Tải bản đầy đủ

đề cương răng

Câu 1:
TÍNH CHẤT CỦA MỘT VẬT LIỆU TRÁM RĂNG
Một vật liệu trám răng cần có những tính chất lý tưởng sau:
1. Vừa khít đối với các thành, góc lỗ trám.
2. Dính vào thành lỗ trám, không thấm nước, không để nước lọt qua.
3. Sức bền cơ học đủ lớn.
4. Ổn định về thể tích, không biến dạng, hệ số dãn nở gần với hệ số dãn nở của răng.
5. Không tan trong môi trường miệng.
6. Không độc, không gây kích thích cho các mô và cơ quan.
7. Độ dẫn nhiệt thấp.
8. Có tác dụng phòng ngừa, chống lại nguy cơ tái phát sâu răng ở nơi tiếp xúc với vật liệu.
9. Về thẩm mỹ, phải giống màu răng và không đổi màu.
10. Dễ bảo quản, dễ sử dụng và có thể tháo ra khi cần, không đắt tiền.
Ngoài những tính chất trên, ngày nay một vật liệu lý tưởng còn phải đạt được các yêu cầu khác:
- Phải có tính tương hợp sinh học (khả năng hòa hợp với sự sống và không gây độc hoặc thương tổn đến
chức năng sinh học), nghĩa là vật liệu đó cần đạt các yêu cầu:
+ Không gây hại cho tủy và mô mềm.
+ Không chứa các chất có khả năng khuyếch tán độc tính, giải phóng và đi vào hệ tuần hoàn, gây phản
ứng độc toàn thân.
+ Không có các yếu tố dễ gây phản ứng dị ứng.
+ Không có tiềm năng gây ung thư.

- Phải lâu bền.

4. CÔNG DỤNG VÀ
câu 2,:công dụng và cách dùng của cement eugenat zn?
1.Công dụng
Do sức bền cơ học yếu nhưng có những tính chất tốt trên chữa răng,
eugenate Zn thường được sử dụng để:
- Trám lót
- Trám tạm (hoặc băng thuốc)
- Trám bít ống tuỷ
- Cho phép việc tạo lỗ trám bảo tồn nhất (xâm lấn mô răng tối thiểu)


* Lưu ý: không dùng eugenate Zn để lót dưới miếng trám composite và G.I.C vì
phenol tự do có thể làm chảy nhựa, cản trở sự trùng hợp của composite.
Ngoài ra eugenate Zn còn được dùng trong:
- Phục hình tháo lắp toàn hàm để lấy dấu.
- Phục hình cố định để gắn mão tạm.
-Phẫu thuật nha chu để băng thuốc
.2. Cách dùng
2.1. Dụng cụ
- Tấm kính trộn cement mặt nhám.
- Bay trộn bằng kim loại
2.2. Kỹ thuật trộn
- Trộn Eugénate Zn để trám ống tuỷ:
Lấy 2 – 3 giọt eugenol cho một ống tuỷ và lượng bột cần thiết, trộn dần dần
bột với chất lỏng cho đến khi được một chất bột mịn nhão như Vaseline (dạng
kem)
- Trộn Eugénate Zn để trám lót hoặc trám tạm:
Trộn nhiều bột hơn để được ciment dẽo như đất sét nặn tượng hoặc chất
mastic gắn kính, hỗn hợp không dính vào bay trộn. Thời gian trộn có thể kéo dài
khoảng 4 – 5 phút. Tỉ lệ thường dùng 4/1 – 6/1
- Trộn Eugénate Zn để gắn mão tạm hoặc băng thuốc cho phẫu thuật nha chu:
Trộn nhiều chất lỏng hơn loại dùng trám tạm nhưng ít hơn trám bít ống tủy
Ngoài ra eugénate Zn còn được trình bày dưới nhiều hình thức đã được
chuẩn bị sẵn đựng trong lọ hoặc ống như kem đánh răng và được sử dụng như một
chất trám tạm (Temporary restorative material). Tên thương mại của nó gồm có:
cavit, Temp Bond, IRM (Intermediate Restorative Material).
Câu 3. Tính chất vật lý của amalgam
3.1. Sức bền

Amalgame có sức chịu đựng tốt đối với lực nén nhưng kém đối với lực kéo
và lực cắt (sức bền đối với lực kéo chỉ bằng ¼ so với lực nén)
Đa số Amalgame hiện dùng đạt được sức bền tối đa sau 24h. Một
Amalgame tốt chịu được lực nén tối thiểu là 3200kg/cm 2 (lực nhai bình thường từ
11- 125 kg, trung bình là 77 kg, tác dụng lên một múi răng có diện tích 0,04 cm 2
tạo ra một áp lực 1925 kg / cm2)
Thời điểm dễ bị nứt rạn: - Khi gỡ khuôn trám


- Kiểm soát cắn khít
- Khi nhai trong những giờ đầu
Ngày nay các tiêu chuẩn của A.D.A (American Dental Association: hiệp hội
nha khoa Mỹ) 1974 đòi hỏi vật liệu phải có độ bền sớm (sau 15 phút) là 2 Mpa (độ
bền kéo có ý nghĩa hơn độ bền nén).
Các yếu tố ảnh hưởng đến độ bền của amalgam:
- Thành phần của hợp kim: Amalgam có tỉ lệ Cu cao có độ bền sau 15 phút cao
hơn các hợp kim cổ điển, và độ bền tăng rất nhanh.
- Kích thước và hình dạng của hạt: Loại hạt cầu có độ bền phát triển nhanh hơn
loại mạt dũa.
- Đánh không đủ liều lượng vật liệu.
- Lượng Hg dư làm giảm độ bền do lượng khung lớn tạo ra các phase yếu.
- Thời gian từ khi trộn đến khi nhồi: càng dài thì độ bền càng giảm (đối với loại
mau đông thời gian chờ đợi tối đa 1-2 phút, loại trung bình là 4 phút).
- Sự nhiễm độ ẩm: theo Forsten 1969 amalgam có Zn nếu bị nhiễm ẩm trước khi
trộn thì sức bền nén giảm 30%, sau khi trộn giảm 25%. Đối với amalgam không có
Zn sức bền cũng giảm do sự thay đổi kết cấu tinh thể khi có nước.
- Khối lượng miếng trám, hình thể lỗ trám:
+ Miếng trám có khối lượng lớn sẽ chịu sức nhai tốt
+ Miếng trám mỏng, sức bền kéo kém (nên vùng eo lỗ trám phải đủ dày)
+ Điêu khắc đáy rãnh phải tròn, nếu nhọn sẽ dễ vỡ do sự tập trung nội lực ở điểm
yếu, đồng thời bị ăn mòn vì tích tụ mảng bám
3.2. Độ cứng
- Sau 20 phút sức chịu nén của Amalgame chỉ đạt 6%
- Trong 1h đầu Amalgame chịu được lực nén 6 – 7kg/cm2/1 phút (60 – 70%)
- Sau 6 – 8h đạt tới độ cứng tối đa
3,3. Thay đổi thể tích
Một Amalgame tốt phải có độ giãn nở nhẹ khi đông cứng (7 – 10 µ /cm). Sự
giãn nở này làm cho chất trám dán khít vào thành lỗ trám
Những sai lầm trong khi sử dụng có thể mất tính chất này, Amalgame bị
giãn quá ít hoặc quá nhiều hoặc có thể co lại.
Trộn không đầy đủ thời gian hoặc một lượng Hg quá nhiều làm Amalgame
giãn nở quá mức và ngược lại.
3.3. Tính dẫn nhiệt và dẫn điện
Rất tốt, vì vậy:


