu HT Quốc gia, Quốc tế…


GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ:
THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN

PGS.TS. Nguyễn Cảnh Huệ
Trường ĐHSP TP. Hồ Chí Minh



PHẦN TÓM TẮT
NỘI DUNG BÁO CÁO:
I. VỀ THUẬN LỢI
1. Về mặt chủ quan
2.Về mặt khách quan
II. VỀ KHÓ KHĂN
1. Về mặt chủ quan
2.Về mặt khách quan
III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ


TÓM TẮT:
Từ năm 1986, cùng với công cuộc Đổi mới toàn
diện đất nước được triển khai, nước ta từng bước
hội nhập khu vực và quốc tế trên mọi lĩnh vực,
trong đó có lĩnh vực giáo dục nói chung và giáo
dục đại học nói riêng. Cũng như các lĩnh vực khác,
lĩnh vực giáo dục đại học của nước ta trong quá
trình hội nhập quốc tế gặp những thuận lợi cũng
như những khó khăn. Với bài viết này, chúng tôi cố
gắng làm rõ những thuận lợi và những khó
khăn của giáo dục đại học nước nhà trong quá
trình hội nhập quốc tế, đồng thời nêu một số kiến
nghị.


Về thuận lợi, trước hết thuận lợi về mặt chủ
quan, đó là: Dân tộc ta có truyền thống hiếu học;
nền giáo dục đại học ngày nay được kế thừa những
thành tựu giáo dục trước đây của đất nước; giáo
dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng là lĩnh
vực được cả nước rất quan tâm; quyết tâm mạnh
mẽ của toàn Đảng, toàn dân trong việc chấn hưng
nền giáo dục nước nhà; công cuộc Đổi mới ngày
càng đạt được nhiều thành tựu, đời sống mọi tầng
lớp nhân dân ngày càng được nâng cao đưa
đến đầu tư cho giáo dục ngày càng lớn; nước ta có
một bộ phận các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực,

các nhà giáo dục khá đông đảo được đào tạo ở nhiều
nước trên thế giới, trong đó có những nước có nền
giáo dục tiên tiến; có lực lượng Việt Kiều ở nước
ngoài đông đảo.


Về mặt khách quan, đó là nước ta có quan hệ rộng
rãi với các nước trên thế giới, trong đó có nhiều nước
với trình độ tiên tiến về giáo dục, khoa học; hội nhập
quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho lớp trẻ du học nước
ngoài; lợi thế của người đi sau của giáo dục đại học
nước ta; nhiều nước ngoài đầu tư vào nước ta trong lĩnh
vực giáo dục…


Về khó khăn chủ quan, đó là: Những hạn chế, yếu
kém của nền giáo dục đại học nước ta; môi trường làm
việc chưa thật thuận lợi, vấn đề sử dụng lao động nói
chung và nhân tài nói riêng còn nhiều bất cập; do tác
động của nền kinh tế thị trường; hạn chế về sự liên
thông của chương trình đào tạo giữa các trường đại học
trong nước, giữa trong nước và quốc tế; hạn chế về mặt
ngoại ngữ của đội ngũ giảng viên.
Về mặt khách quan, đó là: Giáo dục đại học nước
ta phải cạnh tranh với những cơ sở giáo dục tiên tiến
của nước ngoài hoạt động tại nước ta; phải chống lại
những “độc hại”, những cơ sở giáo dục kém chất lượng
từ nước ngoài tràn vào; tác động những bất lợi từ tình
hình chính trị, kinh tế thế giới và khu vực đưa lại…


Bài viết cũng nêu lên một số kiến nghị đối với giáo
dục đại học nước nhà, đó là: Cần có một chiến lược giáo
dục nói chung và chiến lược giáo dục đại học nói riêng
của đất nước thực sự khoa học, mang tính dân tộc và hiện
đại; tạo môi trường làm việc thuận lợi và có chế độ đãi
ngộ xứng đáng đội ngũ giảng viên đại học; cải tiến chế độ
thi tuyển, đào tạo người thầy để đào tạo ra một đội ngũ
giảng viên đại học có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực
chuyên môn, tâm huyết với nghề; việc tiếp thu những kinh
nghiệm, thành tựu nước ngoài trong giáo dục phải hết sức
thận trọng, tránh rập khuôn, máy móc; tránh việc thành
lập trường đại học một cách tràn lan…


PHẦN NỘI DUNG:
Từ năm 1986, cùng với công cuộc Đổi mới toàn diện
đất nước được triển khai, nước ta từng bước hội nhập
khu vực và quốc tế trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh
vực giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng.


