Tải bản đầy đủ

Tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi nội trú tại khoa hô hấp tháng 52016 bệnh viện trẻ em hải phòng

Trường đại học y dược Hải Phòng

BÁO CÁO THỰC TẬP

Họ tên sv: Vũ Thị Ngần
Lớp: Dược k2 – Tổ 2

Chủ đề: Tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi
nội trú tại khoa hô hấp tháng 5/2016 - bệnh viện trẻ em Hải
Phòng.


Lời cảm ơn
Được thực tập tại khoa Dược bệnh viện trẻ em Hải Phòng trong vòng 1 tháng,
là những trải nghiệm mới để em học được rất nhiều điều quý báu, từ cách tổ chức,
sắp xếp, thực hiện công việc một cách đầy khoa học đạt hiệu suất cao, đến cách cư
xử hòa nhã, thân thiện giữa các đồng nghiệp… Chúng em hiểu được rằng, những
kĩ năng và kinh nghiệm thực tế này sẽ khó có thể nào học được nếu như chỉ đọc từ
sách vở, chính vì thế em càng trân trọng và biết ơn hơn những sự chỉ dạy tận tình
của các thầy cô anh chị.
Em xin gửi lời cảm ơn tới cô Bùi Thị Ánh Tuyết- trưởng khoa Dược bệnh viện

trẻ em Hải Phòng cùng các cô,anh chị trong khoa dược, và khoa hô hấp đã hướng
dẫn và giúp đỡ em hoàn thành tốt báo cáo này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn cô Đỗ Thị Bích Diệp-giáo viên hướng dẫn,cùng
các thầy cô trong khoa Dược của trường đại học y dược Hải Phòng,em sẽ không
thể có được cơ hội học tập tốt tại viện nếu như thiếu sự tạo điều kiện và các kiến
thức học được từ các thầy,cô.em xin trân thành cảm ơn.
Bài thu hoạch của em được thực hiện trong 1 khoảng thời gian ngắn ( gần 3
tuần). Bước đầu đi vào thực tế, còn nhiều bỡ ngỡ và kiến thức của em còn hạn chế
. Do vậy, những thiếu sót là điều chắc chắn không thể tránh khỏi, em rất mong
nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô và các bạn học cùng
lớp để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn.
Em xin trân thành cảm ơn!
Sinh viên báo cáo
Vũ Thị Ngần


Đặt vấn đề
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là nhóm bệnh rất phổ biến ở trẻ em, đặc biệt
là ở trẻ dưới 5 tuổi. Đây là nhóm bệnh có tỉ lệ mắc cao, tần suất mắc nhiều
lần trong năm và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ trong độ
tuổi này.
Kháng sinh đã giúp điều trị bệnh và góp phần hạ thấp tỷ lệ tử vong. Tuy
nhiên, trong điều trị viêm phổi có xu hướng sử dụng quá rộng rãi và phối
hợp kháng sinh qúa thường xuyên một cách không cần thiết. Vấn đề này
luôn là mối quan ngại của nhiều nhà lâm sàng và vi khuẩn học, luôn gây
nhiều bàn cãi. Việc chỉ định KS quá rộng rãi và nhất là việc tự mua KS
điều trị không có đơn của thầy thuốc là nguyên nhân của tình trạng vi
khuẩn kháng KS ngày càng tăng.
Ở nước ta, đánh giá tình hình sử dụng KS và nghiên cứu việc chỉ định KS
hợp lí trong điều trị nhiễm khuẩn nói chung và viêm phổi nói riêng đang là
một yêu cầu cấp thiết trong thực tế lâm sàng. em thực hiện đề tài này
nhằm tìm hiểu tình hình sử dụng KS ở trẻ bị viêm phổi trong qúa trình
điều trị tại khoa hô hấp bệnh viện trẻ em Hải Phòng trong tháng 5 năm
2016.


MỤC LỤC
I.

Trang


TỔNG QUAN VIÊM PHỔI ………………………………………………………1

1, Viêm phổi cộng đồng ở trẻ .……………………………………………………...1
2, Viêm phổi mắc phải ở trẻ ………………………………………………………..4
II.
III.