- Cần trám lót nếu lỗ trám sâu.
- Khi chữa răng bằng dòng điện cao tầng hoặc thử tuỷ bằng điện, không cho dòng
điện chạy qua Amalgame.
Câu 4. Ưu và nhược điểm của amalgam
4.1. Ưu điểm:
- Là chất trám rất khít nếu sử dụng đúng
- Rất bền chắc
- Không độc đối với tuỷ
- Rất dễ dùng
4.2. Khuyết điểm:
- Kém thẩm mỹ vì có ánh kim hoặc đen và làm đổi màu răng vì vậy chỉ dùng để
trám răng cối.
- Không dính vào răng nên phải tạo phần lưu
- Dẫn nhiệt vì vậy phải trám lót
- Khó tái tạo điểm tiếp giáp
- Không trám cho những lỗ có thành qúa mỏng dễ làm vỡ răng
Câu 5. Chú ý trong sử dụng amalgam
5.1. Tỷ lệ kim loại – Hg:
Tỷ lệ mạt kim loại – Hg rất quan trọng đối với kết quả cuối cùng.
Đa số Amalgame được chế tạo với 7 phần Hg, 5 phần mạt kim loại. Tỷ lệ
này thay đổi tuỳ nhà sản xuất (8/5, 8/6, 9/6...) Hg nhiều hơn mạt kim loại.
Một lượng Hg nhiều hay ít so với mạt kim loại đều làm Amalgame kém bền
và ảnh hưởng đến sự thay đổi thể tích như đã nói ở trên. Để có tỷ lệ thích hợp ta có
những dụng cân và đong.
- Cân Trey: có một dĩa để đong mạt kim loại, 1 đĩa để đong thuỷ ngân cân bằng khi
Hg
7
=
đạt đúng tỷ lệ: matkimloai 5

- Những dụng cụ đong khác cho phép cấp mạt kim loại và Hg cùng lúc hoặc cấp
Hg theo từng giọt to nhỏ khác nhau tương ứng với viên mạt kim loại.
5.2. Hg là một kim loại độc:
Hg nguyên chất (độc bảng B) và các hợp chất của nó đều là thuốc độc bảng
A hoặc B. Trong nha khoa khi sử dụng Hg có thể gây nguy hại cho Bác Sĩ do:
- Hít phải hơi Hg lâu ngày
- Tiếp xúc trực tiếp bằng tay với Hg lâu ngày.


Vì vậy lọ Hg phải được đậy kín, không để Hg thừa vương vãi mà cần gom
lại để dùng. Không vắt thuỷ ngân bằng tay mà nên dùng kẹp.
5.3. Trong điều kiện nhiệt độ thường Hg tác dụng nhiều với kim loại:
Trong khoa răng đáng chú ý là tác dụng của nó đối với vàng và nhôm.
- Khi gặp vàng, Hg để lại một vết trắng và vàng sẽ bị ăn mòn. Khi thấy có vết trắng
như vậy cần lau sạch và để bên ngọn lửa cho đến khi mất vết trắng. Đối với răng ở
trên miệng bệnh nhân cần dùng đài cao su và bột đánh bóng đánh kỹ.
- Khi gặp nhôm, Hg làm nhôm “mọc lông tơ” cần đốt nóng như trên.
Câu 6: mô tả dụng cụ và kĩ thuật đánh amalgam
1. Dụng cụ đánh Amalgame
- Dụng cụ đong mạt kim loại và Hg
- Cối và chày hoặc máy đánh Amalgame
- Vải vắt và kẹp
2. Kỹ thuật đánh Amalgame
2.1. Đánh Amalgame bằng tay
Sử dụng cối chày bằng thuỷ tinh, có 3 yếu tố ảnh hưởng đến kết quả:
- Thời gian trộn: độ 30 – 60 giây
- Tốc độ của chày: độ 130 – 200 vòng/ phút
- Lực nén của chày: độ 1 – 2kg
Các yếu tố trên phụ thuộc cụ thể vào yêu cầu của nhà sản xuất.
Cách cầm chày: nên cầm chày như quản bút cũng có thể cầm như nắm một
cán dao.
2.2. Đánh Almalgame bằng máy
Phương pháp này ngày càng phổ biến, thời gian 10 – 30 giây.
2.3. Vắt Hg thừa
Đặt khối Amalgame vừa đánh còn nhão trong miếng vải và vắt với một kẹp
việc này cần được thực hiện sao cho khối Amalgame có độ dẽo vừa đủ để bảo đảm
chất lượng miếng trám.
Câu 7. Trám răng bằng Amalgame: cách nhồi ,điêu khắc, đánh bóng
7.1. Dụng cụ:
- Cây đặt Amalgame
- Cây nhồi có vạch ở đầu hoặc cây nhồi máy
- Dụng cụ điêu khắc amalgame
- Khuôn trám và cái giữ khuôn nếu cần


7.2. Nhồi Amalgame vào lỗ trám:
Trên lỗ trám đã được chuẩn bị và thổi khô (đã đặt khuôn trám và trám lót
nếu cần) đưa từng lượng nhỏ Amalgame vào lỗ trám, dùng cây nhồi, nhồi chặc vào
đáy và các góc, nếu là lỗ trám kép cần nhồi ở lỗ chính trước, nhớ rằng cường độ
nhồi tỷ lệ nghịch với diện tích của cây nhồi, vì vậy cần sử dụng cây nhồi có đầu
nhỏ độ 1,5 ly đường kính, khi kết thúc có thể sử dụng cây nhồi lớn hơn.
7.3. Điêu khắc:
- Sau khi nhồi và khi Amalgame bắt đầu cứng, lấy bớt phần dư và điêu khắc một
cách nhẹ nhàng. Cần khôi phục hình thái của mặt nhai cho phù hợp với tương quan
cắt khít và ăn khớp với các răng của bệnh nhân.
Đối với một số trường hợp có thể tạo hình mặt nhai sao cho miếng trám khỏi
dễ bị vỡ và được định vị tốt trên răng.
- Gỡ khuôn trám (nếu có đặt khuôn trám và chêm): trước hết lấy cây chêm ra, tháo
cái giữ khuôn rồi tháo khuôn theo chiều ngoài trong.
- Làm nhẵn các bờ và mặt miếng trám với dụng cụ làm nhẵn và làm cho mặt nhai
đều đặn bằng miếng bông nhỏ (có thể tẩm Alcool). Việc đánh bóng chính thức
được tiến hành sau 24h hoặc 1 tuần.
- Cần xem tương quan các răng được trám và răng đối diện trước khi nhồi
Amalgame để việc điêu khắc tiến hành thuận lợi.
- Dặn bệnh nhân không nhai trên răng mới trám 2 – 3h.
7.4. Đánh bóng:
Việc đánh bóng làm Amalgame có bề mặt nhẵn, chống sự xuống màu, làm
tăng sức bền của Amalgame và không làm cho bệnh nhân khó chịu vì bề mặt thô
ráp của miếng trám.
- Dụng cụ: + Mũi đánh bóng
+ Đá mài mịn
+ Cao su
+ Đài cao su và bột đánh bóng mịn
- Lần lượt sử dụng phương tiện trên để làm bóng miếng trám.
- Trong khi đánh bóng tránh làm miếng trám bị nóng lên (có hại cho tuỷ răng và
làm bay hơi Hg trong Amalgame) bằng cách tưới nước và cho máy chạy chậm.
Sau khi đánh bóng, miếng trám phải bóng, đưa thám trâm từ mô răng đến
miếng trám hoặc ngược lại không thấy mắc.
Câu 8. Thành phần cấu tạo của composit


