Tải bản đầy đủ

Pháp luật về mua lại và sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM MINH SƠN

PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành:

Luật kinh tế

Mã số:

62 38 01 07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Nguyễn Thị Thương Huyền


Hà Nội - 2016
0


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án
chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2016

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Phạm Minh Sơn

1


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. Bộ luật dân sự năm 2005

-

BLDS (2005)

2. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004

-

BLTTDS (2004)

3. Mergers and Acquisitions

-


M&A

4. Ngân hàng Nhà nước

-

NHNN

5. Ngân hàng thương mại

-

NHTM

6. Ngân hàng thương mại cổ phần

-

NHTMCP

7. Ngân hàng thương mại cổ phần

-

HBB

-

SHB

-

VNCB

-

CBBank

11. Ngân hàng Trung ương

-

NHTW

12. Nhà xuất bản

-

NXB

13. Tổ chức tín dụng

-

TCTD

14. Trách nhiệm hữu hạn

-

TNHH

15. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

-

UBCKNN

16. Ủy ban nhân dân

-

UBND

(Mua lại và sáp nhập)

Nhà Hà Nội
8. Ngân hàng thương mại cổ phần
Sài Gòn - Hà Nội
9. Ngân hàng thương mại cổ phần
Xây dựng Việt Nam
10. Ngân hàng thương mại TNHH MTV
Xây dựng Việt Nam

2


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ............................................................................. 8
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU...................................................................... 8
1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................... 26

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ MUA
LẠI VÀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ...............................................31
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP VÀ PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI,
SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP.......................................................................................... 31
2.2. PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ............. 38

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY ........................................................................................................76
3.1. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI .................................................................................................................. 76
3.2. THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI ................................................................................................................107

CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT
NAM ............................................................................................................................................126
4.1. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM ..............................................................126
4.2. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM ...........................................................................134

KẾT LUẬN...............................................................................................................................149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ
CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN..................................................................151
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................................152
PHỤ LỤC....................................................................................................................................163

3


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hoạt động mua lại, sáp nhập (M&A) đã được thực hiện từ lâu trên thế giới
và trở thành xu thế phổ biến ở nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, hoạt động M&A tuy
mới được thực hiện từ những năm đầu thập niên 90 thế kỷ trước nhưng đã phát triển
nhanh chóng cả về số lượng và giá trị giao dịch, là kênh đầu tư hấp dẫn ở trong và
ngoài nước. Các hoạt động M&A đã trở thành một làn sóng những năm 2003 đến
2008 trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán, viễn thông. Khuynh
hướng M&A có suy giảm dần sau đó nhưng từ năm 2013 đến nay, nhất là năm 2015
thì xu hướng M&A đối với ngân hàng ở nước ta đã diễn ra mạnh mẽ.
Trong thời gian qua, nền kinh tế Việt Nam không những phải đối mặt với
những khó khăn chung của kinh tế thế giới mà còn phải đối mặt với nhiều bất ổn
của kinh tế vĩ mô trong nước như tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, thâm hụt
ngân sách lớn và tỷ lệ lạm phát tăng cao. Điều đó đã làm cho nền kinh tế nói chung
và hệ thống ngân hàng nói riêng gặp nhiều khó khăn, thách thức. Hệ thống ngân
hàng thương mại (NHTM) tuy đã có những chuyển biến mạnh mẽ, tăng trưởng
nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng, mở rộng mạng lưới hoạt động, đáp ứng tốt
hơn các nhu cầu của nền kinh tế nhưng cũng đã bộc lộ một số hạn chế, yếu kém như
tính cạnh tranh và tính thanh khoản thấp, nhiều ngân hàng lâm vào tình trạng khó
khăn về tài chính, tỷ lệ nợ xấu tăng, trình độ quản trị yếu, xuất hiện những nguy cơ
hiện hữu gây mất ổn định kinh tế vĩ mô. Để giải quyết những vấn đề bất ổn này,
M&A cùng với một số cơ chế khác là những giải pháp cần thiết giúp hệ thống
NHTM tránh khỏi tình trạng đổ vỡ, giữ an toàn hệ thống, khắc phục những hạn chế,
yếu kém, nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời giúp các NHTM nhỏ gia tăng thị
phần, qua đó hình thành các ngân hàng lớn có sức cạnh tranh hơn trên thị trường
trong nước và khu vực.
Pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp nói chung và đối với NHTM ở
Việt Nam đã được hình thành trong thời gian gần đây, góp phần hoàn thiện hệ thống
pháp luật, giải quyết được một số mục tiêu, yêu cầu cụ thể của nền kinh tế và hệ
thống ngân hàng nhưng còn có những hạn chế và bất cập. Khung pháp lý về mua
lại, sáp nhập còn sơ khai, chồng chéo và mâu thuẫn, còn có những khoảng trống
pháp lý để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong thực tiễn khi thực hiện mua
lại, sáp nhập và chưa tạo được cơ sở pháp lý vững chắc để thúc đẩy hoạt động này.

