Tải bản đầy đủ

Đánh giá quy trình giao nhận nhập khẩu hàng nguyên container tại công ty CP dịch vụ vận tải và thương mại transco

trờng đại học hàng hải VIệT NAM
khoa kinh tế
------------------

đHHH

Đồ áN TốT NGHIệP
Đề tài: Đánh giá quy trình giao nhận nhập khẩu hàng nguyên
Container tại Công ty CP Dịch vụ vận tải và thơng mại Transco.
o

Giáo viên hớng dẫn : Lê Thành Luân
Sinh viên
: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp
: KTN53 - ĐH3
MSV
: 46959

Hải Phòng, năm 2016



MỤC LỤC

Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 2


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

D/O : Delivery Order - Lệnh giao hàng
B/L: Bill of Lading – Vận đơn đường biển
FCL: Full Container Load – Hàng nguyên container
LCL: Less than a Container Load – Hàng lẻ
N/A: Notice of Arrival
CONT: Container
C/O : Certificate of Origin
GTGT: thuế giá trị gia tăng
XNK: xuất nhập khẩu
L/C : Letter of Credit – Thư tín dụng
P/L : Packing List – Phiếu đóng gói hàng hóa

Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 3


PHẦN MỞ ĐẦU
1) Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn. Cùng
với nhịp độ phát triển kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam cũng đã có những bước vươn
mình mạnh mẽ. Với cơ hội là Việt Nam tham gia vào các tổ chức, hiệp hội, diễn đàn
kinh tế lớn trên thế giới như WTO, TPP,.. các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng có
nhiều cơ hội mở rộng giao lưu buôn bán, học hỏi, tăng cường hợp tác kinh tế để kinh tế
đất nước ngày càng phát triển đi lên.
Cùng với việc mở rộng giao lưu kinh tế thế giới, ngành xuất nhập khẩu cũng

phát triển, kéo theo một ngành dịch vụ phát triển theo đó là logistics mà hoạt động giao
nhận là một hoạt động trong chuỗi cung ứng đó. Do vậy, ngày nay có rất nhiều những
công ty hoạt động trong lĩnh vực giao nhận hình thành, cùng với bộ phận giao nhận
trong các công ty xuất nhập khẩu hoạt động tích cực và đóng vai trò quan trọng.
So với các quốc gia trên thế giới, hoạt động giao nhận ở Việt Nam còn non trẻ.
Tuy vậy các công ty giao nhận Việt Nam đang ngày càng chứng tỏ được sự phát triển
và hoạt động hiệu quả nhưng vẫn không tránh khỏi những khâu trong quy trình giao
nhận còn rườm rà, lãng phí thời gian và chi phí do vấn đề trang thiết bị và con người.
Trước tình hình đó, các công ty hoạt động trong lĩnh vực giao nhận từng bước
cải tiến cũng như hoàn thiện hoạt động giao nhận của mình để giải quyết những tồn tại,
tối ưu quy trình giao nhận để mang lại hiệu quả hoạt động tốt nhất và Công ty cổ phần
dịch vụ vận tải và thương mại cũng nằm trong số đó. Để tìm hiểu rõ hơn những yếu
kém và đánh giá những hoạt động mà công ty đã và sẽ thực hiện, em đã chọn đề tài “
Đánh giá quy trình và giải pháp cải tiến quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu
Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 4


nguyên container bằng đường biển tại Công ty cổ phần dịch vụ vận tải và thương
mại”.
2) Đối tượng, mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: quy trình giao nhận nhập khẩu hàng hóa bằng đường biển
Mục đích nghiên cứu:
Tổng hợp lý thuyết về giao nhận nói chung và giao nhận hàng hóa nhập
khẩu bằng đường biển nói riêng.
Đánh giá quy trình giao nhận nhập khẩu hàng hóa nguyên container bằng
đường biển.
Đề xuất những giải pháp để cải tiến quy trình giao nhận hàng hóa bằng
đường biển.
3) Nội dung nghiên cứu
Quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu nguyên container bằng đường biển tại
công ty cổ phần dịch vụ vận tải và thương mại.
Tìm hiểu những giải pháp công ty đã đề ra để cải tiến quy trính giao nhận tại công
ty.
4) Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê: tập trung số liệu và xử lý số liệu, phân tích, đối chiếu, so
sánh.
Phương pháp chuyên gia: tham khảo hướng dẫn của thầy hướng dẫn, các tài liệu
của các chuyên gia trong lĩnh vực giao nhận.
Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 5


5) Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu
Chương 2: Diễn giải quy trình giao nhận hàng nhập khẩu nguyên container bằng đường
biển tại Công ty cổ phần dịch vụ vận tải và thương mại.
Chương 3: Các giải pháp và kiến nghị cải tiến quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu
bằng đường biển.

Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 6


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN HÀNG HÓA
XUẤT NHẬP KHẨU
1.1. Cơ sở pháp lý
Việc giao nhận hàng hoá XNK phải dựa trên cơ sở pháp lý như các quy phạm
pháp luật quốc tế, Việt Nam ( các công ước về vận đơn, vận tải , công ước về hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế…), các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt
Nam về giao nhận vận tải, các loại hợp đồng và L/C… thì mới đảm bảo quyền lợi của
chủ hàng xuất nhập khẩu.
Các quy phạm pháp luật quốc tế có thể kể ra như:
Công ước Vienne 1980 về buôn bán quốc tế.
Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển, ký
tại Brussels ngày 25/08/1924.
Nghị định sửa đổi Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận
đơn đường biển (Nghị định như Visby 1968).
Công ước Liên hiệp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển 1978.
Nhà nước Việt Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên
quan đến vận tải, xếp dỡ, giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu như:
Bộ luật hàng hải 1990.
Luật Hải quan.

Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 7


Luật thương mại năm 2005.
Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 05/09/2007 Quy định chi tiết Luật
Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics và giới hạn trách
nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics.

1.2 Tổng quan về giao nhận hàng hóa.
1.2.1 Khái niệm giao nhận, người giao nhận và một số khái niệm cơ bản.
Buôn bán hàng hóa quốc tế có đặc điểm cơ bản và nổi bật là người mua và người
bán ở các quốc gia khác nhau do đó phải thông qua vận tải hàng hóa quốc tế để vận
chuyển hàng hóa từ tay người bán đến tay người mua, dẫn đến giao nhận hàng hóa trở
nên quan trọng trong điều kiện vận tải hàng hóa cũng như buôn bán quốc tế ngày càng
phát triển như hiện nay.
Giao nhận vận tải (hay freight forwarding) hiện nay có rất nhiều định nghĩa
khác nhau. Theo quy tắc thông nhất về dịch vụ giao nhận vân tải của Liên đoàn quốc tế
của các Hiệp hội của các nhà giao nhận vận tải thì:
“Giao nhận vận tải là bất kỳ dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu
kho, xếp dỡ, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ phụ trợ và tư vấn
có liên quan đến các dịch vụ kể trên, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn ở những vẫn
đề hải quan hay tài chính, khai báo hàng hóa cho những mục đích chính thức, mua bảo
hiểm cho hàng hóa và thu tiền hay lập các chứng từ liên quan đến hàng hóa.”
Theo sự phối hợp của FIATA và Hiệp hội châu Âu và các dịch vụ giao nhận, vận
tải, hải quan và logistics thì:
Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 8


“ Giao nhận vận tải là bất kỳ dịch vụ nào liên quan đến chuyên chở ( được thực hiện
bởi một hoặc nhiều dạng phương tiện vận tải), gom hàng, lưu kho, xếp dỡ, đóng gói
hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ phụ trợ và tư vấn có liên quan đến các
dịch vụ kể trên, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn ở những vấn đề hải quan hay tài
chính, khai báo hàng hóa cho những mục đích chính thức, mua bảo hiểm cho hàng hóa
và thu tiền hay lập các chứng từ liên quan đến hàng hóa. Dịch vụ giao nhận bao gồm
cả dịch vụ logistics cùng với công nghệ thông tin hiện đại liên quan chặt chẽ đến qua
trình vận tải, xếp dỡ hoặc được lưu kho bãi, và quản lý chuỗi cung ứng trên thực tế.
Những dịch vụ này có thể được cung cấp để đáp ứng với việc áp dụng linh hoạt các
dịch vụ được cung cấp.”
Đặc điểm của hoạt động giao nhận:
Là một loại hình dịch vụ nên hoạt động giao nhận có những đặc điểm chung của
các loại hình dịch vụ khác đó là hàng hóa vô hình, khó tiêu chuẩn hóa, đánh giá chất
lượng đồng nhất, sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời, chất lượng của dịch vụ phụ
thuộc vào sự đánh giá chủ quan của khách hàng.
Tuy nhiên loại hình này có những đặc điểm riêng biệt, đó là:
Dịch vụ vận tải hàng hóa không tác động về mặt kỹ thuật làm thay đổi đối
tượng vận chuyển mà chỉ làm thay đổi đối tượng về mặt địa lý. Hoạt động này tác động
tích cực đến đời sống và tăng thu ngoại tệ cho một quốc gia.
Hoạt động này mang nhiều tính thụ động do phụ thuộc vào nhiều yếu tố như
nhu cầu của khách hàng, quy định của người vận chuyển, quy định về pháp luật, thể
chế của các quốc gia xuất, nhập khẩu.
Do dịch vụ giao nhận hàng hóa phụ thuộc vào lượng hàng hóa xuất nhập
khẩu do đó nó mang tính thời vụ. Lượng hàng hóa xuất nhập khẩu ở các thời điểm là

Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 9


khác nhau do cung cầu và nhiều yếu tố khác do đó dịch vụ giao nhận nhiều hay ít là do
lượng hàng đó quyết định.
Ngoài những công việc chính như làm thủ tục, lưu cước, mối giới, người
giao nhận cũng thực hiện những công việc khác như gom hàng, bốc xếp, phân chia
hàng do đó công việc thực hiện hiệu quả hay không phụ thuộc vào cơ sở vật chất của
người giao nhận cũng như kinh nghiệm của họ.
Người giao nhận vận tải: Người trung gian sắp xếp hoạt động vận chuyển hàng
hóa từ nơi đi đến nơi đến, nhưng có tên trong nội dung người gửi hàng (shipper)
trong hợp đồng với người vận tải. Người giao nhận phải thỏa mãn các điều kiện sau:
Phải biết linh hoạt kết hợp các phương thức vận tải để đạt hiểu quả vận
chuyển tối ưu.
Nhờ dịch vụ gom hàng để tận dụng tối đa dung tích và trọng tải của phương
tiện chuyên chở
Kết hợp tốt vận tải – giao nhận – xuất nhập khẩu và liên hệ tốt với các tổ
chức liên quan như Hải quan, Cảng,…
Đẩy mạnh được hiểu quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nhờ hiệu quả
trong khâu giao nhận hàng hóa.
Người kinh doanh xuất nhập khẩu có thể sử dụng kho bãi của người giao
nhận để giảm chi phí xây dựng kho bãi.
Nhà xuất khẩu tiết kiệm được chi phí và nguồn lực cho bộ máy tổ chức trong
doanh nghiệp.
Tuy nhiên chưa có khái niệm thống nhất về người giao nhận, do đó có thể hiểu
người giao nhận là người lo toan cho hàng hóa chuyên chở để đến tay người mua
thuận lợi, nhanh chóng và an toàn bằng cách thực hiện mọi công việc như bảo quản,
lưu kho, làm thủ tục hải quan,…
Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 10


Dịch vụ giao nhận hàng hóa là “ Hành vi thương mại theo đó người làm dịch
vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi,
làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan đến giao nhận hàng cho người
nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của ngươig làm dịch vụ giao
nhận khác ( gọi chung là khách hàng )” ( Theo Luật Thương mại Việt Nam 2005)
Doanh nghiệp giao nhận là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng
hóa, bao gồm hai loại: Doanh nghiệp giao nhận vận tải hàng hóa nội địa, khi các hoạt
động của doanh nghiệp chỉ diễn ra trong phạm vi lãnh thổ đất nước; Doanh nghiệp giao
nhận vận tải hàng hóa quốc tế khi các hoạt động của doanh nghiệp có những phần việc
diễn ra ngoài lãnh thổ đất nước. Sản phẩm của doanh nghiệp là các dịch vụ trong giao
nhận ( dịch vụ giao nhận hàng hóa ) mà doanh nghiệp giao nhận đóng vai trò người
giao nhận ( Forwarder , Freight forwarding, Forwarding agent).
Căn cứ theo Luật thương mại 2005 thì Người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa
là thương nhân có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa.
1.2.2 Phạm vi hoạt động của người giao nhận.
Căn cứ vào phạm vi hoạt động:
Giao nhận quốc tế: hoạt động giao nhận phục vụ chuyên chở hàng hóa quốc tế.
Giao nhận nội địa: hoạt động giao nhận chuyên chở hàng hóa trong nước.
Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh:
Giao nhận thuần túy: là hoạt động giao nhận chỉ bao gồm thuần túy việc giở
hàng đi hoặc nhận hàng đến
Giao nhận tổng hợp: là hoạt động giao nhận ngoài giao nhận thuần túy còn bao
gồm cả xếp dỡ, bảo quản hàng hóa, vận chuyển đường ngắn, hoạt động kho tang.
Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 11


Căn cứ vào phương thức vận tải: Giao nhận hàng chuyên chở bằng đường biển,
bằng đường sông, bằng đường sắt, bằng đường hàng không, bằng ô tô và kết hợp
bằng nhiều phương thức vậ tải khác nhau.
Căn cứ vào tính chất giao nhận:
Giao nhận riêng: là hoạt động giao nhận do người xuấy nhập khẩu tự tổ chức
không sử dụng dịch vụ của người giao nhận.
Giao nhận chuyên nghiệp: là hoạt động giao nhận của các tổ chức, công ty
chuyên kinh doanh giao nhận theo sự ủy thác của khác hàng.
1.2.3 Những nghiệp vụ cơ bản của hoạt động giao nhận.
Người giao nhận có thể làm các dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý
hoặc thuê dịch vụ của người thứ ba. Dịch vụ giao nhận hàng hóa gồm bốn loại thông
dụng trên thế giới hiện nay :
Dịch vụ giao nhận
hàng hóa

Đại diện
cho người
xuất

Đại diện
cho người
nhập khẩu

Dịch vụ
hàng hóa
đặc biệt

Những
dịch vụ
khác

khẩu

a, Ðại diện cho người xuất khẩu
Người giao nhận với những thoả thuận cụ thể sẽ giúp khách hàng của mình
(người xuất khẩu) những công việc sau:
Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 12