Composite là một vật liệu được cấu tạo bằng cách phối hợp 2 hay nhiều vật
liệu có tính chất khác nhau và không tan vào nhau, sự phối hợp này làm cho vật
liệu đạt được tính chất tốt hơn khi dùng riêng rẽ (thuật ngữ composite cũng được
sử dụng cho các vật liệu trong công nghiệp).
Trong nha khoa composite có chứa 3 phase chính:
- Phase hữu cơ: là khung nhựa còn gọi là thành phần nhựa cơ bản.
- Phase vô cơ: là các hạt chất độn phân tán đều khắp khối vật liệu.
- Phase liên kết: là chất nối bề mặt của hạt chất độn vào khung.
Ngoài 3 chất chính trên còn có các chất khác như chất tạo màu, các chất góp
phần vào sự trùng hợp như các chất khơi mào, chất gia tốc, chất ức chế..
1. Nhựa khung
Còn gọi là pha hữu cơ, là thành phần nhựa cơ bản gồm một trong các loại
nhựa sau, hoặc là sự phối hợp của các loại nhựa này.
1.1. Nhựa Bis-GMA của Bowen
Là các monomer Bisphenol A Glycidyl Metacrylate (BIS-GMA). Nhựa BisGMA có mặt trong nhiều loại composite. Monomer này là sự kết hợp của một phân
tử Bisphenol A với hai phân tử Glycidyl metacrylate.
- Các nối đôi của phân tử làm cho monome có thể tạo thể lưới trong không gian 3
chiều.
- Các nhân thơm làm cho phân tử cứng chắc và có sức kháng với lực kéo cao.
- Các nhân Hydroxyl (-OH) có thể tạo cầu nối hydro do đó tăng sự kết dính, kéo
theo sự tăng độ nhớt và dễ hút nước.
Khi đưa nhiều chất độn vào trong nhựa khung (nhựa trở nên đặc khi sử
dụng),
độ nhớt có khuynh hướng tăng, do đó người ta có thể thêm vào nhựa khung những
chất có phân tử lượng thấp, không có nhóm phân cực để hạ độ nhớt. Thí dụ:
- BIS - DMA ( Bisphenol A dimetacrylate)
- EGMA (Ethylene glycol dimetacrylate)
- TEGMA (Triethylene glycol dimetacrylate)
- MMA (Methyl metacrylate)
1.2. Nhựa Epoxy đồng trùng hợp của Lee
Đồng trùng hợp là sự trùng hợp giữa 2 phân tử có kết cấu khác nhau. Lee tạo
sự đồng trùng hợp giữa epoxy và diacrylate. Nhựa này không có gốc tự do nên trơ
về mặt hoá học và ít độc, đồng thời nhờ có gốc epoxy nên hạn chế được độ co khi
trùng hợp.
.1.3. Nhựa Acrylic (công thức của Mashuhara-Fischer)


Là polymethyl metacrylate (PMMA) được khơi mào bằng Tri-N-buthylboran (TBB), sự khơi mào được tác động ở môi trường ẩm. Ưu điểm của loại nhựa
này là trùng hợp bắt đầu ở mặt tiếp giáp của vật liệu và thành lỗ trám (không phải
từ giữa khối vật liệu) nên giảm độ co khi trùng hợp.
1.4. Nhựa Urethan
Là nhựa Uréthane dimetacrylate (UDM hay UDMA). Nhựa này có độ nhớt
kém hơn do đó có thể đưa nhiều chất độn vào.
- Các nhóm amine thứ cấp có thể tạo cầu nối hydro làm cho nhựa có độ kết dính
cao (có thể đưa nhiều hạt độn vào).
- Không có nhóm (-OH) nên làm composite ít ngấm nước, ít đổi màu, vì thế
thường được dùng trong phục hình. Thí dụ nhựa Isosit để làm phục hình cố định.
- Không có nhân thơm nên vật liệu kém cứng chắc hơn nhựa Bis – GMA
Một số hiệu composite có chứa nhựa Bis – GMA và uréthane như
Heliomolar (vivadent).
Như vậy, các monomer dùng làm phase nhựa khung của composite đều là
những phân tử monomer chức năng kép, các đầu phản ứng đều là MMA.
2. Chất độn
Đây là pha vô cơ của composite, vai trò của chất độn là thay thế bớt lượng
nhựa khung để làm giảm các nhược điểm của khung nhựa, như tăng độ cứng, sức
chịu nén, chống sự mài mòn, thẩm mỹ...
Chất độn thay đổi về mặt cấu tạo hoá học, hình dạng, kích thước, tỉ lệ hạt
độn theo cân nặng hoặc theo thể tích ảnh hưởng quan trọng đến tính chất vật lý của
composite.
2.1. Cấu tạo hóa học
Chất độn có thể là hạt silic (SiO2) hay thạch anh (Quartz), sứ, thuỷ tinh.
- Hạt silic (SiO2) hay thạch anh (Quartz): là vật liệu khá cứng, trơ về hoá học, độ
nở nhiệt thấp, có chỉ số khúc xạ gần với mô răng nên thẩm mỹ hơn. Thường dùng
hạt thạch anh vi thể nhiệt phân, được chế tạo bằng phương pháp hóa học ở nhiệt độ
cao, hạt có cấu trúc giống như hình cầu gai cho phép nhựa cơ bản chui vào khe kẽ
của hạt nên có sự kết nối tốt giữa khung nhựa và hạt độn.
- Thuỷ tinh (Glass) hay sứ (Ceramic) có thể chứa kim loại nặng và có tính cản tia
X, thường là những hạt độn thủy tinh, thủy tinh sứ, thủy tinh Lithium/Aluminium,
thủy tinh Barium/Aluminium và thủy tinh Strontium/ Aluminium.
Chất độn thuỷ tinh, sứ có độ cứng kém hơn thạch anh và không hoàn toàn
trơ về hoá học vì nó có thể phóng thích Barium, Silicium ra môi trường nước làm
ảnh hưởng đến sự liên kết giữa khung nhựa và chất độn.
2.2. Hình dạng