Về khái niệm: “Hội nhập quốc tế”, từ trước đến nay,
có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo nhận thức của chúng
tôi, “Hội nhập quốc tế” là quá trình tham gia của một
nước vào thế giới trên mọi lĩnh vực: Chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội. Một nước tham gia hội nhập quốc tế sẽ
có những thuận lợi cũng như phải đối mặt với những khó
khăn, thách thức trên mọi lĩnh vực. Lĩnh vực giáo dục
đại học của nước ta trong quá trình hội nhập quốc tế
cũng không phải là trường hợp ngoại lệ.
Với bài viết này, chúng tôi cố gắng làm rõ những
thuận lợi và những khó khăn của giáo dục đại học nước
nhà trong quá trình hội nhập quốc tế, đồng thời nêu một
số kiến nghị.


*
*

*

I. VỀ THUẬN LỢI
1. Trước hết thuận lợi về mặt chủ quan
Thứ nhất: Dân tộc ta có truyền thống hiếu học.
Dân tộc ta có truyền thống hiếu học, coi trọng người đỗ đạt,
“hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Đây là tài sản, động lực to lớn để
giáo dục nói chung và giáo dục đại học nước ta hội nhập quốc tế
ngày nay.
Thứ hai: Nền giáo dục đại học ngày nay được kế thừa những
thành tựu giáo dục trước đây của đất nước.
Hơn mấy chục năm qua, kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm
1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, với sự
quan tâm của Đảng, Bác Hồ, mặc dù trong hoàn cảnh vô cùng khó
khăn, gian khổ của cuộc kháng chiến cứu nước, nước ta đã đào tạo
được một đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ khoa học
kỹ thuật đông đảo ; trong đó, một bộ phận không nhỏ những người có
chuyên môn cao lại được thử thách, tôi luyện trong cuộc sống và
công việc, có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Đây là vốn
quý, là động lực to lớn để nền giáo dục nước ta nói chung và đại học
hội nhập quốc tế ngày nay.


Thứ ba: Sự quan tâm và quyết tâm mạnh mẽ của
toàn Đảng, toàn dân trong việc chấn hưng nền giáo dục
nước nhà.
Ở nước ta, giáo dục được Đảng, Nhà nước rất quan
tâm. Nghị quyết của Đảng chỉ rõ: Cùng với khoa học công nghệ, Giáo dục và đào tạo được coi là quốc sách
hàng đầu…. Nhiều Nghị quyết Trung ương đã đề cập
đến vấn đề này. Gần đây, ngày 4/11/2013 BCH Trung
ưởng Đảng đã họp Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, ban
hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo.
Ở nước ta, hầu như gia đình nào, ở mọi giai đoạn đều
có con em đi học và giành ưu tiên cao nhất cho việc học
của con cái. Xã hội cũng giành sự ưu tiên cao nhất cho
giáo dục.
Đây là thuận lợi lớn trong cuộc hội nhập giáo dục đại
học của nước ta.


Thứ tư: Công cuộc Đổi mới ngày càng đạt được
nhiều thành tựu, đời sống mọi tầng lớp nhân
dân ngày càng được nâng cao đưa đến việc đầu tư
cho giáo dục ngày càng lớn.
Đất nước càng phát triển, một mặt tạo ra điều
kiện vật chất lớn hơn cho giáo dục phát triển, bộ
phận dân cư khá giả ngày càng đông và họ cho con
em đi học ở nước ngoài; mặt khác, xã hội ngày càng
phát triển đòi hỏi nền giáo dục không ngừng vươn
lên để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, đất
nước.


Thứ năm: Nước ta có một bộ phận các nhà khoa học
trên nhiều lĩnh vực, các nhà giáo dục khá đông đảo được
đào tạo ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có những
nước có nền giáo dục tiên tiến như Mỹ, Anh, Pháp, Đức,
Nhật, Nga…; có lực lượng Việt Kiều ở nước ngoài đông
đảo.
Trong mấy chục năm qua, kể cả trong những năm
chiến tranh ác liệt, Đảng và Nhà nước với tầm nhìn xa
rộng, đã gửi nhiều con em sang nước ngoài, trong đó có
ở hầu hết các nước có nền khoa học, giáo dục tiên tiến
học tập, nghiên cứu. Lực lượng này là vốn quý cho công
cuộc hội nhập của giáo dục đại học nước ta ngày nay. Họ
không chỉ mang kinh nghiệm, tri thức về mà là cầu nối
giữa nước ta với các nước trong công cuộc hội nhập.