Lựa chọn tuyến đường vận tải.
Ðặt/ thuê địa điểm để đóng hàng theo yêu cầu của người vận tải.
Giao hàng hoá và cấp các chứng từ liên quan (như: biên lai nhận hàng - the
Forwarder Certificate of Receipt hay chứng từ vận tải - the Forwarder Certificate of
Transport).
Nghiên cứu các điều kiện của thư tín dụng (L/C) và các văn bản luật pháp của
chính phủ liên quan đến vận chuyển hàng hoá của nước xuất khẩu, nước nhập khẩu, kể
cả các quốc gia chuyển tải (transit) hàng hoá, cũng như chuẩn bị các chứng từ cần thiết.
Ðóng gói hàng hoá (trừ khi hàng hoá đã đóng gói trước khi giao cho người
giao nhận).
Tư vấn cho người xuất khẩu về tầm quan trọng của bảo hiểm hàng hoá (nếu
được yêu cầu).
Chuẩn bị kho bảo quản hàng hoá, cân đo hàng hoá (nếu cần).
Vận chuyển hàng hoá đến cảng, thực hiện các thủ tục về lệ phí ở khu vực
giám sát hải quan, cảng vụ, và giao hàng hoá cho người vận tải.
Nhận B/L từ người vận tải, sau đó giao cho người xuất khẩu.
Theo dõi quá trình vận chuyển hàng hoá đến cảng đích bằng cách liện hệ với
người vận tải hoặc đại lý của người giao nhận ở nước ngoài.
Ghi chú về những mất mát, tổn thất đối với hàng hoá (nếu có).
Giúp người xuất khẩu trong việc khiếu nại đối với những hư hỏng, mất mát
hay tổn thất của hàng hoá.
b, Ðại diện cho người nhập khẩu
Người giao nhận với những thoả thuận cụ thể sẽ giúp khách hàng của mình
(người xuất khẩu) những công việc sau:
Theo dõi quá trình vận chuyển hàng hoá trong trường hợp người nhập khẩu
chịu trách nhiệm về chi phí vận chuyển.
Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 13


Nhận và kiểm tra tất cả các chứng từ liên quan đến quá trình vận chuyển hàng
hoá.
Nhận hàng từ người vận tải.
Chuẩn bị các chứng từ và nộp các lệ phí giám sát hải quan, cũng như các lệ phí
khác liên quan.
Chuẩn bị kho hàng chuyển tải (nếu cần thiết).
Giao hàng hoá cho người nhập khẩu.
Giúp người nhập khẩu trong việc khiếu nại đối với những tổn thất, mất mát của
hàng hoá.
c, Dịch vụ hàng hóa đặc biệt
Ngoài các công việc trên của khách hàng, nếu khách hàng yêu cầu người giao
nhận có thể thực hiện một số dịch vụ khác liên quan đến các loại dịch vụ hàng hóa đặc
biệt:
Vận chuyển hàng công trình như máy móc, thiết bị … phục vụ cho các công
trình xây dựng lớn mang tính chất quốc gia như sân bay, nhà máy lọc dầu.
Dịch vụ về vận chuyển quần áo treo trên mắc, giá trong những container đặc
biệt. Những loại quần áo này sau khi đến nơi sẽ được chuyển trực tiếp từ container vào
cửa hàng.
Triển lãm ở nước ngoài. Người giao nhận thường được người tổ chức triển lãm
giao cho chuyển chở hàng đến nơi triển lãm ở nước ngoài…
d. Các dịch vụ khác
Ngoài các dịch vụ kể trên, người giao nhận còn cung cấp các dịch vụ khác theo
yêu cầu của khách hàng như dịch vụ gom hàng, tư vấn cho khách hàng về thị trường
mới, tình huống cạnh tranh, chiến lược xuất khẩu, các điều kiện giao hàng phù hợp…

Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 14


1.2.4 Vai trò của người giao nhận trong thương mại quốc tế.
Người giao nhận có thể làm các dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý
và thuê dịch vụ của người thứ ba khác. Người làm dịch vụ giao nhận khi nhận việc vận
chuyển hàng hoá thì phải tuân theo quy định của pháp luật chuyên ngành về vận tải.
Trong xu thế thương mại toàn cầu hoá cùng với sự phát triển nhiều hình thức vận
tải mới trong những thập niên qua. Ngày nay, người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá
giữ vai trò quan trọng trong vận tải và buôn bán quốc tế. Những dịch vụ người giao
nhận thực hiện không chỉ dừng lại ở các công việc cơ bản truyền thống như đặt chỗ
đóng hàng, nơi dùng để kiểm tra hàng hoá, giao nhận hàng hoá mà còn thực hiện
những dịch vụ chuyên nghiệp hơn như tư vấn chọn tuyến đường vận chuyển, chọn tàu
vận tải, đóng gói bao bì hàng hoá, .v.v... Người giao nhận đã làm những chức năng sau
đây:
Môi giới Hải quan: người giao nhận thay mặt người xuất khẩu, nhập khẩu để
khai báo, làm thủ tục hải quan hay môi giới hải quan.
Làm đại lý: người giao nhận nhận uỷ thác từ chủ hàng hoặc từ người chuyên
chở để thực hiện các công việc khác nhau như nhận hàng, giao hàng, lập chứng từ làm
thủ tục hải quan, lưu kho…trên cơ sở hợp đồng uỷ thác. Người giao nhận khi là đại lí:
Nhận uỷ thác từ 1 người chủ hàng để lo những công việc giao nhận hàng
hoá XNK, làm việc để bảo vệ lợi ích của chủ hàng, làm trung gian giữa người gửi hàng
với người vận tải, người vận tải với người nhận hàng, người bán với người mua.
Hưởng hoa hồng và không chịu trách nhiệm về tổn thất của hàng hoá, chỉ
chịu trách nhiệm về hành vi của mình chứ không chịu trách nhiệm về hành vi của
người làm công cho mình hoặc cho chủ hàng.
Lo liệu chuyển tải và tiếp gửi hàng hoá (transhipment and on-carriage):
Khi hàng hoá phải chuyển tải hoặc quá cảnh qua nước thứ ba, người giao nhận sẽ lo
liệu thủ tục quá cảnh hoặc tổ chức chuyển tải hàng hoá từ phương tiện vận tải này sang
phương tiện vận tải khác hoặc giao hàng đến tay người nhận.
Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 15