1


Trên thực tế đã có nhiều bất cập khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM thời gian
qua, trong đó có nhiều vấn đề liên quan đến cơ chế pháp lý cần phải giải quyết.
Nghiên cứu về mua lại, sáp nhập NHTM và pháp luật về mua lại, sáp nhập
NHTM trong thời gian gần đây đã trở thành chủ đề thu hút sự quan tâm không chỉ
đối với giới nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách mà còn cả giới luật gia và doanh
nghiệp. Tuy không phải là vấn đề nghiên cứu mới, nhưng hiện tại chưa có công
trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về pháp luật mua lại và sáp nhập NHTM
ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ và sâu sắc hơn cơ sở lý luận,
giúp đánh giá đúng đắn thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về mua
lại, sáp nhập NHTM, từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp cụ thể để hoàn
thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam hiện nay, góp phần thực
hiện quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, phát triển kinh
tế, xã hội của đất nước.
Trước thực trạng trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài "Pháp luật về mua
lại và sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay" để nghiên cứu và làm
luận án tiến sĩ luật học, có ý nghĩa không chỉ về khoa học pháp lý mà còn có ý nghĩa
thực tiễn trong hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích nghiên cứu của luận án: Xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt
động mua lại, sáp nhập NHTM và đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp
luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án: Với mục đích nghiên cứu như trên, luận
án có các nhiệm vụ sau:
+ Đánh giá được tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến
đề tài luận án, từ đó xác định được những nội dung còn bỏ ngỏ, còn tranh luận để
đặt ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong đề tài luận án.
+ Nghiên cứu, phân tích, làm rõ và sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận cơ bản
về mua lại, sáp nhập NHTM và pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM; xây dựng
khung pháp lý điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM.
+ Nghiên cứu, phân tích, đánh giá đúng đắn thực trạng pháp luật về mua lại,
sáp nhập doanh nghiệp nói chung và trong lĩnh vực NHTM; thực tiễn thực hiện
pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam góp phần tạo luận cứ khoa học
cho việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.
+ Đưa ra phương hướng và các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về mua

2


lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là pháp luật về mua
lại, sáp nhập NHTM và hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM dưới góc độ pháp lý.
- Phạm vi nghiên cứu: Điều chỉnh pháp lý về mua lại, sáp nhập doanh
nghiệp nói chung và NHTM nói riêng bao gồm nhiều nội dung. Khi thực hiện mua
lại, sáp nhập NHTM, ngoài việc tuân thủ các quy định của pháp luật chuyên ngành
trong quá trình mua lại, sáp nhập, các bên trong quan hệ mua lại, sáp nhập còn
phải tuân thủ các quy định của pháp luật về dân sự, doanh nghiệp, đầu tư, tài
chính, chứng khoán, cạnh tranh..., bên cạnh đó là các vấn đề như thương hiệu, giải
quyết lao động, nghĩa vụ thuế, đăng ký kinh doanh, đăng ký quyền sở hữu tài sản,
chuyển đổi hình thức pháp lý sau mua lại, sáp nhập. Trên cơ sở những đặc thù
riêng của NHTM và hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM so với các loại hình
doanh nghiệp khác, luận án tập trung nghiên cứu pháp luật về mua lại, sáp nhập
NHTM ở Việt Nam trên các phương diện về tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp
nhập; trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý khi mua lại, sáp nhập và
giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập. Các vấn đề này là những nội dung
điều chỉnh chủ yếu của pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM.
Để có cơ sở giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực trạng pháp luật và thực
tiễn thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam hiện nay, luận án
nghiên cứu một số văn bản pháp luật có liên quan mật thiết đến nội dung đề tài luận
án được ban hành từ năm 2004 đến năm 2015 và có hiệu lực thi hành trong khoảng
thời gian từ khi được ban hành đến hết năm 2015; nghiên cứu một số trường hợp
mua lại, sáp nhập NHTM đã thực hiện trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015
phục vụ việc đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này. Luận án
không nghiên cứu tất cả các loại hình NHTM mà chỉ nghiên cứu về ngân hàng
thương mại cổ phần (NHTMCP) do loại hình ngân hàng này mang tính phổ biến, gặp
nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến tổ chức, hoạt động, ngoài ra các hoạt động mua
lại, sáp nhập ngân hàng trong thời gian gần đây cũng tập trung vào nhóm NHTMCP.
4. Những điểm mới của luận án
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu trước
đây về mua lại, sáp nhập và pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp cũng như
trong lĩnh vực NHTM, đồng thời cùng với quá trình nghiên cứu độc lập, luận án có
những đóng góp mới về mặt khoa học như sau:

3


* Về lý luận:
Thứ nhất, NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt bởi chính những
đặc điểm của NHTM. Do đó việc nghiên cứu để phát hiện chính xác và đầy đủ các
đặc điểm của NHTM sẽ giúp xây dựng được một cơ chế pháp lý hiệu quả nhằm giải
quyết những vấn đề phát sinh khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM. Hoạt động
ngân hàng có những đặc thù mà các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường
không có, đó là được nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán
qua tài khoản liên quan đến lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng cho khách hàng. Việc thành
lập, hoạt động, tổ chức lại NHTM được kiểm soát nghiêm ngặt trong một khung
pháp lý rất chặt chẽ. Các chủ thể hoạt động NHTM phải đáp ứng các điều kiện
nghiêm ngặt như vốn, an toàn vốn, cơ sở vật chất, hệ thống thông tin, bảo mật,
chuyên môn nghiệp vụ mới được cơ quan quản lý ngân hàng cho phép hoạt động.
Hoạt động kinh doanh của NHTM tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao hơn so với các loại
hình kinh doanh khác. Trong quá trình hoạt động ngân hàng phải liên tục, ổn định
cao nhất so với các loại hình doanh nghiệp khác, đồng thời các NHTM chịu sự ảnh
hưởng dây chuyền với nhau.
Thứ hai, hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM có những đặc trưng cơ bản, chi
phối đến pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM. Những đặc trưng cơ bản của hoạt
động mua lại, sáp nhập NHTM được xác định là: NHTM thực hiện mua lại, sáp
nhập với tư cách là bên mua lại hoặc nhận sáp nhập với NHTM khác; các doanh
nghiệp khác trừ ngân hàng không được mua lại, nhận sáp nhập với chủ thể bên kia
là ngân hàng. Trong tất cả các giai đoạn trước, trong và sau khi thực hiện mua lại,
sáp nhập NHTM đều phải đáp ứng hoạt động ngân hàng liên tục, ổn định, không
ảnh hưởng đến quyền lợi người gửi tiền và quyền, nghĩa vụ của các bên có liên
quan. So với các loại hình doanh nghiệp khác, trình tự, thủ tục khi thực hiện mua
lại, sáp nhập NHTM phức tạp hơn. Khi thực hiện mua lại, sáp nhập MHTM trước
tiên phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, sau đó mới tính đến
quyền lợi của bên thứ ba và quyền lợi của nhà nước. Thời điểm chuyển giao quyền,
nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp giữa các bên khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM
có ý nghĩa quan trọng.
Thứ ba, bản chất pháp lý của mua lại, sáp nhập NHTM là việc giành quyền
kiểm soát doanh nghiệp thông qua các hoạt động đầu tư, tổ chức lại doanh nghiệp;
việc chuyển giao tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp giữa các bên, đồng
thời xác định tư cách pháp lý của các bên sau khi thực hiện mua lại, sáp nhập.

4


Thứ tư, việc tìm ra những đặc điểm của pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân
NHTM sẽ giúp xác định đúng những nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật
trong lĩnh vực này. Những đặc điểm chính của pháp luật về mua lại, sáp nhập
NHTM được xác định như: hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM được điều chỉnh
bằng cả hệ thống luật chung và luật chuyên ngành về ngân hàng; việc thành lập,
hoạt động và tổ chức lại NHTM chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về ngân
hàng; khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM, ngoài việc sử dụng khung pháp lý
như các doanh nghiệp thông thường nhưng cần có những điều chỉnh riêng đối với
loại hình này; pháp luật chỉ cho phép NHTM được tiến hành mua lại, sáp nhập đối
với TCTD mà không cho phép TCTD hay các doanh nghiệp mua lại, sáp nhập với
NHTM; để thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM cần phải tuân theo những tiêu
chuẩn, điều kiện chặt chẽ hơn so với các doanh nghiệp khác; trình tự, thủ tục mua
lại, sáp nhập NHTM phải tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật, có mức
độ phức tạp cao hơn so với doanh nghiệp khác; để đảm bảo an toàn hệ thống ngân
hàng, tài chính, tiền tệ quốc gia, đối với các NHTM yếu kém, có nguy cơ mất khả
năng chi trả, mất khả năng thanh toán, cơ quan quản lý ngân hàng có quyền yêu cầu
NHTM đó phải thực hiện tái cơ cấu, buộc sáp nhập, hợp nhất, mua lại.
Thứ năm, những nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật về mua lại, sáp
nhập NHTM được xác định là: tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp nhập; trình tự, thủ
tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý khi mua lại, sáp nhập và giải quyết tranh chấp
khi mua lại, sáp nhập. Ngoài ra, còn có nhiều quan hệ xã hội khác phát sinh khi thực
hiện mua lại, sáp nhập NHTM cần phải có pháp luật điều chỉnh.
* Về đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về mua lại,
sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay:
Thứ nhất, luận án khẳng định pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt
Nam liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau. Luật các tổ chức tín dụng
(TCTD) là luật chuyên ngành điều chỉnh trực tiếp đến việc thành lập, hoạt động và
tổ chức lại NHTM, đồng thời được đặt trong mối quan hệ với các luật khác khi giải
quyết các vấn đề liên quan đến việc mua lại, sáp nhập NHTM. Vì vậy để hoàn thiện
pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật đối với việc thành lập,
hoạt động và tổ chức lại NHTM nói chung và việc mua lại, sáp nhập NHTM nói
riêng cần phải hoàn thiện đồng bộ các đạo luật này chứ không chỉ hoàn thiện riêng
Luật các TCTD.
Thứ hai, luận án chỉ rõ pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam

5


hiện nay còn có những tồn tại, hạn chế, nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến mua lại,
sáp nhập NHTM, nhất là trong trường hợp thực hiện bắt buộc còn chưa có quy định
cụ thể hoặc còn thiếu như tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp nhập; trình tự, thủ tục
mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý khi mua lại, sáp nhập và giải quyết tranh chấp khi
mua lại, sáp nhập. Ngoài ra còn thiếu hay cần bổ sung, sửa đổi những quy định như
quyền, nghĩa vụ của các ngân hàng bị mua lại, sáp nhập; quyền lợi của khách hàng
(người gửi tiền); quyền lợi của người lao động; thực hiện lãi suất tiền gửi, lãi suất,
phí cấp tín dụng; hợp đồng mua lại, sáp nhập; thực hiện tiếp tục hợp đồng cấp tín
dụng hợp vốn. Thực tế đã phát sinh những vấn đề pháp lý liên quan đến sự can thiệp
của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vào ngân hàng yếu kém như việc chuyển sở hữu
tư nhân thành sở hữu nhà nước ở một số ngân hàng yếu kém; cổ đông không đồng ý
có sự can thiệp của NHNN vào cơ cấu sở hữu khi thực hiện mua lại, sáp nhập
NHTM cần phải được giải quyết.
Thứ ba, thông qua việc phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về
mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam hiện nay, luận án khẳng định việc NHNN
mua lại bắt buộc một số NHTM yếu kém trong thời gian qua là để giải quyết tình
thế nhưng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm tránh nguy cơ đổ vỡ hệ thống ngân
hàng, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ quốc gia, giữ vững ổn định kinh tế
vĩ mô, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, đồng thời có tác dụng hữu hiệu trong
việc ngăn chặn tình trạng bất tuân thủ các yêu cầu, điều kiện bảo đảm an toàn đối
với hoạt động ngân hàng. Trong quá trình thực hiện, còn có nhiều vấn đề liên quan
đến cơ chế pháp lý cần phải giải quyết khi NHNN mua lại bắt buộc một số NHTM
yếu kém này. Xét trên góc độ pháp luật thì đã có căn cứ pháp lý để NHNN mua lại
bắt buộc đối với các ngân hàng này. Tuy nhiên việc NHNN mua lại bắt buộc toàn
bộ tài sản của NHTM với giá 0 đồng, không phải mua lại toàn bộ số cổ phần thuộc
quyền sở hữu của tất cả cổ đông, nhưng tất cả cổ đông của NHTM bị chấm dứt toàn
bộ quyền, lợi ích và tư cách cổ đông là chưa có cơ sở pháp lý vững chắc.
* Về một số giải pháp sửa đổi, bổ sung pháp luật về mua lại, sáp nhập
ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay, luận án đã đề xuất một số giải
pháp mới như sau:
Thứ nhất, luận án kiến nghị thống nhất hình thức pháp lý về tổ chức lại
doanh nghiệp được quy định trong các văn bản pháp luật. Bổ sung mua lại là một
trong những hình thức pháp lý tổ chức lại doanh nghiệp trong Luật doanh nghiệp để
phù hợp với quy định của Luật cạnh tranh. Luật các TCTD quy định cụ thể việc
mua lại, sáp nhập đối với NHTM, thay vì quy định chung là tổ chức lại TCTD dưới
6


hình thức chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức pháp lý. Luật các
TCTD và các văn bản pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành cần bổ sung
các quy định khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM về: tiêu chuẩn, điều kiện mua
lại, sáp nhập; trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý khi mua lại, sáp
nhập và giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập.
Thứ hai, luận án kiến nghị cần tiếp tục hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung các quy
định về mua lại, sáp nhập NHTM, cụ thể là: định giá ngân hàng; hợp đồng mua lại,
sáp nhập; thực hiện tiếp tục hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn; chuyển sở hữu tư
nhân thành sở hữu nhà nước ở một số ngân hàng yếu kém; quyền và nghĩa vụ của
các ngân hàng bị mua lại, sáp nhập; quyền lợi của khách hàng (người gửi tiền);
quyền lợi của người lao động tại các ngân hàng bị mua lại, sáp nhập; thủ tục xử lý
các giao dịch với người gửi tiền và người vay trước khi giao dịch mua lại, sáp nhập
được xác lập; thực hiện lãi suất tiền gửi, lãi suất, phí cấp tín dụng; lộ trình thực hiện
quy định về tỷ lệ an toàn, nợ xấu, sở hữu chéo khi thực hiện mua lại, sáp nhập
NHTM, trong cả trường hợp thực hiện tự nguyện và bắt buộc.
Thứ ba, luận án kiến nghị việc cơ quan có thẩm quyền chấp thuận mua lại,
sáp nhập NHTM ở Việt Nam, đồng thời lại tổ chức thanh tra, giám sát trong quá
trình thực hiện là không khách quan, trong khi hoạt động của NHTM có vai trò rất
quan trọng đối với nền kinh tế, cần đảm bảo hoạt động ngân hàng được diễn ra theo
đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, khi thực hiện mua lại, sáp nhập bắt buộc
đối với NHTM yếu kém có thể phải sử dụng đến nguồn ngân sách lớn của nhà
nước. Vì vậy pháp luật cần bổ sung quy định một cơ quan giám sát độc lập tiến
trình này để đảm bảo sự chặt chẽ và tính khách quan.
5. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục,
luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề
tài luận án.
Chương 2: Những vấn đề lý luận của pháp luật về mua lại và sáp nhập ngân
hàng thương mại.
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về mua lại,
sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp
nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam.