Hạt chất độn có thể không tròn đều, có cạnh sắc hoặc dạng tròn, bầu dục.
2.3. Kích thước
Các hạt chất độn có thể có kích thước rất nhỏ (0,04 µ ), chất độn hạt nhỏ, hay
lớn và rất lớn (1 - 50 µ ).
.3. Chất liên kết
Do tính chất khác nhau về mặt cấu tạo hoá học nên các hạt chất độn nằm
trong khung nhựa rất dễ bong ra khi khung nhựa bị mòn. Chất liên kết thường là
những dẫn xuất của Silicium, là những phân tử lưỡng cực, một cực liên kết với
nhựa khung, một cực liên kết với nhóm hydroxyl trên bề mặt các hạt silica của chất
độn, tạo nên sự liên kết bề mặt giữa các phase và hạn chế được nhược điểm trên. \
Câu 9 . phân loại composit theo kích thước hạt độn
Kích thước của các hạt chất độn có ảnh hưởng đến dung lượng chất độn và
do đó ảnh hưởng đến các đặc điểm khác của composite (độ co do trùng hợp, độ bền
cơ học, độ ngấm nước...)
Người ta phân loại composite dựa vào kích thước của hạt, có thể chia
composite ra 4 loại:
.1. Composite cổ điển (C. traditionnel: C.T)
Còn gọi là composite hạt độn đại thể (macrofilled composite) chứa các hạt
chất độn lớn từ 1 - 50 µ với tỉ lệ chiếm 76-80% trọng lượng vật liệu nên còn gọi là
composite chứa hạt độn nặng (heavy filled composite). Loại này không thể làm
nhẵn bóng được nhưng có khả năng chống gãy vỡ cao nên thường được sử dụng để
trám cho các răng chịu lực nhai lớn, răng vỡ lớn, xoang II Black.
2. Composite hạt nhỏ (C. microcharge: C.M)
Còn gọi là composite hạt độn vi thể (Microfilled composite), chứa các hạt
độn kích thước 0,04 µ thường là hạt silic dạng keo (colloidal silica) với tỉ lệ hạt độn
chiếm 50-52% trọng lượng, nên còn gọi là composite chứa hạt độn nhẹ (Light
filled composite). Loại này sau khi đánh bóng sẽ cho bề mặt sáng bóng như men tự
nhiên nhưng khả năng chống gãy vỡ kém nên chỉ dùng cho các răng không chịu
lực, vì vậy còn có tên là composite răng trước (anterior composite).
* Có thể các hạt nhỏ này ở dưới dạng đồng thể, được phân tán đồng đều khắp cả
khối vật liệu.
* Có thể là composite hạt nhỏ không đồng thể, trong khối vật liệu còn chứa các hạt
tiền trùng hợp to từ 1 - 200 µ và một dung lượng chất độn cao hơn.
.3. Composite lai (C. hybrid: C.H)
Còn gọi là composite hạt độn hỗn hợp, chứa 2 loại hạt độn có kích thước
khác nhau, hạt độn nhỏ có kích thước 0,04 µ và hạt lớn từ 1 µ trở lên với tỉ lệ sao


cho kích thước trung bình của toàn thể hạt độn bằng hoặc hơn 1 µ . Tỉ lệ hạt độn
thường chiếm 76-80% trọng lượng vật liệu, vì vậy nó cũng thuộc loại composite
chứa hạt độn nặng. Loại composite này có khả năng chống gãy vỡ cao khi trám ở
các răng chịu lực nhai và có khả năng làm nhẵn bóng nhưng không bằng composite
hạt độn vi thể.
.4. Composite “hybrid” với hạt độn cực nhỏ (nanofill Composite)
Để có thể làm nhẵn bóng cao như composite hạt độn vi thể mà vẫn giữ được
tính chất cơ lý ưu việt, người ta đã sản xuất loại composite gồm 2 loại hạt độn, loại
hạt độn silic 0,04 µ và hạt độn thủy tinh sứ từ 0,6-0,8 µ . Ngoài ra trong một vài
trường hợp đặc biệt, các hạt độn cực lớn (megafill) >100 µ , hoặc cực nhỏ 0,0050,01 µ cũng được sử dụng.
Đầu tiên là những composite với những hạt độn lớn, rồi đến những composite có
hạt độn nhỏ được thay thế cho cement silicate để trám các răng trước, sau đó người
ta nhận thấy các hạt độn lớn làm cho bề mặt composite không nhẵn, không bóng
(tạo điều kiện lưu giữ các mảnh vụn hoặc chất màu),các hạt độn nhỏ thì làm độ
quánh cao, khó sử dụng. Để khắc phục điều này, người ta sử dụng vừa hạt độn lớn
vừa hạt độn nhỏ, là loại composite thông dụng hiện nay. 6.2. Composite quang
trùng hợp
* Chuẩn bị lỗ trám, rửa sạch xoang bằng dung dịch có chứa chlorhexidine
* Cô lập răng, thổi khô.
* Lót đáy, nếu cần
* Xoi mòn lỗ trám bằng gel H3PO4 37%, bắt đầu ở phần men sau đến
phần ngà, để 10 giây. Sau đó rửa sạch với nước từ 5-10 giây.
* Thấm khô vừa phải.
* Đặt khuôn trám.
* Bôi keo dán lên toàn bộ lỗ trám, để 10 giây, chiếu đèn 10 giây
* Đặt composite từng lớp mỏng < 2 mm và chiếu đèn 20 giây cho mỗi
lớp, cuối cùng chiếu đèn 40 giây (tuỳ theo nhà sản xuất).
* Tạo dạng lại cho răng và đánh bóng bằng mũi kim cương,dĩa giấy
nhám, đầu silicon và bột đánh bóng.

Câu 10.cach sử dụng Composite quang trùng hợp
* Chuẩn bị lỗ trám, rửa sạch xoang bằng dung dịch có chứa chlorhexidine
* Cô lập răng, thổi khô.
* Lót đáy, nếu cần


* Xoi mòn lỗ trám bằng gel H3PO4 37%, bắt đầu ở phần men sau đến
phần ngà, để 10 giây. Sau đó rửa sạch với nước từ 5-10 giây.
* Thấm khô vừa phải.
* Đặt khuôn trám.
* Bôi keo dán lên toàn bộ lỗ trám, để 10 giây, chiếu đèn 10 giây
* Đặt composite từng lớp mỏng < 2 mm và chiếu đèn 20 giây cho mỗi
lớp, cuối cùng chiếu đèn 40 giây (tuỳ theo nhà sản xuất).
* Tạo dạng lại cho răng và đánh bóng bằng mũi kim cương,dĩa giấy
nhám, đầu silicon và bột đánh bóng.
Câu 11: GIC : thành phần và đặc tính
1. THÀNH PHẦN
1.1. Bột
Là một loại bột mịn có thể tan trong acid, bao gồm: Silica (SiO 2), Alumina
(Al2O3), Calcium Fluoride (CaF2), Cryolite (Na3AlF3), Aluminum Phosphate
(AlPO4), Sodium Fluoride (NaF).
Những chất trên được nung ở 1100 – 1500 0C tuỳ theo điểm nóng chảy của
mỗi chất, tạo thành một dạng nhão, sau đó được làm lạnh nhanh và nghiền thành
bột. Kích thước hạt bột thay đổi:
* < 25 µ cho các cement gắn, sealant.
* 45 µ cho các cement trám, lót nền.
1.2. Chất lỏng
Là một dung dịch acid hữu cơ, Polyalkenoic acid, phân tử lớn, thường gặp là
Polyacrylic acid, Tartaric acid, Copolymers của Acrylic acid và các acid
monomeric khác.
1.3. Nước
2. ĐẶC TÍNH
2.1. Tính dính
Các GIC có lực dính vào mô răng khoảng 6 – 12Mpa, lực này rất nhỏ so với
lực dính của keo dán ngà (22 – 35Mpa)
Hầu hết các GIC là một hệ thống thuỷ tạo nên dễ làm ướt cấu trúc răng.Tuy
vậy, chúng có độ đặc cao (sau khi trộn) do đó không chảy ra và tiếp hợp vào các
khoảng vi ngàm.
G.I.C bám dính tốt với ngà răng ngoài mối nối với ion calcium, G.I.C còn
nối vào cấu trúc men răng qua mối nối với amino acid và với gốc carboxyl. Như
vậy, GIC dính vào mô răng là do sự trao đổi ion giữa chất trám và mô răng.