ĐỐI
TƯỢNG

CỨU……………………………...6

PHƯƠNG

PHÁP

KẾT
QUẢ
CỨU…………………………………………………………7

NGHIÊN
NGHIÊN

1, khái quát kháng sinh sử dụng trong tháng 5/2016 của bệnh
viện trẻ em Hải Phòng……………………………………………………………….7
2, tình hình bệnh tật trong khoa hô hấp…………………………………………….8
2.1 Cơ cấu bệnh tật theo mức độ bệnh tật được

chẩn đoán……………………8

2.2 Cơ cấu bệnh theo tuổi……………………………………………………….8
2.3 Cơ cấu bệnh theo giới tính…………………………………………………..8
2.4 Tiền sử dùng thuốc của trẻ trước khi nhập viện……………………………..9
2.5 Một số nhận xét……………………………………………………………...9
3, Tình hình sử dụng kháng sinh điều trị trong khoa……………………………….10
III.1 Cơ cấu thuốc-biệt dược sử dụng trong khoa trong tháng 5/29016…….10
III.2 Kháng sinh sử dụng đầu tiên trong các phác đồ điều trị……………….11
III.2.1 Theo
tên
biệt
dược…………………………………………………..11
III.2.2 Phối
hợp
kháng
sinh
trong
ngày
đầu
tiên……………………………12
III.3 Cơ cấu kháng sinh sử dụng theo đường dùng thuốc …………………..13
III.4 Tỉ lệ bệnh án đổi thuốc trong quá trình điều trị……………………….14
IV.

KẾT LUẬN VÀ BÀN LUẬN ………………………………………………...14
1, Tổng kết chung……………………………………………………………….14


2, Bàn luận………………………………………………………………………16
3, Một số nguyên nhân và giải thích cho tình trạng sử dụng kháng
sinh trong khoa …………………………........................................................ 16


I.TỔNG QUAN VỀ VIÊM PHỔI
1.viêm phổi cộng đồng ở trẻ em
 Khái niệm: viêm phổi mắc phải tại cộng đồng là nhiễm khuẩn cấp tính (dưới 14
ngày) gây tổn thương nhu mô phổi, kèm theo các dấu hiệu ho, khó thở nhịp thở
nhanh và rút lõm lồng ngực, đau ngực... Các triệu chứng này thay đổi theo tuổi
Theo Tổ chức y tế thế giới, viêm phổi là viêm nhu mô phổi bao gồm 4 thể lâm
sàng: Viêm phế quản phổi, Viêm phổi thuỳ, Viêm phế quản và Áp xe phổi.
 phân loại viêm phổi: theo mức độ nặng nhẹ(TCYTTG) chia thành 3 loại
-

Viêm phổi: 4 thể lâm sàng trên và không kèm theo bất kì một trong 4 dầu hiệu
nguy hiểm toàn thân (*) hay một trong 2 dấu hiệu nặng hô hấp (rút lõm lồng
ngực, tiếng thở rít lúc hít vào).

-

Viêm phổi nặng: 4 thể lâm sàng trên và có kèm ít nhất một trong số 6 dấu hiệu
nặng nói trên(Rút lõm lồng ngực,Phập phồng cánh mũi,Thở rên (trẻ < 2 tháng
tuổi), Có thể có dấu hiệu tím tái nhẹ,Có ran ẩm hoặc không,X-quang phổi có thể
thấy tổn thương).Viêm phổi nặng thường có suy hô hấp độ II, III, hội chứng
nhiễm trùng nặng, hội chứng nhiễm độc.

-

Viêm phổi rất nặng : có các triệu chứng của viêm phổi hoặc viêm phổi nặng Có
thêm 1 trong các dấu hiệu nguy hiểm sau đây:Tím tái nặng,Không uống
được,Ngủ li bì khó đánh thức, Thở rít khi nằm yên,Co giật hoặc hôn mê,Tình
trạng suy dinh dưỡng nặng

 Nguyên nhân:
-vi khuẩn: phế cầu,…
- virut : á cúm, cúm A B
-Nấm
- kí sinh trùng

 Nguyên tắc điều trị: việc lựa chọn kháng sinh trong điều trị viêm phổi lý tưởng
nhất là dựa vào kết quả nuôi cấy vi khuẩn và làm kháng sinh đồ để chọn kháng
sinh thích hợp. Tuy nhiên trong thực tế khó thực hiện vì:
6