Lưu kho hàng hoá (warehousing): Trong trường hợp phải lưu kho hàng hoá
trước khi xuất khẩu hoặc sau khi nhập khẩu, người giao nhận sẽ lo liệu việc đó bằng
phương tiện của mình hoặc thuê người khác và phân phối hàng hoá nếu cần.
Người gom hàng (consolidator): Trong vận tải hàng hoá bằng container, dịch
vụ gom hàng là không thể thiếu được nhằm biến hàng lẻ (less than container load FCL) thành hàng nguyên (full container load - FCL) để tận dụng sức chở của container
và giảm cước phí vận tải. Khi là người gom hàng, người giao nhận có thể đóng vai trò
là người chuyên chở hoặc chỉ là đại lý.
Người chuyên chở (carrier): Ngày nay, trong nhiều trường hợp, người giao
nhận đóng vai trò là người chuyên chở, tức là người giao nhận trực tiếp ký hợp đồng
vận tải với chủ hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hoá từ một nơi này đến một
nơi khác. Người giao nhận đóng vai trò là người thầu chuyên chở (contracting carrier)
nếu anh ta ký hợp đồng mà không chuyên chở. Nếu anh ta trực tiếp chuyên chở thì anh
ta là người chuyên chở thực tế (performing carrier). Dù là người chuyên chở gì thì vẫn
chịu trách nhiệm về hàng hoá. Trong trường hợp này, người giao nhận phải chịu trách
nhiệm về hàng hoá trong suốt hành trình không những về hành vi lỗi lầm của mình mà
cả những người mà anh ta sử dụng và có thể phát hành vận đơn.
Người kinh doanh VTĐPT (Multimodal Transport Operator - MTO):
Trong trường hợp người giao nhận cung cấp dịch vụ vận tải đi suốt hoặc còn gọi là
vận tải từ cửa đến cửa thì người giao nhận đã đóng vai trò là người kinh doanh VTĐPT
(MTO). MTO thực chất là người chuyên chở, thường là chuyên chở theo hợp đồng và
phải chịu trách nhiệm đối với hàng hoá.
1.2.5. Phân loại giao nhận
Phân loại giao nhận theo chức năng mà người làm dịch vụ cung cấp:

Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 16


Hoạt động của người giao nhận ngày nay phát triển và mở rộng hơn trước do quá
trình chuyên môn hóa diễn ra trên mọi lĩnh vực, ngành nghề. Các chức năng
thường có của người giao nhận bao gồm:
Môi giới hải quan: Người giao nhận thay mặt người xuất, nhập khẩu khai báo,
làm thủ tục hải quan để tiến hành thông quan hàng hóa.
Làm đại lý: Người giao nhận nhận sự ủy thác từ người chuyên chở hoặc
chủ hàng để thực hiện các công việc như nhận hàng, giao hàng, lưu kho trên cơ sở hợp
đồng ủy thác.
Lo liệu chuyển tải và tiếp gửi hàng hóa: Khi hàng hóa được chuyển tải hoặc
quá cảnh qua nước thứ ba, người giao nhận sẽ lo liệu thủ tục quá cảnh hoặc
tổ chức chuyển tải hàng hóa từ phương tiện vận tải này sang phương tiện vận
tải khác, hoặc giao hàng đến tay người nhận.
Lưu kho hàng hóa: Trong trường hợp phải lưu kho hàng hóa trước khi xuất
nhập khẩu, người giao nhận sẽ lo liệu việc đó bằng phương tiện
của mình hoặc thuê người khác và phân phối hàng hóa nếu cần.
Người gom hàng: Trong vận tải hàng hóa bằng container, dịch vụ gom hàng rất
cần thiết để biến hàng lẻ (LCL – Less than container loaded)
thành hàng nguyên (FCL – Full container loaded) để tận dụng sức chở và tiết
kiệm chi phí.
Người chuyên chở: Người giao nhận trực tiếp ký hợp đồng vận tải với chủ hàng
và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hóa từ nơi này đến nơi khác. Người giao
nhận đóng vai trò là người thầu chuyên chở nếu anh ta ký hợp đồng mà không chuyên
chở. Nếu anh ta trực tiếp chuyên chở thì anh ta sẽ là người chuyên chở thực tế và dù là
người chuyên chở gì thì vẫn chịu trách nhiệm về hàng hóa, không những về hành vi lỗi
lầm của mình mà cả những người mà anh ta sử dụng, và có thể phát hành vận đơn.
Người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO – Multimodal Transport

Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 17


Operator): Cung cấp dịch vụ vận tải đi suốt. MTO thực chất là người chuyên chở,
thường là chuyên chở theo hợp đồng và phải chịu trách nhiệm với hàng hóa.
Phân loại theo phương thức vận tải chính:
Hàng hóa có thể được vận chuyển từ nước này sang nước khác bằng nhiều
phương thức vận tải khác nhau, tùy thuộc vào vị trí, khoảng cách giữa các quốc gia,
vào điều kiện cơ sở hạ tầng và phụ thuộc vào bản chất của hàng hóa. Theo đó, cũng
sẽ có nhiều phương thức giao nhận hàng hóa khác nhau, đó là giao nhận hàng hóa bằng
đường biển, bằng đường hàng không, bằng đường sắt hoặc đường bộ.
Vận tải hàng hóa bằng đường biển: Đây là hình thức vận tải quốc tế lâu đời
nhất, rất thích hợp với viêc chuyên chở hàng hóa có khối lượng lớn, cự ly vận chuyển
trung bình và dài. Vận tải biển thích hợp với vận chuyển hàng hóa ngoại thương nhờ
ưu thế tuyệt đối là cước phí vận tải thấp hơn nhiều so với các phương thức vận tải
khác.
Vận tải hàng hóa bằng đường hàng không: ngày nay đang được ưu chuộng bởi
tốc độ nhanh, tính linh động cao, phù hợp với việc vận chuyển hàng xa, hàng lẻ có giá
trị kinh tế cao, hàng có tính thời vụ nhưng đây cũng là phương thức vận tải có
cước phí cao nhất, đòi hỏi người điều hành có trình độ kỹ thuật cao.
Vận tải hàng hóa bằng đường sắt: Phương thức vận tải này phù hợp với việc
vận chuyển hàng hóa trong một nước và giữa các nước có chung biên giới, hàng hóa
có khối lượng lớn và số lượng nhiều. Phương thức này được áp dụng phổ biến ở các
nước phát triển, tuy nhiên, ở Việt Nam, năng lực vận tải hàng hóa của ngành đường sắt
vẫn còn yếu.
Phương thức vận tải đường bộ hay đường sông: cũng thường được sử dụng cho
hàng hóa nội địa hoặc hàng hóa xuất nhập khẩu giữa các nước gần nhau, hoặc có chung
biên giới, quy mô hàng hóa vận chuyển thường nhỏ hơn.
Phân loại theo các dịch vụ cung cấp:

Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 18


Dịch vụ khai thuê thủ tục Hải quan: Một số doanh nghiệp xuất khẩu muốn xuất
khẩu hàng hóa nhưng không nắm chắc được các quy định, luật lệ của các nước nên
muốn thuê ngoài để giảm thời gian, chi phí để đưa hàng hóa đến tay người mua.
Dịch vụ kiểm tra và phân tích kĩ thuật: Người mua hàng luôn muốn mua các
sản phẩm đảm bảo chất lượng, đúng theo nhu cầu, thỏa thuận trên hợp đồng để đảm
bảo đầu ra cho các sản phẩm đó. Hơn nữa hàng hóa nhập khẩu cần tuân theo các yêu
cầu tiêu chuẩn về chất lượng cũng như các yêu cầu khác của Chính phủ nước nhập
khẩu. Do đó thông qua người giao nhận giúp người mua được đảm bảo về chất lượng
sản phẩm và nếu có sự cố xảy ra các công ty này cũng có thể giám định kiểm tra
việc thiệt hại của hàng hóa.
Dịch vụ bưu chính: Mua bán xuất nhập khẩu hàng hóa nội địa và quốc tế
luôn cần nhiều loại chứng từ, giấy tờ, hàng mẫu, tài chính… nên dịch vụ bưu chính
cung cấp các thư từ, chuyến phát nhanh, chuyển tiền,… hỗ trợ tích cực cho giao nhận
hàng hóa.

1.2.6 Mối quan hệ của người giao nhận với các bên liên quan.
Người giao nhận là người nhận sự ủy thác của chủ hàng để lo việc vận chuyển
hàng hóa từ nơi này đến nơi khác, mà trong quá trình vận chuyển hàng hóa phải trải
qua rất nhiều giai đoạn, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của rất nhiều cơ quan chức năng.
Do đó, người giao nhận cũng phải tiến hành các công việc có liên quan đến rất nhiều
bên.
Chính phủ và các cơ quan chức năng:
Bộ thương mại.
Hải quan.
Cơ quan quản lý ngoại hối.
Giám định, kiểm dịch, y tế…
Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 19