2.2. Sự phóng thích Fluoride
Người ta nhận thấy chỉ có ít sâu răng quanh Silicate Cement, do Silicate
Cement chứa nhiều Fluoride, và nó phóng thích fluor bằng sự tan rã (hòa tan trong
môi trường miệng) vì vậy miếng trám dễ bị gãy vỡ và tuổi thọ tối đa của miếng
trám silicate từ 4-6 năm tùy theo kỹ thuật đặt và hoàn tất miếng trám, điều này
cũng được nói đến đối với GIC nhưng chưa được chứng minh rõ ràng. Người ta
cho rằng việc phóng thích fluor như là một quá trình trao đổi ion, tại đây những ion
hydroxyl từ nước bọt thay thế fluoride trong khuôn xi măng ionomer đã đông cứng
(mà không có sự tan rã xảy ra cùng lúc?)
Sự phóng thích Fluoride từ GIC là một sự xâm nhập có giới hạn và phụ
thuộc vào nồng độ F ở khuôn và hạt cement.
Khi được trộn, một lượng lớn F được giải phóng, trở thành một thành phần
của khuôn.
Trong thì phóng thích đầu, F được phóng thích từ khuôn (lớp tiếp xúc với
mô răng), lượng F này được phóng thích nhanh trong 24h đầu. Sự phóng thích F
giảm đột ngột trong ngày thứ 2 – 3.
Trong thì phóng thích sau, F đã giải phóng vào khuôn và từ các hạt bột, ở
cách xa thành lỗ trám hơn.
Sự phóng thích F tỷ lệ với nồng độ F của khuôn và các hạt. Sâu răng quanh
miếng trám thấp không phải là bằng chứng của việc phóng thích F.
2.3. Tính tương hợp sinh học
Do tính acid cao ngay khi mới trám, cement gây nhạy cảm và kích thích tuỷ.
Độ pH tăng dần từ 1,0 đến 4 – 5, khi phản ứng đông cứng hoàn thành đạt 6,7 – 7.
Ảnh hưởng đối với tuỷ chỉ ngay nơi có tiếp xúc trực tiếp, khi mới trám. Nếu
ngà còn lại mỏng hơn 0,5mm thì việc bảo vệ tuỷ để không tiếp xúc với cement là
rất quan trọng.
Khi ngà răng và các ống ngà tiếp xúc trực tiếp:
+ Dịch trong ống ngà thấm nhanh vào cement làm thay đổi về áp lực tuỷ nên
cảm thấy đau.
+ Các thành phần không cứng: H + có thể chui vào ống ngà gây kích thích hoá
học nên cần chú ý sử dụng GIC đúng kỹ thuật.
GIC có tác dụng điều trị dự phòng tốt đối với những trường hợp có nguy cơ
sâu răng cao, khô miệng...
2.4. Co giãn theo nhiệt
G.I.C có độ co giãn theo nhiệt giống cấu trúc răng, do đó giảm thiểu nguy cơ
hở bờ, ngăn ngừa sâu răng tái phát.
2.5. Huỷ hoại do nước


Tính hiếu nước của G.I.C khiến vật liệu này giống mô răng và ổn định trong
môi trường nước bọt hay dịch nướu. Tuy nhiên trong giai đoạn đầu đông cứng của
xi măng có hiện tượng huỷ hoại do nước trong khoảng 5-15 phút sau khi trám, tuỳ
loại G.I.C của các hảng sản xuất. Nước cản trở sự đông cứng của xi măng, làm yếu
các mối nối phân tử, giảm độ cứng của xi măng, do đó, miếng trám sẽ có màu
trắng đục hoặc các đường rạn hay nứt gây sâu dưới miếng trám (giai đoạn này làm
cho miếng trám bị co lại, vì vậy cần thoa lớp vẹc ni để bảo vệ miếng trám). Đây là
điểm yếu của G.I.C, do đó trên lâm sàng trước khi đặt miếng trám cần cô lập
xoang, sau khi trám cần bôi vẹc ni để tránh hư hại miếng trám.
Qua 1 tháng sau khi trám, miếng trám G.I.C trở nên ổn định trong môi
trường nước và không khí.
Câu 12 :trinh bày các loại GIC
1. Cement gắn
Dùng để gắn mão, cầu, khâu chỉnh hình... tỷ lệ bột/lỏng: 1,5/1. Mau cứng,
sức kháng tốt đối với sự xâm nhập nước, có tính hàn kín các ống ngà răng làm
giảm nhạy cảm sau khi gắn mão cầu. Loại này gồm có Fuji Plus, Fuji ortho LC,
Fuji I.
.2. Cement trám
2.1. Trám thẩm mỹ (restorative aesthetic): tỉ lệ bột/lỏng: 2,8/1 đến 6,8/1
- G.I.C hoá trùng hợp: có thời gian cứng kéo dài, mất nước và xâm nhập nước
trong 24h sau trám nên cần cô lập với môi trường miệng. Loại này có:
+ Fuji II trám xoang III, xoang V, và xoang II trẻ em.
+ Fuji IX thích hợp cho kỹ thuật trám răng không sang chấn A.R.T (Atraumatic
Restorative Treatment ).
+ Cervical cement dùng để trám bề mặt chân răng và cổ răng.
- G.I.C quang trùng hợp: có sức kháng lập tức đối với xâm nhập nước hoặc mất
nước nên không cần cô lập với môi trường miệng.
Loại này có Fuji II LC có phối hợp resin dùng trám xoang III, V, xoang II
trẻ em, trám lót.
.2.2. Trám chịu lực (Restorative Reinforced): tỉ lệ bột/ lỏng = 3/1 đến 4/1. Mau
cứng, kháng xâm nhập nước nên có thể kết thúc và làm nhẵn ngay, có thể bị khử
nước tiếp tục trong 2 tuần. Loại này có:
- Fuji IX GP được cải tiến để chịu lực, có thể trám các răng sau vĩnh viễn (trừ
xoang II), tái tạo cùi răng.
- Vitremer tri-cure của hảng 3M.
- ChemFlex của hảng Dentsply
3. Cement lót đáy và làm nền


Loại cement này có độ bám dính và sức chịu nén cao, cứng nhanh, tương
hợp sinh học và cản quang. Tỷ lệ bột/lỏng tuỳ thuộc mục đích sử dụng
- 1,5 /1 cho lót đáy
- 3/1 cho làm nền hoặc bổ khuyết mất chất
Loại này có:
- Fuji Bond LC của hảng GC, là loại G.I.C quang trùng hợp, dùng che tuỷ và làm
hệ thống dán cho các miếng trám composite, amalgam.
- VitrebondTM của hảng 3M.
4. Cement trám bít hố rãnh
Loại này có độ chảy tốt, dễ thâm nhập vào các hố rãnh, dính tốt với men
răng. Gồm có:
- Fuji ionomer type III
- Fissureseal
Câu 13: KỸ THUẬT TRÁM VỚI G.I.C
1. So màu răng.
2. Cô lập răng, nếu có đê cao su thì rất tốt, tránh tối đa nguy cơ chảy máu,
nước bọt hay dịch nướu vào xoang.
3. Sửa soạn xoang: xoang do mài mòn, khuyết hình chêm thì chỉ làm sạch,
xoang sâu thì lấy sạch ngà mềm bằng dụng cụ thông thường, nếu có thể tạo thêm
bám dính cơ học càng tốt.
4. Che tuỷ: nếu lớp ngà phủ lên tuỷ < 0,5 mm, thì chấm đúng lên đó 1 lớp
calcium hydroxide (không chấm rộng, sẽ làm giảm bề mặt bám dính)
5. Làm sạch lớp mùn ngà: thoa 1 lớp conditioner (dung dịch acid polyacrylic
25% ) trong 10 giây.
6. Rửa sạch và thổi khô xoang (nhưng không được quá khô, vì G.I.C khi
trùng hợp cần nước).
7. Trộn bột và chất lỏng G.I.C theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
8. Sử dụng đai celluloid nếu cần
9. Nhồi G.I.C vào xoang, lấy phần xi măng dư trào ra ngoài, chờ đông cứng theo
hướng dẫn .
10. Gỡ đai, thoa vẹc ni tránh mất nước.
11. Điêu khắc và chỉnh khớp bằng dao bén.
12. Thoa lại vẹc ni.
13. Đánh bóng (nên hẹn lại vào lần sau) bằng giấy nhám, đài cao su và bột đánh
bóng có phun nước.