+ Việc lấy bệnh phẩm để nuôi cấy vi khuẩn và làm kháng sinh đồ rất khó khăn,
đặc biệt là tại cộng đồng
+ Thời gian chờ kết quả xét nghiệm mới quyết định điều trị là không kịp thời,
nhất là những trường hợp viêm phổi nặng cần điều trị cấp cứu.
- Vì vậy việc lựa chọn kháng sinh điều trị viêm phổi ở trẻ em chủ yếu dựa vào
đặc điểm lâm sàng, lứa tuổi, tình trạng miễn dịch, mức độ nặng nhẹ của bệnh
cũng như tình hình kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh thường gặp để
có quyết định thích hợp.
Điều trị viêm phổi do vi khuẩn chủ yếu là sử dụng kháng sinh sau đó là các điều
trị hỗ trợ khác
-

Đánh giá đúng mức độ nặng , nhẹ của bệnh.
Kháng sinh phù hợp .
Đánh giá tình trạng lâm sàng sau 48h điều trị
• Cơ sở để lựa chọn kháng sinh trong điều trị viêm phổi ở cộng đồng
- Việc lựa chọn kháng sinh trong điều trị viêm phổi lý tưởng nhất là dựa
vào kết quả nuôi cấy vi khuẩn và làm kháng sinh đồ để chọn kháng sinh
thích hợp. Tuy nhiên trong thực tế khó thực hiện vì:
+ Việc lấy bệnh phẩm để nuôi cấy vi khuẩn và làm kháng sinh đồ rất khó
khăn, đặc biệt là tại cộng đồng
+ Thời gian chờ kết quả xét nghiệm mới quyết định điều trị là không kịp
thời, nhất là những trường hợp viêm phổi nặng cần điều trị cấp cứu.
- Vì vậy việc lựa chọn kháng sinh điều trị viêm phổi ở trẻ em chủ yếu dựa
vào đặc điểm lâm sàng, lứa tuổi, tình trạng miễn dịch, mức độ nặng nhẹ
của bệnh cũng như tình hình kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh
thường gặp để có quyết định thích hợp.

 Một số phác đồ điều trị viêm phổi cộng đồng của bộ y tế- HƯỚNG DẪN
SỬ DỤNG KHÁNG SINH ban hành kèm theo quyết định số 708/QHBYT ngày 02/3/2015
7


a,Viêm phổi trẻ sơ sinh và < 2 tháng tuổi
- Ở trẻ sơ sinh và dưới 2 tháng tuổi, tất cả các trường hợp viêm phổi đều là nặng và
phải đưa trẻ đến bệnh viện để theo dõi và điều trị:
+ Benzyl penicilin 50mg/kg/ngày (TM) chia 4 lần hoặc
+ Ampicilin 100 – 150 mg/kg/ngày kết hợp với gentamycin 5-7,5 mg/kg/ngày (TB
hoặc TM) dùng 1 lần trong ngày. Một đợt điều trị từ 5 -10 ngày.
- Trong trường hợp viêm phổi rất nặng có thể dùng:
+ Cefotaxim 100 – 150 mg/kg/ngày (tiêm TM) chia 3-4 lần trong ngày.