7


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Mua lại và sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành xu thế khách
quan, tất yếu với nhiều lợi ích to lớn, không chỉ với bản thân các ngân hàng mà còn
với nền kinh tế của mỗi quốc gia. Trong thời gian qua, nhiều công trình nghiên cứu
về mua lại, sáp nhập, pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp nói chung và
trong lĩnh vực NHTM, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án đã
được quan tâm thực hiện ở trong và ngoài nước.

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, ngân
hàng dưới góc độ kinh tế, tài chính
Trong các công trình nghiên cứu về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, ngân
hàng dưới góc độ kinh tế, tài chính có thể kể đến các sách, tài liệu nước ngoài, tài
liệu dịch từ tiếng nước ngoài như: Sách “Quản trị ngân hàng thương mại” của Peter
S.Rose do Nhà xuất bản (Nxb) Tài chính, Hà Nội phát hành năm 2000; sách
“Applied Mergers and Acquitions” của Bruner F. Robert and Perella P. Joseph,
năm 2004; sách “Hướng dẫn cơ bản về mua bán công ty” của Wilbur M. Yegge do
Nxb. Thống kê, Hà Nội phát hành năm 2006; sách “Mergers and Acquisitions” của
J. Fred Weston và Samuel C. Weaver (McGraw-Hill, năm 2007); sách “Cẩm nang
hướng dẫn mua lại và sáp nhập” của Timothy J.Galpin, Mark Herdon do Nxb.
Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh phát hành năm 2009; sách “Mua lại và sáp nhập căn
bản - Các bước quan trọng trong quá trình mua bán doanh nghiệp và đầu tư” của
Michael E.S. Frankel do Nxb. Tri Thức, Hà Nội phát hành năm 2009; sách “Mua lại
và sáp nhập thông minh - Kim chỉ nam trên trận đồ sáp nhập và mua lại” của Scott
Moeller, Chis Brady do Nxb. Tri Thức, Hà Nội phát hành năm 2009; sách “Wall
Street Words: An A to Z Guide to Investment Terms for Today’s Investor” của
David L.Scott; sách “Mergers & Acquisition From A to Z” của Andrew J. Sherman,
Milledge A. Hart do Nxb. Amacom phát hành năm 2006; sách “A practical guide to
mergers, acquisitions, and divestitures” do Nxb. Delta Publishing Company phát
hành năm 2009; sách “Merger, Acquisition, and other Restructuring Activities” của

8


Donal DePamphilis, năm 2010; tài liệu nghiên cứu về mua lại, sáp nhập “Mergers
and Acquisitions” của Alexander Robert, William Wallance, Peter Moles do
Edinburgh Business School, Heriot-Watt University phát hành năm 2012... Các
công trình nghiên cứu này đã cung cấp những lý luận, kiến thức cơ bản về M&A,
nhiều cuốn sách còn được coi là cẩm nang về M&A cho các doanh nghiệp. Trong
các công trình nghiên cứu trên, có một số công trình đáng chú ý như sau:
- Sách “Quản trị ngân hàng thương mại” của tác giả Peter S.Rose, Nxb. Tài
chính, Hà Nội (2000). Đây là cuốn sách có chuyên môn cao về NHTM được dùng
làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu ở nhiều trường đại học tại Mỹ. Với 23 chương
cùng các ví dụ và danh mục thuật ngữ, cuốn sách chứa đựng nội dung rất phong phú
về hoạt động của NHTM trong nền kinh tế thị trường. Cuốn sách đề cập tới rất
nhiều khía cạnh về công nghệ quản lý NHTM trong mối quan hệ với cơ quan quản
lý tiền tệ, với cơ quan quản lý tài chính và những vấn đề luật pháp. Chương 22 của
cuốn sách trình bày nội dung về quản trị hoạt động sáp nhập và mua lại ngân hàng
bao gồm các nội dung chính như sau:
Thứ nhất, về động cơ của hoạt động sáp nhập ngân hàng. Theo tác giả, sáp
nhập thường diễn ra với các lý do như: (1) Các cổ đông ngân hàng mong muốn tăng
giá trị tài sản hay giảm rủi ro và nhờ đó củng cố lợi ích của họ; (2) Các nhà quản lý
ngân hàng hy vọng nhận được mức lương cao hơn, tạo ra sự đảm bảo về nghề
nghiệp hay uy tín nhờ việc quản lý một ngân hàng lớn hơn; (3) Nhà quản lý, các cổ
đông đều được hưởng lợi ích từ hoạt động sáp nhập. Ngoài ra, cũng có những động
cơ khác được kể đến thông qua các vụ sáp nhập các ngân hàng lớn nhất đang diễn ra
trong các năm gần đây như: Tiềm năng lợi nhuận; hạn chế rủi ro; động cơ về thuế,
thị trường; động cơ tiết kiệm chi phí, tăng hiệu quả và giải cứu các ngân hàng sụp
đổ. Đã có rất nhiều các vụ sáp nhập ngân hàng được Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi
Liên bang Mỹ (FDIC) và các cơ quan pháp luật khuyến khích vì đây là một phương
pháp để bảo vệ khoản dự trữ bảo hiểm tiền gửi và tránh cho việc phục vụ khách
hàng bị gián đoạn khi ngân hàng có nguy cơ phá sản.
Thứ hai, về tiến hành sáp nhập. Tác giả cuốn sách cho rằng, dù xuất phát từ
bất cứ mục đích gì thì về bản chất sáp nhập là một giao dịch tài chính dẫn đến việc
một ngân hàng này mua lại một hay một vài tổ chức ngân hàng khác. Ngân hàng bị
sáp nhập phải từ bỏ các biểu tượng cũ để lấy tên mới, thường là tên của ngân hàng
mua lại. Tài sản và các nguồn vốn của ngân hàng bị sáp nhập sẽ nhập với tài sản và