Về lực lượng Việt kiều, hiện nay có hơn 4 triệu
người sống ở trên 100 nước bao gồm hết các châu
lục, trong đó khoảng ½ là sống ở Mỹ với nhiều
chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực, với
nguồn tài chính đáng kể. Dù bộ phận này có nhiều
thành phần với tâm trạng khác nhau, nhưng có thể
nói, số đông luôn hướng về tổ quốc, muốn đóng
góp sức lực, trí tuệ, của cải để xây dựng đất nước.
Đảng ta xác định: Việt kiều là một bộ phận
không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, là nguồn
lực quan trọng của đất nước. Nếu chúng ta có chính
sách phù hợp, khai thác tốt lực lượng này thì đây là
một nguồn lực đáng kể phục vụ cho công cuộc hội
nhập quốc tế của nền giáo dục đại học nước nhà.


2.Về mặt khách quan
Thứ nhất: Nước ta có quan hệ rộng rãi với
các nước trên thế, trong đó có nhiều nước với
trình độ tiên tiến về giáo dục, khoa học. Điều
này cho phép chúng ta có thể tiếp thu những
thành tựu về giáo dục, khoa học- công nghệ,
kinh nghiệm của thế giới để xây dựng một nền
giáo dục Việt Nam tiên tiến, hiện đại.
Công cuộc hội nhập quốc tế được đẩy
mạnh cũng tạo điều kiện thuận lợi để các nhà
khoa học mở rộng giao lưu với các nước, tiếp
thu những thành tựu, kinh nghiệm để góp phần
hiện đại hoá nền giáo dục đại học đất nước.


Thứ hai: Lợi thế của người đi sau của giáo dục đại
học nước ta.
So với nhiều nước ở khu vực và trên thế giới thì nền
giáo dục đại học nước ta hội nhập quốc tế muộn hơn, có
trình độ thấp hơn. Nhưng, điều này có tính hai mặt. Mặt
hay ở chỗ, chúng ta có thể tham khảo kinh nghiệm của
họ, vận dụng những kinh nghiệm thành công và tránh lặp
lại kinh nghiệm không thành công, chúng ta có thể đi tắt
đón đầu để phát triển nhanh giáo dục đại học.
Thứ ba: Nhiều nước ngoài đầu tư vào nước ta trong
lĩnh vực giáo dục.
Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, nhiều nước,
trong đó có những nước tiên tiến đầu tư về giáo dục ở
nước ta. Điều này đưa lại nhiều tác dụng tích cực như:
cho phép một bộ phận con em nước ta được “du học” tại
chỗ, được học nền giáo dục tiên tiến ngay trên nước
mình, kích thích giáo dục nước nhà phát triển…


II. VỀ KHÓ KHĂN

1. Về mặt chủ quan
Thứ nhất: Những hạn chế, yếu kém của nền giáo dục đại học
nước ta.
Đó là sự bảo thủ trì trệ của một bộ phận cán bộ quản lý giáo
dục, giáo viên. Đó là tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan, dạy
học nhồi nhét, bệnh thành tích trong giáo dục hay là những tiêu
cực ngoài xã hội đã tác động vào ngành giáo dục...; là lối học
thụ động, nặng về việc trang bị kiến thức mà coi nhẹ về trang bị
năng lực…
Những hạn chế, yếu kém trên đã tồn tại khá lâu, ăn sâu trong
tiềm thức của xã hội mà không dễ dàng loại trừ trong ngày một,
ngày hai và đã, đang, sẽ là chướng ngại đối với quá trình hội
nhập quốc tế nền giáo dục nước ta nói chung, giáo dục đại học nói
riêng.


Thứ hai: Môi trường làm việc chưa thật thuận
lợi, vấn đề sử dụng lao động nói chung và nhân tài
nói riêng còn nhiều bất cập.
Môi trường làm việc, chế độ đãi ngộ chưa thật
xứng đáng dẫn đến chảy máu chất xám. Đó là tình
trang những nhà khoa học giỏi ra nước ngoài làm
việc, nhiều chuyên gia giỏi bỏ cơ quan nhà nước
sang làm việc cho các công ty nước ngoài ngay
trên nước mình hay ở công ty tư nhân, nhiều lưu
học sinh học xong không về nước... và tình trạng
chảy máu chất xám còn thể hiện ở chỗ người ta
không chú tâm, đầu tư làm công việc chính mà bị
phân tán, sức lực và thời gian vào những công việc
khác. Tình hình trên là thách thức đối với việc xây
dựng một đội ngũ nhà giáo có chất lượng cao.


Thứ ba: Do tác động của nền kinh tế thị
trường.
Do tác động của nền kinh tế thị trường, không ít
trường đại học đã hạ thấp tiêu chuẩn về kiến thức
cũng như đạo đức đầu vào đối với sinh viên làm
cho sản phẩm giáo dục giảm sút. Nhiều giá trị đạo
đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc bị phai nhạt,
trong đó có truyền thống “tôn sư trọng đạo”. Một
số giáo viên vì chạy theo lợi ích kinh tế, quyền lợi
cá nhân đã đánh mất phẩm chất nhà giáo của mình.
Cùng với sự phát triển của công cuộc hội nhập,
sự phát triển của công cuộc đổi mới, của nền kinh
tế thị trường làm cho sự phân hoá giàu nghèo ngày
càng sâu sắc. Theo đó, một bộ phận cư dân không
nhỏ có cuộc sống ngày càng khó khăn, không đủ
điều kiện cho con theo học các cấp.