b) Viêm phổi ở trẻ 2 tháng – 5 tuổi
- Viêm phổi (không nặng): Kháng sinh uống vẫn đảm bảo an toàn và hiệu quả trong
điều trị viêm phổi cộng đồng ở trẻ em kể cả một số trường hợp nặng
Lúc đầu có thể dùng:
+ Co-trimoxazol 50mg/kg/ngày chia 2 lần (uống)
+ Amoxycilin 50-80mg/kg/ngày (uống) chia làm 3 lần
+ amoxicillin-clavulanat.
- Viêm phổi nặng
+ Benzyl penicilin 50mg/kg/lần (TM) ngày dùng 4-6 lần.
+ Ampicilin 100 - 150 mg/kg/ngày. Nếu không đỡ hoặc nặng thêm thì phải điều trị
như viêm phổi rất nặng. Trẻ đang được dùng kháng sinh đường tiêm để điều trị viêm
phổi cộng đồng có thể chuyển sang đường uống khi có bằng chứng bệnh đã cải thiện
nhiều và tình trạng chung trẻ có thể dùng thuốc được theo đường uống
- Viêm phổi rất nặng
+ Benzyl penicilin 50mg/kg/lần (TM) ngày dùng 4-6 lần phối hợp với gentamycin
5 -7,5 mg/kg/ ngày (TB hoặc TM) dùng 1 lần trong ngày
+ Hoặc chloramphenicol 100mg/kg/ngày .
+ ampicilin 100 – 150mg/kg/ngày kết hợp với gentamycin
+ Nếu không đỡ hãy đổi 2 công thức trên cho nhau hoặc dùng cefuroxim 75 – 150
mg/kg/ ngày (TM) chia 3 lần
8


- Nếu nghi ngờ viêm phổi do tụ cầu hãy dùng:
+ Oxacilin 100 mg/kg/ngày (TM hoặc TB) chia 3-4 lần kết hợp với gentamycin 5 -7,5
mg/kg/ ngày (TB hoặc TM) dùng 1 lần trong ngày.
+ Nếu không có oxacilin thay bằng: Cephalothin 100mg/kg/ngày (TM hoặc TB) chia
3-4 lần kết hợp với gentamycin liều như trên.
+ Nếu tụ cầu kháng methicilin cao có thể sử dụng: Vancomycin 10mg/kg/lần ngày 4
lần
c) Viêm phổi ở trẻ trên 5 tuổi
Dựa vào nguyên nhân gây bệnh riêng biệt ở lứa tuổi này có thể dùng các kháng
sinh sau:
+ Benzyl penicilin: 50mg/kg/lần (TM) ngày 4-6 lần
+ Hoặc cephalothin: 50 – 100 mg/kg/ngày (TM hoặc TB)

2, Viêm phổi mắc phải
Phác đồ điều trị viêm phổi mắc phải ở trẻ theo HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG KHÁNG
SINH ban hành kèm theo quyết định số 708/QH-BYT ngày02/3/2015 của bộ y tế

9


10


II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
-Nghiên cứu được thực hiện tại khoa dược và khoa hô hấp bệnh viện trẻ em Hải
Phòng trong thời gian từ ngày 15/5-30/5 năm 2016
-Phương pháp nghiên cứu: phương pháp thống kê mô tả hồi cứu
-Đối tượng nghiên cứu: báo cáo xuất nhập tồn kháng sinh tháng 5 của khoa
dược, hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân bị viêm phổi trong khoa hô hấp đã có thời
gian điều trị trên 5 ngày.
-Báo cáo được thực hiện với 56 hồ sơ bệnh án

11


III.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1, Khái quát kháng sinh sử dụng trong tháng 5/2016 của
bệnh viện trẻ em Hải Phòng
Tên thuốc

Tên hoạt chất

Mecefix-B.E – Merap(2015) 50mg

Cefixime

Đơn
Vị
gói

SL
Tỉ lệ
sử dụng (%)
10463 39,15

Nước sx

Tercef -Bulgaria(2015) 1g

Ceftriaxone

Lọ

3490

13,06

Bulgaria

Augmentin –
Pháp(2015) 500/62.5 mg

AmoxycillinAcid Clavulanic

gói

3454

12,93

Pháp

Cefodomid –VN(2015) 100mg

Cefpodoxime

gói

1127

4,23

Việt nam

NaspalunNhật(2015) 1g

Cefoperazon+
sulbactam*

Lọ

1119

4,18

Cefobid – Ý(2015) 1g

cefoperazone

Lọ

899

3,36

Italia

Combikit –
Minh Dân(2015) 1,5g+100mg

Ticarcilin +
kaliclavulanat

Lọ

820

3,07

Việt nam

Việt nam

Nhật bản

Tổng đơn vị thuốc sử dụng tháng qua:26721 đơn vị
Bảng 3. Danh mục kháng sinh được sử dụng nhiều nhất trong viện
Số loại biệt dược kháng sinh được sử dụng trong tháng 5/2016 tại bệnh viện trẻ em
Hải Phòng bao gồm 52 loại trong đó:
 tỉ lệ thuốc được sản xuất tại Việt Nam chiếm đa số (24/52), Italia(5/52), Ba Lan,
Ấn Độ(4/52), Bulgaria,Pháp(3/52)….
 Tỉ lệ thuốc tiêm, truyền chiếm phần lớn (39/52)