9


nguồn vốn của ngân hàng sáp nhập. Sáp nhập ngân hàng thường được tiến hành sau
khi các nhà quản lý của hai ngân hàng đã đi đến những thỏa thuận cụ thể. Các bước
hợp nhất sẽ được ban lãnh đạo của mỗi ngân hàng thông qua và cổ đông của mỗi
ngân hàng bỏ phiếu.
Thứ ba, về cách thức hoàn tất việc sáp nhập. Thông thường, việc sáp nhập
được tiến hành thông qua việc mua lại cổ phiếu hoặc mua lại tài sản. Với phương
thức mua lại cổ phiếu, ngân hàng bị sáp nhập buộc phải ngừng hoạt động, ngân
hàng sáp nhập sẽ tiếp quản tất cả tài sản và nguồn vốn của ngân hàng bị sáp nhập.
Với phương thức mua lại tài sản, ngân hàng yêu cầu sáp nhập sẽ dùng tiền mặt hoặc
cổ phiếu để mua tất cả hay một phần tài sản của ngân hàng bị sáp nhập.
Thứ tư, về quá trình ra quyết định sáp nhập. Cơ quan quản lý Liên bang Mỹ
phải áp dụng những tiêu chuẩn do Luật sáp nhập ngân hàng và Hướng dẫn của Bộ
Tư pháp quy định cho các yêu cầu sáp nhập. Đạo luật sáp nhập ngân hàng đòi hỏi
Cơ quan Liên bang chịu trách nhiệm giám sát chính đối với ngân hàng yêu cầu sáp
nhập phải tính đến tác động của vụ sáp nhập tới sự thuận lợi cho công chúng, tính
đến nhu cầu của công chúng đối với việc cung cấp các dịch vụ tài chính chất lượng
cao tại mức giá hợp lý.
- Sách sách “Mua lại và sáp nhập từ A đến Z” của Andrew J.Sherman,
Milledge A. Hart, Nxb Tri thức, Hà Nội (2009) và “M&A- Mua lại và sáp nhập căn
bản, các bước quan trọng trong quá trình mua bán doanh nghiệp và đầu tư” của tác
giả Michael E.S. Frankel, Nxb Tri thức, Hà Nội (2009). Nội dung chính của hai
cuốn sách này như sau:
Thứ nhất, về thuật ngữ M&A. M&A là một thuật ngữ để mô tả các thương vụ
liên quan đến sự thay đổi, chuyển giao quyền kiểm soát một doanh nghiệp. Các hình
thức M&A bao gồm: mua tài sản của doanh nghiệp, mua cổ phiếu, mua lại doanh
nghiệp dựa trên vốn vay nợ; mua lại doanh nghiệp để giữ quyền quản lý.
Thứ hai, về các bên tham gia M&A. Chủ thể tham gia thương vụ mua lại và sáp
nhập doanh nghiệp cùng với vai trò, động cơ thúc đẩy tham gia M&A, cách thức quản
lý các giao dịch không chỉ giới hạn ở bên bán và bên mua mà còn có sự tham gia của
các chủ thể khác như kiểm toán viên, đội ngũ tư vấn, các nhà đầu tư tài chính...
Thứ ba, về những công việc cần chuẩn bị khi thực hiện M&A. Một trong
những bước quan trọng của quá trình chuẩn bị là lựa chọn nhà tư vấn. Chính các
nhà tư vấn sẽ trợ giúp các bên chuẩn bị những công việc cần thiết để thực hiện