Tính thẩm mỹ của miếng trám G.I.C được cải tiến nhờ vào độ trong và màu
tương đối bền vững, độ trong đạt được tối đa ít nhất một tuần sau khi trám. Màu
thường sử dụng cho răng người Việt là màu A2, A3, A3,5 .
Câu 14: trinh bày đặc tính của Ca(OH)2
1. Có tính kiềm, pH= 11,5 – 13, nên có khả năng diệt khuẩn và trung hoà môi
trường viêm.
2. Có tính tương hợp sinh học.
3. Không dính vào ngà răng, bị hư khi soi mòn acid.
4. Xốp và tự tiêu sau một thời gian, vì vậy nếu sử dụng Ca(OH) 2 dưới miếng trám,
sẽ tạo ra những lỗ hổng, gây nứt vi kẻ thuận lợi cho sự xâm nhập của vi khuẩn,
đồng thời chịu đựng kém đối với lực nén.
5. Kích thích tuỷ tạo nên lớp ngà thứ cấp (cầu ngà) trong trường hợp tuỷ bị lộ,
hoặc kích thích tạo lớp xê măng để đóng chóp ở răng vĩnh viễn đang phát triển bị
hoại tử tuỷ.(cơ chế chưa được biết rõ).
Câu 15: trình bày chỉ định sử dụng của Ca(OH)2
1. Lót đáy
Những xoang sâu gần tuỷ cần trám bằng composite hoặc G.I.C, kể cả
Amalgame, nếu trám trực tiếp có thể bị kích thích tuỷ vì vậy cần phải lót một lớp
Ca(OH)2 . Kỹ thuật này rất được ưa chuộng vào thập niên 70, hiện nay hạn chế sử
dụng vì những yếu điểm của nó (mềm, xốp, tự tiêu đi theo thời gian gây ra sự xói
mòn bên dưới vật liệu trám, dẫn đến tạo các lỗ hổng nhỏ làm nứt gãy vi thể bên
trong miếng trám khi có lực cắn, gây sâu răng tái phát, đau sau khi trám, viêm tuỷ.
Thêm vào đó Ca(OH)2 không dính vào ngà, nên khi có lực cắn tạo ra hiệu ứng di
chuyển dịch trong ống ngà và gây đau khi bị kích thích. Vì vậy, nếu cần thiết chỉ
dùng một ít và đặt đúng vị trí cần bảo vệ tuỷ.
2. Che tuỷ
Những răng bị lộ tuỷ nhỏ và mô tuỷ hoàn toàn lành mạnh (trong trường hợp
viêm tuỷ có khả năng hồi phục) dùng Ca(OH) 2 để kích thích tuỷ tạo lớp ngà thứ
cấp (cầu ngà) bảo vệ tuỷ.
.3. Lấy tuỷ bán phần
Cho răng sữa hoặc răng vĩnh viễn chưa trưởng thành (chưa đóng chóp).
Ca(OH)2 kích thích tuỷ để đóng chóp.
4. Trám bít ống tuỷ tạm thời
Những răng bị nhiễm trùng chóp, nội tiêu, ngoại tiêu, hoặc răng vĩnh viễn
chưa đóng chóp. Ca(OH)2 có tính diệt khuẩn nên được dùng để bít ống tuỷ điều trị
nhiễm trùng chóp, đồng thời còn có khả năng kích thích tạo cement để đóng chóp.


Câu 17: phân loại và tính chất của vật liệu trám bít ống tủy
1. PHÂN LOẠI
Những vật liệu trám bít ống tuỷ hiện nay, có thể được phân thành những loại
sau:
1.1. Loại bột dẽo (pâte)
Loại này gồm cement ZnO Eugenol với nhiều gia chất như ZnO và nhựa
tổng hợp (Cavit), epoxy resin (AH 26), acrylic resin, polyethylene resin, polyvinyl
resin (Diaket), polycarboxylate cement, silicone, chloropercha.
1.2. Loại bán đặc (semisolid)
Gồm gutta percha, côn acrylic và những côn có thành phần gutta percha.
1.3. Loại đặc có thể chia làm 2 loại:
1.3.1. Loại dễ uốn (bán cứng)
Gồm côn bạc và những dụng cụ thép không rỉ, loại này có thể bẻ cong để
thích hợp theo độ cong của ống tuỷ.
1.3.2. Loại cứng
* Vitalium, chrome cobalt loại này không uốn được, dùng để cắm ghép
nội nha, tăng cường cho những chân răng gãy, chân bị tiêu và tái tạo lại thân răng.
* Amalgam bạc, được dùng rộng rãi trong phẫu thuật nội nha, ngoại tiêu,
nội tiêu hay thủng chân răng.
* IRM và super EBA là những chất dùng để trám ngược trong phẫu thuật
nội nha có tính tương hợp sinh học tốt.
2. TÍNH CHẤT CỦA VẬT LIỆU TRÁM BÍT ỐNG TUỶ
Sau khi các ống tuỷ được sửa soạn và làm sạch, phải được trám kín để tránh
nhiễm trùng lại, giúp sửa chữa mô quanh chân răng và trả lại cấu trúc bình thường.
Những vật liệu để trám bít hệ thống ống tủy cần có những tính chất sau:
1. Không làm đau nhức sau khi trám.
2. Không làm đổi màu răng, nhất là răng cửa.
3. Không tiêu ngót đi được.
4. Dính vào thành ống tuỷ.
5. Dễ sử dụng.
6. Dễ lấy đi khi cần.
7. Cản quang
Ngày nay, theo Grossman vật liệu trám bít ống tủy lý tưởng cần đáp ứng
được các yêu cầu sau:


* Dán kín ống tủy cả thành bên và phía chóp.
* Có tính trơ với độ ẩm.
* Có tính kìm khuẩn hay ít ra cũng không thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn.
* Không co sau khi đã đặt vào ống tủy.
* Không kích thích mô quanh chân răng.
* Không gây đáp ứng miễn dịch ở mô quanh chân răng.
* Không gây đột biến hay sinh ung thư.\
Câu 18: MỘT SỐ CEMENT DÙNG ĐỂ TRÁM BÍT ỐNG TỦY
1. Tubliseal : chứa
- ZnO
: 57, 4%
- Bismuth trioxide: 7, 5%
- Thymol iodide : 3, 75%
- Oleoresin
: 21, 25%
- Oils
:
7, 5%
- Modifiers
:
2, 6%
Được trình bày dưới dạng 2 ống : chất căn bản và chất xúc tác, khi dùng trộn
2 lượng bằng nhau, để cho 1 hỗn hợp giống như crème. Loại này có tính trơn tốt và
không làm nhiễm màu cấu trúc răng, tuy nhiên nó đông cứng khá nhanh, đặc biệt
khi có sự hiện diện của hơi nước.
2. Grossman,s sealer :
Là chất trám ống tuỷ được dùng rộng rãi và đáp ứng đa số những yêu cầu về
một chất trám ống tuỷ lý tưởng, ít gây kích thích mô và có tính kháng khuẩn cao.
Thành phần gồm:
2.1. Bột : - ZnO
: 42 %
- Staybelite resin
: 27 %
- Bismuth subcarbonate
: 15 %
- Barium sulfate
: 15%
- Sodium borate anhydrate :
1%
2.2.Chất lỏng :
Eugenol
Để sửa soạn phần cement trám, người ta dùng một tấm kiếng và 1 bay trộn
đã được khử trùng, không nên dùng quá 3 giọt nước cho mỗi lần trám. Có 2 test để
thử độ quánh của cement :
* Test chảy xuống (droptest): gom cement trên cây trộn và nhấc lên, cement không
được chảy trong vòng 10 – 12 giây. Có thể dùng cây trâm số 25 nhúng vào khối
cement và để thẳng đứng, cement không được chảy trong vòng 5 – 10 giây.