12


2, Tình hình bệnh tật trong khoa hô hấp tháng 5/2016
2.1 Cơ cấu bệnh án theo mức độ bệnh lý được chẩn đoán
Bệnh lý

Số bệnh án

Tỉ lệ

Viêm phổi

21/56

37,5%

Viêm phổi nặng

30/56

53,57%

Bệnh hô hấp khác khác
5/56
Bảng 1. tỉ lệ mức độ tình trạng bệnh trong khoa

8,93%

2.2 Cơ cấu bệnh theo tuổi
Tuổi trẻ
Dưới 2 tháng tuổi
Từ 2-12 tháng
Trên 12 tháng

Số bệnh án

Tỉ lệ

10/56

17,86%

28/56

50%

18/56

32,14%

Bảng 2. Tỉ lệ bệnh theo tuổi

2.3 Cơ cấu bệnh theo giới tính
Giới

Số bệnh án

Tỉ lệ(%)

Nam

29/56

51,78

Nữ

27/56

48,22

Bảng 3. Tỉ lệ bệnh án theo giới tính

2.4 Tiền sử sử dụng kháng sinh của trẻ khi nhập viện
13


Sử dụng thuốc

Tỉ lệ

Đã sử dụng kháng sinh trước khi vào viện

39.29%

Chưa sử dụng thuốc khi vào viện

60.71 %

Bảng 4. tỉ lệ dùng kháng sinh khi nhập viện của trẻ (%)
Từ bảng các bảng số liệu thống kê tình trạng bệnh tật trong khoa hô hấp bệnh viện trẻ
em Hải Phòng tháng 5/2016 em có một và nhận xét sau:
-

Mô hình bệnh tật trong khoa: viêm phổi là bệnh chủ yếu. Trẻ nhập viện với
tình trạng viêm phổi nặng chiếm tỉ lệ cao nhất(53,57%)  việc điều trị nội trú
trong viện có khả năng kéo dài hơn,kháng sinh sẽ phải sử dụng với liều cao
hơn(trong giới hạn khuyến cáo) hoặc sử dụng các loại kháng sinh phổ tác dụng
rộng.  khả năng kháng kháng sinh ngày càng cao

- Trẻ dưới 1 tuổi tỉ lệ mắc viêm phổi cao hơn nhiều so với trẻ trên 1 tuổi( tỉ lệ trẻ
dưới 1 tuổi mắc bệnh chiếm tới 67,86%)  trẻ càng nhỏ càng dễ mắc bệnh
 Cần có biện pháp tư vấn nâng cao kiến thức cho các bà mẹ cách chăm sóc trẻ
ngay từ khi bé mới sinh
- Tỉ lệ mắc bệnh của 2 giới là ngang nhau, không có sự khác biệt mấy  khả
năng mắc bệnh viêm phổi không liên quan tới giới tính
- Tỉ lệ trẻ nhập viện với tiền sử dùng kháng sinh điều trị trước khi vào ở mức
trung bình (39.29%) có thể phần nào đánh giá tình trạng tự sử dụng thuốc của
người dân hiện nay.

3. tình hình sử dụng kháng sinh trong khoa hô hấp bệnh
viện trẻ em Hải Phòng
14


3.1 Cơ cấu thuốc- biệt dược sử dụng trong khoa trong tháng
5/2016

Tên
nhóm

Tên phân nhóm

Tên thuốc – biệt dược

BetaLacta
m

Penicillin

Amoxycillin (Augmentin)

cacboxypenicillin

Ticarcilin ( Combikit)

Carbapenem

Imipenem(Licotam), meropenem(Peremes)

Cephalosporin

C2

Cefuroxime(Cefuroxime
Panpharma)

C3

Ceftriaxone(Tercef)
Cefoperazone(Cefobid,
Naspalun)
Cefpodoxime(Cefodomid
Cefixime(Cefixim,Mecefix-B.E)