Trước hết là quan hệ với khác hàng, có thể là người gửi hàng hoặc người nhận
hàng thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Mang nhiều quốc tịch khác nhau. Mối
quan hệ này được điều chỉnh bằng hợp đồng ủy thác giao nhận.
Quan hệ với Chính Phủ và các cơ quan chức năng đại diện cho Chính phủ như:
Bộ Thương mại, Hải quan, Giám định, cơ quan quản lý ngoại hối, kiểm dịch, y tế,…
Quan hệ với người chuyên chở và đại lý của người chuyên chở: đó có thể là chủ
tàu, người môi giới, hay bất kỳ người kinh doanh vận tải nào khác, mối quan hệ này
được điều chỉnh bằng hợp đồng cung cấp dịch vụ.
Ngoài ra, người giao nhận còn có mối quan hệ nghiệp vụ với ngân hàng, người
bảo hiểm.
1.3. Trình tự giao nhận hàng hoá nhập khẩu tại các cảng biển.
1.3.1. Sơ đồ giao nhận hàng hóa nhập khẩu
B1: Nhận bộ chứng
từ từ khách hàng

B2: Kiểm tra bộ
chứng từ. Lấy D/O
ở hãng tàu

B3: Làm thủ tục
Hải quan, tính thuế

B6: Nhận hàng

B5: Thanh lý Hải
quan

B4: Đổi lệnh tại
cảng

B7: Kiểm tra hàng

B8: Giao hàng cho
khách hàng

B9: Quyết toán và
trả hồ sơ cho khách
hàng

Sơ đồ 1: Quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu ( Nguồn: Vận tải và Bảo hiểm –
TH.S Hà Minh Hiếu)

Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 20


1.3.2. Phân tích chung quy trình giao nhận hàng hóa bằng đường biển
Bước 1: Nhận bộ chứng từ từ khách hàng
Công ty nhận bộ chứng từ từ nhà xuất khẩu thông qua khách hàng là nhà nhập
khẩu để tiến hành thủ tục giao nhận hàng hóa. Chứng từ bao gồm: Giấy báo tàu đến,
Hóa đơn thương mại, Vận đơn, Phiếu đóng gói, Tài liệu kỹ thuật,...
Bước 2: Kiểm tra chứng từ
Vận đơn đường biển ( B/L): Kiểm tra những thông tin như số vận đơn, tên
người gửi hàng, tên người nhận, cảng xếp, cảng dỡ, số cont, số chì,... và đối chiếu với
thông tin trên hợp đồng.
Hóa đơn thương mại: Kiểm tra tên, địa chỉ người gửi, người nhận, số và ngày
hóa đơn, hàng hóa, số lượng, chất lượng, điều khoản thanh toán,... sau đó đối chiếu với
hợp đồng.
Phiếu đóng gói hàng hóa : Kiểm tra người gửi, người nhận, tên hàng, số lượng,
khối lượng, bao bì để đối chiếu với hợp đồng; kiểm tra số và ngày hóa đơn để đối chiếu
với hóa đơn; Kiểm tra cảng xếp, cảng dỡ để đối chiếu với vận đơn.
Tài liệu kỹ thuật: kiểm tra tên hàng, chất lượng, phân tích hàng hóa theo các tiêu
chuẩn kĩ thuật cần thiết
Sau khi kiểm tra các chứng từ nhận được sẽ lên lấy lệnh giao hàng ( D/O) tại
hãng tàu. Để lấy lệnh phải có giấy giới thiệu của công ty nhập khẩu, vận đơn, giấy báo
tàu đến,... Sau khi nhận được D/O tiếp tục kiểm tra đối chiếu các thông tin như số vận
đơn, cảng đi, cảng đến, tên hàng, số tàu, tên tàu,...
Bước 3 : Làm thủ tục Hải quan và tính thuế
Công ty giao nhận mang các chứng từ cần thiết lên hải quan khu vực để làm thủ
tục thông quan hàng hóa sau khi đã truyền tờ khai trên phần mềm VNaccs/ Vcis.
Tính thuế
Cách tính thuế nhập khẩu:
Trị giá tính thuế = giá CIF * tỉ giá hiện hành
Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 21


Tiền thuế NK = trị giá tính thuế * thuế suất
Tiền thuế GTGT = giá tính thuế GTGT * thuế suất
Tổng tiền thuế = tiền thuế NK + tiền thuế GTGT + các loại thuế khác nếu có
Bước 4: Đổi lệnh tại cảng
Sau khi lấy được D/O và thông quan hàng hóa, cầm các chứng từ liên quan
xuống cảng để đổi lấy phiếu giao container. Sau đó tiến hành lấy cont tại cảng, nộp các
phí liên quan .
Bước 5: Thanh lý Hải quan
Sau khi hàng hóa không có vấn đề gì bất thường tiến hành thanh lý hải quan, nộp
các khoản phí đầy đủ để lấy hàng ra khỏi bãi.
Bước 6: Nhận hàng tại cảng
Sau khi thanh lý Hải quan tiến hành lấy hàng từ cảng để chở về kho.
Bước 7: Kiểm tra hàng hóa
Kiểm tra tên hàng, mã số, số lượng, chất lượng, số cont, số chì đối chiếu với thực
tế hàng hóa trên hợp đồng kí kết.
Bước 8: Giao hàng cho khách hàng
Hàng hóa có thể giao nguyên cont tận kho của khách hàng hoặc giao lẻ theo yêu
cầu của khách hàng.
Bước 9: Quyết toán
Sau khi các bước đã hoàn tất tiến hành quyết toán với khách hàng để thu tiền.
1.3.3. Trình tự giao nhận hàng hóa nhập khẩu tại cảng
a, Ðối với hàng không phải lưu kho, bãi tại cảng.
Trong trường hợp này, chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác đứng ra giao
nhận trực tiếp với tầu
Ðể có thể tiến hành dỡ hàng, 24 giờ trước khi tầu đến vị trí hoa tiêu, chủ hàng
phải trao cho cảng một số chứng từ
Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 22