10


thành công thương vụ mua lại và sáp nhập. Cùng với chiến lược tổng thể của công
ty, chiến lược M&A cần được ban giám đốc và đội ngũ điều hành công ty phê duyệt
và ủng hộ. Điều này thậm chí còn quan trọng hơn rất nhiều khi vạch kế hoạch cho
một thương vụ M&A. Thông thường, việc kêu gọi sự ủng hộ đối với một chiến lược
M&A trước khi đề xuất một giao dịch cụ thể là việc làm rất quan trọng. Ngoài ra,
các tác giả cũng trình bày rất nhiều những công việc trước khi thực hiện M&A mà
bên mua và bên bán cần phải quan tâm, để đảm bảo rằng một thương vụ M&A đã
được chuẩn bị kỹ lưỡng, mang lại thành công cho các bên.
Thứ tư, về thẩm định chi tiết doanh nghiệp mục tiêu của bên mua. Thẩm định
chi tiết là việc bên mua có nghĩa vụ xem xét chi tiết và cẩn trọng về thương vụ mua
lại và sáp nhập. Quá trình này sẽ xem xét toàn diện về pháp lý, tài chính và chiến
lược trên cơ sở tất cả những tài liệu, những quan hệ hợp đồng, lịch sử hoạt động và
cấu trúc tổ chức của bên bán. Nhóm làm việc về tài chính, chiến lược thường do đội
ngũ quản lý, kế toán và nhóm làm việc về thẩm định pháp lý do cố vấn của bên mua
thực hiện. Thẩm định pháp lý sẽ phân tích những vấn đề về tổ chức, tài chính, quản
lý và nhân sự, những hợp đồng và giao kết chính của bên bán, kiện tụng và khiếu
nại. Bên mua sẽ phải thu thập các dữ liệu liên quan đến điều kiện để giao dịch mua
lại và sáp nhập có hiệu lực pháp luật, đến sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh và
những rủi ro có thể phải gánh chịu sau khi mua lại, sáp nhập…
Thứ năm, về định giá doanh nghiệp và các phương pháp định giá doanh
nghiệp. Định giá doanh nghiệp hay xác định giá trị doanh nghiệp là việc ước tính giá
trị hiện hữu và tiềm năng của doanh nghiệp tại một thời điểm xác định bằng cách sử
dụng các phương pháp định giá thích hợp. Định giá doanh nghiệp có thể được bên
bán tiến hành hoặc xác nhận trước khi chào cho bên mua và giá cuối cùng được xác
định bởi các bên trong quá trình đàm phán về giá. Trong hợp đồng M&A, mục giá
giao dịch có thể chỉ chiếm một dòng nhưng đó là kết quả của một quá trình làm việc
ròng rã và đầy thách thức đối với cả hai bên. Do đó các bên mua bán, sáp nhập doanh
nghiệp phải sử dụng các phương pháp định giá theo nguyên tắc nhất định và phù hợp
với giá thị trường. Khi đề cập giá trị của một doanh nghiệp là nói đến cả giá trị tài sản
hữu hình và giá trị tài sản vô hình. Trong M&A, xác định đúng, đủ giá trị tài sản vô
hình giúp bên bán đánh giá đúng giá trị của mình và bên mua cũng nhận thức được tài
sản vô hình mà mình sẽ sở hữu cũng như giá trị của những tài sản này.
Thứ sáu, về kết thúc thương vụ và hậu mua lại, sáp nhập. Một cách đơn giản

11


nhất được các tác giả đề cập, ký kết thương vụ là ký kết một thỏa thuận để bán một
công ty, trong khi đó kết thúc một thương vụ là hoàn thành quá trình mua bán đó.
Khoảng trống giữa việc ký kết và kết thúc sẽ thay đổi dựa trên những nhân tố bên
ngoài. Nguyên nhân việc trì hoãn phổ biến và kéo dài nhất là việc phê chuẩn theo
pháp luật. Với những doanh nghiệp phải điều chỉnh nhiều, hoặc đôi khi là việc một
doanh nghiệp lớn cần phải được sự chấp thuận từ những cơ quan quản lý. Sau khi
kết thúc giao dịch M&A, các hợp đồng, giấy phép và các quyền, nghĩa vụ cũng cần
được chuyển giao và thay đổi. Bên cạnh đó còn có những thủ tục khác cần được
hoàn thành trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng sau khi hoàn tất thương vụ. Những
thách thức mà bên mua doanh nghiệp cũng phải đối mặt thời kỳ hậu mua lại và sáp
nhập như sự kết hợp nguồn nhân lực, văn hóa doanh nghiệp, hệ thống hoạt động và
quản lý thông tin, hệ thống kế toán...
- Bài viết “Banking M&A: What about the brand?” của Joseph Benson và
Jack Foley trên marketingprofs.com. Theo tác giả, thương hiệu không phải là tất cả
mọi thứ về một ngân hàng, nó chỉ là điều làm cho những ngân hàng tạo ra khác biệt.
Thương hiệu tạo ra sự khác biệt và ưu tiên đối với khách hàng. Đó là lý do tại sao
khách hàng chọn để giao dịch với một ngân hàng này mà không phải là một ngân
hàng khác. Thương hiệu thường đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo nên các giá trị
này. Theo như nhận định trong một nghiên cứu gần đây của hãng nghiên cứu
McKinsey, thì “các tài sản vô hình tạo nên phần lớn giá trị của các thỏa thuận liên
kết và sáp nhập, trong đó thương hiệu chiếm một phần đáng kể trong những dạng
tài sản vô hình này”. Tác giả chỉ ra bốn chiến lược phát triển thương hiệu cơ bản đối
với các ngân hàng: (1) Hố đen; (2) Tận dùng; (3) Chung sống; (4) Những khởi đầu
mới. Mỗi chiến lược lại có những ưu điểm riêng.
1.1.1.2. Các công trình nghiên cứu về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, ngân
hàng dưới góc độ pháp lý
- Bài dịch “Luật chống độc quyền ở Mỹ” do N.Gregory Mankiw, 5th edition
(2008), Principles of Microeconomics, South Western Cengage Learning phát hành,
được Lê Thị Khánh Ly biên dịch có những nội dung chính cho biết mục đích của
chính sách chống độc quyền là ngăn cản độc quyền, khuyến khích cạnh tranh và đạt
được sự phân bổ nguồn lực hiệu quả. Mặc dù tất cả những nhà kinh tế học đều đồng
ý rằng những mục tiêu này rất tốt, tuy nhiên có một số ý kiến mâu thuẫn nhau về sự
thích hợp và hiệu quả của chính sách chống độc quyền ở Mỹ. Sau những năm 1800