C4

Cefepim(Cefpas)

Quinolon

fluoroquinolon

Ciprofloxacin(Ciprofloxacino)

Polypeptid

Polymycin B

colistin(Colistin TZF)

Macrolid

Azithromycin(Azee Dry Syrup)

Aminoglycosid

Tobramycin(Tobramyci)

Nhận xét:
- 16 biệt dược ( của 5 nhóm: beta-lactam, quinolon, aminoglcosid, macrolid, polypeptid )
- Beta – lactam là nhóm kháng sinh có số biệt dược được sử dụng nhiều nhất (12/16)
- Có 11/16 thuốc theo đường tiêm, truyền còn lại là kháng sinh đường uống

3.2 Kháng sinh sử dụng đầu tiên trong các phác đồ điều trị
ST

Tên thuốc

Tỉ lệ %

Số bệnh án
15


T
1

Tercef(Ceftriaxone)100mg/kg

35.71

20/56

2

cefpas(Cefepim)100mg/kg,

7.14

4/56

3
4
5
6
7
8
9
10
11

azee(azithromycin) 10mg/kg.
mexefix(Cefixime).
augmentin500.u(50-80mg/kg)
cefobid(cefoperazone)100mg/kg,
naspalun.(Cefoperazon+ sulbactam*).
tobramycin.iv(5-7mg/kg)
ciprofloxacin.iv.
peremest (40mg/kg)
Cefodomid(Cefpodoxime)

17.85
10.71
16.07
16.07
0
14.28
3.57
0
1.79

10/56
6/56
9/56
9/56
0
8/56
2/56
0
1/56

5.36

3/56

1.79
3.57
0

1/56
2/56
0

12 Combikit (Ticarcilin+Acidclavunalic)1,5g +
100mg.
13 cefixime
14 cefuroxim,
15 licotam.

Bảng 4. Tỉ lệ các kháng sinh sử dụng đầu tay trong các mẫu bệnh án thu được

3.2.1Theo tên biệt dược
Nhận xét:
Dựa vào bảng tỉ lệ thuốc kháng sinh thu được, sử dụng trong khoa tháng 5 vừa
qua ta thấy kháng sinh được sử dụng đầu tiên nhiều nhất trong các phác đồ điều trị
của bác sĩ tại khoa là Tercef 1g chiếm 35,71%(20/56) số bệnh án được khảo sát
-Tiếp theo đó là Azee Dry Syrup(17,85%), Augmentin(16,07%), Cefobid(16,07%)
….

3.2.2 Phối hợp kháng sinh
tỉ lệ %

16


Đơn kết hợp 2 thuốc
Đơn 1 thuốc

33.92
66.09

Biểu đồ 2: Tỉ lệ số lượng kháng sinh được dùng cho ngày đầu tiên (%)
Nhóm kết hợp

Tỉ lệ(%)

Macrolid- betalactam
quinolon-betalactam

47.36
10.52

Aminoglycosid - betalactam

42.12

Biểu đồ 3: Tỉ lệ phác đồ kết hợp các thuốc (%)
Nhận xét : từ 2 biểu đồ(biểu đồ 2 & biểu đồ 3) trên ta thấy
17


 Tỉ lệ các đơn có phối hợp kháng sinh trong bước đầu điều trị tại khoa ở mức
trung bình (33.92%)
 Beta-lactam là nhóm kháng sinh đầu tiên được lựa chọn để phối hợp với các
nhóm khác (tỉ lệ cao tương đương khi kết hợp với Aminoglycosid và Macrolid