Bản lược khai hàng hoá (2 bản)
Sơ đồ xếp hàng (2 bản)
Chi tiết hầm hàng (2 bản)
Hàng quá khổ, quá nặng (nếu có)
Chủ hàng xuất trình vận đơn gốc cho đại diện của hãng tầu
Trực tiếp nhận hàng từ tầu và lập các chứng từ cần thiết trong quá trình nhận
hàng như: Biên bản giám định hầm tầu (lập trước khi dỡ hàng) nhằm quy trách nhiệm
cho tầu về những tổn thất xảy sau này.
Biên bản dỡ hàng (COR) đối với tổn thất rõ rệt
Thư dự kháng (LOR) đối với tổn thất không rõ rệt
Bản kết toán nhận hàng với tầu (ROROC)
Biên bản giám định
Giấy chứng nhận hàng thiếu (do đại lý hàng hải lập)............
Khi dỡ hàng ra khỏi tầu, chủ hàng có thể đưa về kho riêng để mời hải quan kiểm
hoá. Nếu hàng không có niêm phong cặp chì phải mời hải quan áp tải về kho.
Làm thủ tục hải quan
Chuyên chở về kho hoặc phân phối hàng hoá.
b, Ðối với hàng phải lưu kho, lưu bãi tại cảng
Cảng nhận hàng từ tầu:
Dỡ hàng và nhận hàng từ tầu (do cảng làm)
Lập các giấy tờ cần thiết trong quá trình giao nhận (nhân viên giao nhận phải
cùng lập)
Ðưa hàng về kho bãi cảng
Cảng giao hàng cho các chủ hàng
Khi nhận được thông báo hàng đến, chủ hàng phải mang vận đơn gốc, giấy giới
thiệu của cơ quan đến hãng tầu để nhận lệnh giao hàng (D/O - delivery order).
Hãng tầu hoặc đại lý giữ lại vận đơn gốc và trao 3 bản D/O cho người nhận hàng
Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 23


Chủ hàng đóng phí lưu kho, phí xếp dỡ và lấy biên lai
Chủ hàng mang biên lai nộp phí, 3 bản D/O cùng hoá đơn và phiếu đóng gói
đến văn phòng quản lý tầu tại cảng để ký xác nhận D/O và tìm vị trí hàng, tại đây lưu 1
bản D/O
Chủ hàng mang 2 bản D/O còn lại đến bộ phận kho vận để làm phiếu xuất
kho. Bộ phận này giữ 1D/O và làm 2 phiếu xuất kho cho chủ hàng.
Làm thủ tục hải quan qua các bước sau:
Xuất trình và nộp các giấy tờ:.
Tờ khai hàng NK.
Giấy phép nhập khẩu.
Bản kê chi tiết.
Lệnh giao hàng của người vận tải.
Hợp đồng mua bán ngoại thương.
Một bản chính và một bản sao vận đơn.
Giấy chứng nhận xuất xứ.
Giấy chứng nhận phẩm chất hoặc kiểm dịch nếu có.
Hoá đơn thương mại.
Hải quan kiểm tra chứng từ
Kiểm tra hàng hoá
Tính và thông báo thuế
Chủ hàng ký nhận vào giấy thông báo thuế (có thể nộp thuế trong vòng 30 ngày)
và xin chứng nhận hoàn thành thủ tục hải quan. Sau khi hải quan xác nhận “hoàn thành
thủ tục hải quan” chủ hàng có thể mang ra khỏi cảng và chở về kho riêng
c, Hàng nhập bằng container
Nếu là hàng nguyên (FCL)
Khi nhận được thông báo hàng đến (NOA) thì chủ hàng mang vận đơn gốc và
giấy giới thiệu của cơ quan đến hãng tầu để lấy D/O
Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 24


Chủ hàng mang D/O đến hải quan làm thủ tục và đăng ký kiểm hoá (chủ hàng
có thể đề nghị đưa cả container vè kho riêng hoặc ICD để kiểm tra hải quan nhưng phải
trả vỏ container đúng hạn nếu không sẽ bị phạt)
Sau khi hoàn thành thủ tục hải quan, chủ hàng phải mang bộ chứng từ nhận
hàng cùng D/O đến Văn phòng quản lý tầu tại cảng để xác nhận D/O
Lấy phiếu xuất kho và nhận hàng
Nếu là hàng lẻ (LCL):
Chủ hàng mang vận đơn gốc hoặc vận đơn gom hàng đến hãng tầu hoặc đại lý
của người gom hàng để lấy D/O, sau đó nhận hàng tại CFR quy định và làm các thủ tục
như trên.

Sinh viên: Nguyễn Thanh Tâm
Lớp: KTN53-DH3
Mã SV:46959

Trang: 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×