* Test kéo dài (string out test): gom cement trên tấm kiếng, áp bay trộn vào khối
cement và kéo lên từ từ, cement phải được kéo lên tối thiểu là 2cm mà không bị
đứt.
Ở ngoài cement không đông cứng trong vòng 6 – 8 giờ, nhưng trong ống tuỷ
vì có sự hiện diện của hơi nước trong ống ngà, nên cement sẽ đông cứng trong
vòng ½ giờ. Khi đông cứng, cement có tính kín tốt và ít thay đổi thể tích, tuy nhiên
eugenate Zn có thể bị phân huỷ bởi nước làm cho vật liệu yếu và không ổn định, vì
vậy, không nên dùng cement này để trám ngược trong phẫu thuật nội nha. Cement
này có thể tan trong chloroform, xylol hay ether.
2.3. AH – 26:
Được báo cáo đầu tiên vào năm 1957, thành phần gồm :
2.3.1. Bộ : - Bột bạc
: 10%
- Bismuth trioxide
: 60%
- Titanium dioxide
:
5%
- Hexamethylene tetramine : 25%
2.3.2. Chất lỏng: Bisphenol diglycidyl ether 100%
Sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, nó có tính dính tốt, kháng khuẩn,
độc tính thấp và mô dung nạp tốt.
Câu 19. Các loại thuốc tê bề mặt
1.1. Ethyl chloride
Cơ chế vật lý, gây tê bằng sự tạo lạnh bề mặt nhờ sự bay hơi của thuốc, ít
dùng vì khó điều chỉnh chính xác tia xịt và còn có tác dụng gây mê toàn thân.
1.2. Thuốc tê bôi bề mặt
Bôi lên niêm mạc miệng, có tác dụng tốt cho trẻ và mùi dễ chịu, có tác dụng
sâu 2-3 mm nếu sử dụng đúng cách (làm khô vùng được bôi, giới hạn vùng gây tê;
đủ thời gian cần thiết: 5 phút). Loại sản phẩm thông dụng hiện nay là lignocaine và
benzocaine dưới dạng dung dịch, kem, thuốc mỡ và thuốc phun (spray).
1.3. Vật liệu phóng thích có kiểm soát
Người ta cho những hoạt chất gây tê vào trong các vật liệu có khả năng dính
lên niêm mạc và phóng thích chậm thuốc tê, đây là kỹ thuật đang được phát triển vì
tính hiệu quả của nó đối với trẻ em.
1.4. Bơm áp lực (jet injector)
Cho phép đưa thuốc tê vào sâu hơn bề mặt khoảng 1cm mà không dùng kim
tiêm, nhờ dùng một áp lực đẩy thuốc tê xuyên qua niêm mạc với loại bơm tiêm đặc


biệt, tuy nhiên ít dùng vì giá đắt, có thể gây tổn thương niêm mạc và có âm thanh
phát ra khi phóng thuốc.
Câu 20. Thuốc tê tiêm
Các thành phần trong ống thuốc tê gồm : thuốc tê, thuốc co mạch, chất bảo
quản.

Hình 1: Ống thuốc tê
1. Cấu trúc: gồm 3 nhóm :
- Nhóm ưa nước:
Dẫn xuất amine, khi kết hợp với acid sẽ tạo muối tan trong nước nên dùng
làm thuốc tê chích. Nhờ phần ưa nuớc thuốc tê có thể di chuyển qua cơ, mô liên
kết, mô xương để đến sợi thần kinh.
- Nhóm ưa mỡ:
Cấu trúc nhân thơm, khi chích, nhờ phần ưa mỡ thuốc tê có khả năng di
chuyển qua màng Phospholipide của tế bào thần kinh.
- Nhóm trung gian:
Là liên kết ester hoặc liên kết amide quyết định đặc tính thải trừ và tiềm
năng của thuốc (cấu trúc càng dài tiềm năng càng lớn), có thể tăng tiềm lực bằng
cách tăng nồng độ của thuốc nhưng sẽ làm tăng độc tính.
2. Phân loại
Thuốc tê dùng trong nha khoa được chia làm 2 loại : ester và amide.
- Loại ester:


Chuyển hoá nhờ men cholinestérase trong huyết tương, kém bền vững, sản
phẩm chuyển hoá (acid para-amino-benzoid) có khả năng gây dị ứng cao, ít sử
dụng, chỉ còn dùng Procain trong những trường hợp dị ứng với loại amid hay các
bệnh lý Porphyrin. Các loại thuốc tê thường dùng của loại ester là Procain,
Novocain.
- Loại amide:
Bền vững hơn, chịu được sự thay đổi độ pH, chuyển hoá tại gan, ít gây dị
ứng nên thường được dùng trong nha khoa ngày nay. Các sản phẩm thường dùng
hiện nay của loại amid gồm :
* Thế hệ cũ : Articain, Lidocain.
* Thế hệ mới : Mepivacain, Aptocain, Prilocain, Pyrocain. Riêng Bupivacain và
Etidocain ít dùng vì quá mạnh, làm tê kéo dài sau can thiệp và tê thần kinh vận
động gây khó chịu cho bịnh nhân.

3. Liều tối đa
Từ 300mg - 400mg tùy theo loại. Tốt nhất nên dùng cách tính liều tối đa tính
theo trọng lượng, đặc biệt là đối với trẻ em. Ví dụ đối với lidocain 2%, liều tối đa
mg/kg là 4,4 mg, ta tính như sau :

Trọng lượng (kg)

Mg

Liều tối đa
Số ống

10

44

1,2

15

66

1,8

20

88

2,4

25

100

2,7

30

132

3,6

40

176

4,8

50

220

6,1

60

264

7,3

Nồng độ 2% = 20mg/ml x 1,8ml/ống = 36mg


Câu 21. THUỐC SÁT KHUẨN
1. Nước oxy già
Dung dịch nước hydro peroxyt (H2O2). Nước oxy già được dùng là một dung
dịch nước oxy già 10 thể tích, nghĩa là khoảng 3% H 2O2 có thể bốc ra một thể tích
oxy gấp 10 lần thể tích nước.
Có tác dụng sát khuẩn nhẹ, làm mất màu, mất mùi. Trong nhổ răng người ta
dùng oxy già để sát khuẩn ổ răng, nơi răng mới nhổ. Nhờ men catalaza trong các
mô, oxy già tiết O2 . O2 chiếm nhóm - SN ở protein vi khuẩn và sát khuẩn. O 2 bốc
ra có tác dụng đẩy mủ, máu cục và tế bào chết ra ngoài, nên làm sạch vết thương.
2. Cồn iốt
Thường dùng để sát khuẩn niêm mạc ở chỗ trước khi chích thuốc gây tê.
3. Povidine - iodine 0,5% (betadine oral rinse)
Hiện nay khuynh hướng người ta thích dùng povidine iodine 0,5% để súc
miệng trước và sau khi can thiệp nhổ răng hoặc các tiểu phẫu vùng miệng, hoặc
cho cắn gòn có tẩm povidine iodine sau nhổ răng.
Câu 22. THUỐC CẦM MÁU:phân loại ,chỉ định, cách dùng
1. Thuốc cầm máu tại chỗ
Ngoài những biện pháp cơ học như nhét mèche có tẩm mỡ iodoform, khâu ổ
răng bằng kim chỉ. Hiện nay người ta thường dùng những vật liệu cầm máu tự tiêu
đặt vào ổ răng nhổ bị chảy máu, các vật liệu này rất tiện sử dụng và hiệu quả,
chúng có tác dụng giúp ngưng kết tiểu cầu để tạo hình thành cục máu đông. Trên
thị trường hiện có nhiều loại :
- Gélatin xốp dưới dạng spongel, có tên thương mại :
+ spongostan
+ gélatin sponge
- Oxycellulose dưới dạng lưới, có tên thương mại :
+ sorbucell
+ surgicell
+ oxycell
- Gạc Pangen hoặc gạc gingistart : nguồn gốc từ collagène
2. Thuốc cầm máu toàn thân
Đối với những người có bệnh về rối loạn đông máu rõ rệt cần xin ý kiến của
chuyên khoa Huyết học. Trong những trường hợp chỉ rối loạn nhẹ, hay nghi ngờ có
rối loạn, có thể cho bệnh nhân dùng thuốc từ 3-7 ngày trước khi can thiệp và kéo