3.3 Cơ cấu kháng sinh sử dụng theo đường dùng
Thời điểm

Đường dùng

Số bệnh án

Tỉ lệ%

Kháng sinh ngày đầu
tiên

Chỉ uống

18/56

32,14

Chỉ tiêm

38/56

67,86

Kháng sinh ngày 2,3

Chỉ uống

8/56

14,28

Chỉ tiêm

45/56

80,35

Cả tiêm và uống

3/56

5,37

Chỉ uống

4/56

7,14

Chỉ tiêm

46/56

82,14

Cả tiêm và uống

6/56

10,72

Kháng sinh ngày 4-7

Nhận xét: dựa vào bảng trên ta thấy, phác đồ điều trị tại khoa ưu tiên sử dụng kháng
sinh đường tiêm, ngày đầu vào viện tỉ lệ bệnh án chỉ dùng thuốc uống ở mức trung
bình(32,14%) tuy nhiên sau 7 ngày điều trị, tỉ lệ sử dụng kháng sinh tiêm cho phác
đồ điều trị tăng cao chiếm tới hơn 2/3 phác đồ.(82,14%)
 Nguyên nhân và nhận xét có thể cho tình trạng trên
- Từ cơ cấu bệnh tại khoa(viêm phổi nặng chiếm đa số bệnh án vì vậy sử dụng
kháng sinh đường tiêm ngay từ đầu là khá phù hợp)
- tình trạng đáp ứng của trẻ với thuốc uống là tương đối thấp( thể hiện qua tỉ
lệ bệnh án phải sử dụng thuốc tiêm tăng sau 7 ngày điều trị chứng tỏ đáp ứng
chậm hoặc tình trạng bệnh nặng thêm không hoặc giảm hấp thu đường uống )

3.4 Tỉ lệ số bệnh án phải đổi thuốc
Tiêu chí đánh giá có đổi thuốc trong khi điều trị:
18


1 trong những trường hợp
- Đổi 1 hoặc 2 nhóm kháng sinh khác trong phác đồ điều trị
- Thêm 1 nhóm kháng sinh mới trong phác đồ điều trị
- Thay đổi phân nhóm kháng sinh( với nhóm betalactam)

Biểu đồ 4: tỉ lệ đổi thuốc trong 7 ngày đầu tiên

Nhận xét: Tỉ lệ đổi thuốc trong các phác đồ điều trị ở mức trung bình thấp
(30,36%)
IV.

KẾT LUẬN VÀ BÀN LUẬN
1, Tổng kết chung

 Tình hình bệnh tật tháng 5/2016 khoa hô hấp bệnh viện trẻ em Hải Phòng:
- Dưới 1 tuổi là độ tuổi trẻ mắc bệnh viêm phổi nhiều nhất(67,86%) và không có sự
khác nhau về tỉ lệ mắc bệnh theo giới tính.( 48,22-51,78%)
- Viêm phổi nặng là tình trạng được chẩn đoán chiếm tỉ lệ cao nhất(53,57%)
- Trẻ nhập viện với tỉ lệ đã sử dụng kháng sinh điều trị trước thấp hơn so với tỉ lệ trẻ
chưa dùng thuốc(39,29-60,71%)
 Tình hình sử dụng kháng sinh trong khoa hô hấp bệnh viện trẻ em hải phòng
trong tháng 5/2016
19


• Cơ cấu kháng sinh được sử dụng trong tháng :
- Có tổng số 16 loại biệt dược (của 5 nhóm beta-lactam, quinolon,
aminoglcosid, macrolid, polypeptid )
- Beta – lactam là nhóm kháng sinh có số biệt dược được sử dụng nhiều nhất
(12/16)
- Có 11/16 thuốc theo đường tiêm, truyền còn lại là kháng sinh đường uống
 Phác đồ điều trị đầu tiên
• Kháng sinh được sử dụng nhiều nhất : TERCEP (35,71% số bệnh án sử dụng)
• Tỉ lệ kết hợp kháng sinh trong các đơn :33,92%
• Tỉ lệ kháng sinh theo đường dùng : kháng sinh theo đường tiêm truyền được sử
dụng với tỉ lệ cao(67,86%)
 Trong 7 ngày đầu điều trị
• Số bệnh án được chuyển đường sử dụng của thuốc biến đổi rất : Tỉ lệ
bệnh án được chuyển từ thuốc uống sang tiêm giảm sau 2 ngày đầu điều
trị (32,14  14,28%)
• Tỉ lệ bệnh án phải đổi thuốc là 30,36%

2, Một số vấn đề bàn luận
 So sánh kháng sinh sử dụng trong điều trị viêm phổi tại khoa với khuyến cáo
của bộ y tế về HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG KHÁNG SINH ban hành kèm theo
quyết định số 708/QH-BYT ngày 02/3/2015
20