Thứ tư: Sự hạn chế về sự liên thông của chương trình đào tạo
giữa các trường đại học trong nước, giữa trong nước và quốc tế.
Hiện nay, có thể nói, độ vênh về chương trình đào tạo giữa
các trường đại học trong cùng một hệ thống ở trong nước là khá
xa. Độ vênh giữa chương trình đào tạo giữa chương trình đào tạo
của các trường đại học trong nước với nước ngoài, nhất là các
nước phát triển, theo cảm nhận của chúng tôi, lại càng lớn. Điều
này làm cho sự liên thông trong đào tạo đại học và sau đại học
giữa các trường đại học trong nước, giữa nước ta với nước ngài bị
hạn chế, là khó khăn trong quá trình hội nhập quốc tế của giáo dục
đại học nước ta. Đây cũng có thể coi là nguyên nhân quan trọng
làm cho việc thừa nhận bằng cấp giữa nước ta với các nước gặp
khó khăn


Thứ năm: Hạn chế về mặt ngoại ngữ của đội ngũ giảng viên.
Ngoại ngữ là công cụ quan trọng để các giảng viên, các nhà
khoa học tiếp cận thông tin, giao lưu, hợp tác, hội nhập quốc tế,
nghiên cứu khoa học. Nhưng, theo cảm nhận của chúng tôi, trình
độ ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh của đội ngũ giảng viên đại học của
chúng ta còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu, có thể là phần lớn
các giảng viên có học hàm, học vị cao của nước ta hiện nay ở các
trường đại học đều có độ tuổi từ trung niên trở lên, chủ yếu được
đào tạo ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trước đây, ở đó,
họ được học tiếng Nga và tiếng các nước khác ( ngoài tiếng Anh)
là chủ yếu. Còn thế hệ giảng viên trẻ hiện nay, được học tiếng Anh
khá bài bản thì về mặt chuyên môn, họ chưa thực sự tự tin trong
hội nhập quốc tế. Việc số lượng bài báo của Việt Nam được công
bố trên các tạp chi khoa học có uy tín quốc tế ít hơn so với nhiều
nước trong khu vực ( kể cả Thái Lan, Singapore) có lẽ nguyên
nhân quan trọng là sự hạn chế về ngoại ngữ.
Như vậy, hạn chế về mặt ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh là một
khó khăn trong quá trình hội nhập quốc tế của giáo dục đại học
nước ta.


2. Về mặt khó khăn khách quan
Thứ nhất: Giáo dục đại học nước ta phải cạnh
tranh với những cơ sở giáo dục tiên tiến của nước
ngoài hoạt động tại nước ta.
Cùng với sự mở rộng của quá trình hội nhập, đã
và sẽ có nhiều cơ sở đào tạo có chất lượng cao của
nước ngoài sẽ mở ở nước ta. Đây sẽ là nơi không
chỉ thu hút những thầy giáo giỏi (do chế độ đãi ngộ
tốt, môi trường làm việc thuận lợi) mà còn thu hút
những học sinh giỏi, có điều kiện vào học. Đây là
nơi không chỉ cạnh tranh trong việc thu hút đầu
vào đối với người học mà còn cả trong việc thu hút
giảng viên giỏi. Vì vậy, giáo dục đại học Việt Nam
phải cạnh tranh với những cơ sở giáo dục này về
đầu vào đối với sinh viên và giảng viên và việc giữ
chân những giảng viên giỏi.


Thứ hai: Phải chống lại những “nọc độc”, những
cơ sở giáo dục kém chất lượng từ nước ngoài tràn
vào.
Cùng với quá trình hội nhập quốc tế thì bên cạnh
những cái tốt, những cơ sở giáo dục tiên tiến vào
nước ta thì những cái xấu, những cơ sở giáo dục
kém chất lượng cũng vào theo. Tình hình này đã xảy
ra ở nước ta trong thời gian qua Điều này sẽ góp
phần làm vẫn đục nền giáo dục đại học của nước ta.


Thứ ba: Tác động những bất lợi từ tình hình chính
trị, kinh tế thế giới, khu vực đưa lại.
Những biến động về kinh tế, chính trị-an ninh khu
vực, thế giới sẽ ảnh hưởng bất lợi đến hội nhập quốc tế
của nước ta nói chung và giáo dục đại học nói riêng.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×