dài vài ngày sau can thiệp nếu còn chảy máu. Có thể dùng thuốc uống hay thuốc
chích gồm :
- Dicynone (Etamsylate)
Chống chảy máu và cũng cố thành mạch, tái lập lại khả năng kết dính của
tiểu cầu nếu bị rối loạn, tái lập sức chịu đựng của thành mạch nếu bị giảm, phòng
ngừa và điều trị xuất huyết.
Thuốc viên 250mg, viên 500mg, ống tiêm 250mg
Liều lượng: - 3 viên 500mg / 24 giờ x 3 ngày
- 2 ống tiêm bắp 1 giờ trước khi can thiệp. Nếu chảy máu hậu
phẫu: 2-3 ống tiêm bắp / ngày.
- Vitamin K1 Delagrange (Phytoménadione)
Là một chất chống chảy máu, tiền thân của Prothrombine và nhiều yếu tố
khác được gan tổng hợp. Dùng để đề phòng và điều trị các trường hợp xuất huyết
do thiếu prothrombine máu và ở bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông máu.
Thuốc viên 5mg, thuốc giọt trong chai 5 ml và 10 ml, ống tiêm 50mg.
Liều lượng: 4-6 viên / 24 giờ trong 3-7 ngày hoặc 20-30 giọt / ngày.
- Vitamine K 1 Roche (Phytoménadione)
Ống tiêm 20 mg, 50 mg, viên 10mg, lọ thuốc nước 10 mg.
Liều lượng: đang xuất huyết: 100 mg / ngày IM chậm, liều phòng ngừa:
uống 40-60 mg / ngày x 7 ngày hoặc 50-100 mg vào tối trước phẫu thuật, trẻ em =
người lớn.
Câu 23: các loại khay lấy dâu:đặc điểm ,công dụng
1.1. Khay lấy dấu làm sẵn
Được làm bằng kim loại (nhôm, inox) hoặc nhựa, có nhiều loại khay lấy dấu,
loại dùng cho hàm trên, loại dùng cho hàm dưới, loại dùng cho hàm còn răng, loại
dùng cho hàm mất hết răng, loại cho hàm chỉ còn răng trước, loại nửa hàm phải và
trái, (loại khay ¼ hàm) loại chỉ dùng cho răng trước…
Khay lấy dấu thường có 3 cở: lớn, trung bình, nhỏ để thích hợp với kích
thước cung hàm và răng của bệnh nhân, trên khay có đục lỗ hoặc không.


Hình 1: Các cỡ khay lấy dấu bằng nhựa theo màu sắc

Hình 2: Khay lấy dấu bằng nhựa và kim loại
1.1.1. Cấu tạo
Khay lấy dấu cấu tạo gồm 2 phần: cán khay và thân khay.
- Thân khay: Gồm thành khay và đáy khay, thành và đáy khay thay đổi tùy theo
hàm còn răng hoặc mất hết răng. Khay cho hàm còn răng có thành cao, đáy sâu,
còn khay cho hàm mất hết răng có thành thấp và đáy nông.
Khay hàm trên chỉ có thành ngoài (thành hành lang miệng), phần trong liên
tục tạo thành đáy khay, ở giữa có phần lồi lên, phần này có thể cao thấp khác nhau
để thích hợp với độ sâu của vòm khẩu bệnh nhân.
Khay hàm dưới có hai thành: thành ngoài (thành hành lang miệng) và thành
trong (thành lưỡi), đáy khay là phần nối liền của 2 thành.
- Cán khay: Có loại dính liền với đáy khay, có loại rời được gắn vào đáy khay


Hình 3: Khay lấy dấu hàm mất răng toàn bộ và bán phần

Hình 4: Khay lấy dấu cán rời và khay lấy dấu ¼ hàm
1.1.2. Công dụng
Khay lấy dấu làm sẵn thường được dùng để lấy dấu cung hàm, răng và các
chi tiết giải phẫu lân cận trong phục hình tháo lắp bán phần (PHTLBP) hoặc để tạo
mẫu sơ khởi cho việc thực hiện một khay lấy dấu cá nhân trong phục hình toàn
hàm (PHTH) và trong những trường hợp lấy dấu bằng cao su trong phục hình cố
định (PHCĐ), khay lấy dấu làm sẵn thường dùng với chất lấy dấu là Hydrocolloids
không hoàn nguyên (Alginate).
1.2. Khay lấy dấu cá nhân (porte empreinte individuel, individual tray)
Được làm bằng nhựa tự cứng dựa trên một mẫu thạch cao được đúc ra từ
một dấu sơ khởi của bệnh nhân lấy bằng khay lấy dấu làm sẵn.
Khay lấy dấu cá nhân rất khít sát với hình thể cung hàm và những chi tiết
giải phẫu xung quanh mà chúng ta muốn ghi dấu, nó sẽ tạo được một dấu chính
xác với những chất lấy dấu chuyên biệt (cao su, ZOE, thạch cao lấy dấu).


Hình 5: Khay lấy dấu cá nhân
Câu 24. VẬT LIỆU LẤY DẤU: đặc điểm và ứng dụng
1. Hydrocolloid
Là vật liệu lấy dấu loại đàn hồi, thành phần chủ yếu được trích từ rong biển.
Tuỳ trạng thái sử dụng, chúng có thể ở dạng lỏng (sol) hay đặc (gel) và có khả
năng chuyển từ dạng này sang dạng kia. Tuỳ thuộc vào sự chuyển đổi trạng thái
này có thể tái hợp lại hay không mà người ta phân hydrocolloid thành 2 loại.
.1.1 Hydrocolloid hoàn nguyên được
Là loại hydrocolloid có thể chuyển đổi từ trạng thái lỏng sang trạng thái đặc
và ngược lại. Tác nhân gel hoá do nhiệt độ.
+ Có ở thị trường dưới dạng ống hay vỏ đạn.
+ Đun nóng 60-70°C vật liệu biến thành dạng lỏng.
+ Làm lạnh 38°C trở thành dạng đặc.
.1.2 Hyđrocolloi không hoàn nguyên được (Alginate)
Là loại hydrocolloid chỉ đổi từ trạng thái lỏng sang đặc. Tác nhân gel hoá là
phản ứng kết tủa ( tác nhân hoá học)
+ Thời gian đông đặc: từ 2-4 phút tuỳ từng nhãn hiệu.
+ Nhiệt độ của nước càng cao sẽ nhanh đông.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×