• Phổ tác dụng của các kháng sinh sử dụng là khá rộng hơn so với khuyến
cáo điều trị ( thuốc hợp lý với phác đồ điều trị viêm phổi mắc phải, tuy
nhiên tình hình mắc viêm phổi cộng đồng lại chiếm tỉ lệ cao hơn)
• Tỉ lệ dùng kháng sinh đường uống trong điều trị thấp hơn nhiều so với
số bệnh án sử dụng thuốc tiêm, truyền( chưa phù hợp với khuyến cáo ưu
tiên sử dụng kháng sinh đường uống của bộ y tế khuyến cáo)
• tỉ lệ đơn phối hợp kháng sinh chưa hợp lý theo khuyến cáo còn cao:
nhóm Macrolid-Betalactam chiếm 47,36%. ( khuyến cáo không nên sử
dụng kết hợp 1 nhóm kháng sinh kiềm khuẩn cùng 1 nhóm kháng sinh
diệt khuẩn vì như vậy sẽ gây ra tình trạng đối kháng, không có hoặc hiệu
quả sẽ thấp)
• khoảng 1/3 số bệnh án phải đổi hoặc phối hợp thêm kháng sinh trong
quá trình điều trị (bệnh án phải đổi thuốc có thể cho thấy tỉ lệ số case
bệnh không hoặc đáp ứng kém với phác đồ đầu tiên  chẩn đoán
nguyên nhân chưa thực sự chính xác hoặc tình trạng miễn dịch của trẻ
kém, kháng kháng sinh lớn

3.Một số nguyên nhân & giải thích cho tình trạng sử dụng
kháng sinh
 Do thời điểm báo cáo : tháng 5/2016 đang trong thời gian chờ thầu thuốc do đó
lượng thuốc trong kho của khoa dược bệnh viện có phần hạn chế  ảnh hưởng đến
sự lựa chọn thuốc của các bác sĩ
 Do tỉ lệ bệnh lý trong khoa(vp nặng chiếm tỉ lệ cao,ngoài ra viêm phổi sau 1 thời
giân điều trị còn kèm thêm 1 số bệnh lý đường ruột, diễn biến bệnh lý trong nhi
nhanh dùng ks phổ rộng từ đầu đảm bảo khả năng diệt khuẩn cao nhất
 Sử dụng nhiều đường tiêm có thể do nguyên nhân trẻ ko hấp thu
 Đặc thù bệnh vì vậy ít bệnh án được làm kháng sinh đồ tìm kháng sinh phù
hợp ngay khi nhập viện cho trẻ là rất khó
 Cũng có thể do tình trạng nhiễm trùng chéo giữa các trẻ cùng buồng điều trị,
 nhiễm thêm các vi khuẩn mới
 Tình trạng kháng kháng sinh nói chung và kháng kháng sinh trong điều trị viêm
phổi nói riêng hiện nay là rất cao

4. Giải pháp
21


- Tuyền truyền, nâng cao kiến thức cho các bà mẹ về việc chăm sóc nâng cao sức
khỏe, sức đề kháng cho trẻ ngay từ khi mới sinh  giảm tỉ lệ trẻ mắc bệnh
- Nâng cao kiến thức hiểu biết của người dân về sử dụng kháng sinh giảm tỉ lệ
kháng kháng sinh
- Nâng cao kiến thức hiểu biết của người dân về sử dụng kháng sinh giảm tỉ lệ
kháng kháng sinh
- Tổ chức những khóa đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm lâm sàng,sử dụng thuốc…
giữa các cán bộ nhân viên y tế trong bệnh viện với nhau và với các bác sĩ bệnh
viện nhi khoa khác  học hỏi kinh nghiệm, chẩn đoán và sử dụng thuốc hợp lý
nhất ....v..v…

Các tài liệu tham khảo
- HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG KHÁNG SINH của bộ Y Tế (Ban hành
kèm theo Quyết định số 708/QĐ-BYT ngày 02/3/2015)
- Sách DƯỢC LÝ HỌC CƠ BẢN – Khoa Dược – Trường Đại Học Y
Dược Hải Phòng

22


23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×