12


và trước những năm 1900, chính phủ kết thúc những lực lượng thị trường thuộc
ngành công nghiệp độc quyền mà không cung cấp đủ kiểm soát nhằm bảo vệ người
tiêu dùng, đạt được cạnh tranh công bằng và phân bổ nguồn lực hiệu quả. Vì thế,
chính phủ xây dựng hai kiểm soát mang ý nghĩa khác nhau như là việc thay thế và
bổ sung cho lực lượng thị trường này: Cơ quan chính phủ: Trong một vài thị trường
mà nguồn gốc của việc sản phẩm và kỹ thuật được tạo ra từ độc quyền tự nhiên,
chính phủ thiết lập cơ quan chính phủ để kiểm soát hành vi tập trung kinh tế. Luật
chống độc quyền: Trong hầu hết những thị trường còn lại, xã hội kiểm soát bằng các
quy định chống độc quyền được thiết kế ra để ngăn cản và chống lại việc phát triển
của các hình thức độc quyền. Bốn bộ phận cụ thể của quy định Liên bang được chắt
lọc và mở rộng từ những lần sửa đổi khác nhau, thiết lập bộ luật cơ bản liên quan
đến cấu trúc và quản lý độc quyền.
Tư tưởng chính của Đạo luật chống độc quyền Sherman 1890 thể hiện ở việc
quy định mọi hợp đồng, việc kết hợp giữa các hình thức độc quyền hay những hình
thức hay những âm mưu mà làm kiềm chế thương mại giữa các bang hoặc giữa các
quốc gia thì được xem là bất hợp pháp; mọi cá nhân mà được xem là độc quyền,
hoặc nỗ lực để có độc quyền, hoặc sáp nhập hoặc chung sức với bất kỳ cá nhân khác
hay cộng đồng khác để có độc quyền trong bất kỳ thành phần thương mại nào giữa
các bang hoặc các quốc gia sẽ được xem là mắc trọng tội. Đạo luật chống độc quyền
Sherman đã cấm những ràng buộc trong thương mại (ví dụ, kết hợp giá cố định và
phân chia thị trường) như trong độc quyền. Đạo luật chống độc quyền Clayton năm
1914 chứa đựng một số các yêu cầu được đưa ra trong Đạo luật chống độc quyền
Sherman, đạo luật cấm thâu tóm cổ phần của những công ty đối thủ cạnh tranh khi
thu nhập ít hơn của đối thủ cạnh tranh. Luật về Ủy ban thương mại Liên bang năm
1914 cho phép Ủy ban thương mại Liên bang (FTC) có quyền hạn trong việc kiểm
ra vấn đề cạnh tranh không công bằng và xem xét yêu cầu của những công ty bị hại.
Nó có thể thu nhận những phản hồi từ phía công cộng và nếu cần thiết nó có thể
chấm dứt các đơn đặt hàng nếu phát hiện ra “có sự không công bằng trong cạnh
tranh thương mại”...
- Sách “Quản trị ngân hàng thương mại” của tác giả Peter S.Rose, Nxb. Tài
chính, Hà Nội (2000). Tác giả đã dành một phần dung lượng cuốn sách để trình bày
các quy định pháp lý đối với hoạt động sáp nhập ngân hàng ở Mỹ.
Thứ nhất, hệ thống quy định điều chỉnh chung hoạt động sáp nhập ngân

13


hàng. Ở Mỹ về cơ bản có hai hệ thống quy định điều chỉnh chung hoạt động sáp
nhập ngân hàng, đó là các phán quyết của tòa án và các đạo luật được thông qua
trên cơ sở các đặc thù của ngành ngân hàng. Với các đạo luật có thể dẫn chiếu đến
đạo luật chống độc quyền Sherman năm 1890 và đạo luật Clayton năm 1914. Các
đạo luật này cấm các hoạt động sáp nhập nếu chúng dẫn đến độc quyền hay hạn chế
cạnh tranh trong bất kỳ ngành công nghiệp nào và Bộ Tư pháp sẽ thông qua các vụ
sáp nhập nào như vậy. Ngoài hai đạo luật trên, hoạt động sáp nhập còn chịu sự điều
chỉnh của nhiều đạo luật khác. Đạo luật sáp nhập ngân hàng đòi hỏi mỗi ngân hàng
tham gia sáp nhập phải được chuẩn y từ các cơ quan điều hành Liên bang trước khi
sáp nhập. Với các ngân hàng trong nước, việc sáp nhập phải được Cục Quản lý tiền
tệ thông qua. Với các ngân hàng được bảo hiểm và là thành viên của hệ thống Dự
trữ Liên bang thì việc hợp nhất phải có sự thông qua của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ
Fed. Còn với các ngân hàng được bảo hiểm nhưng không là thành viên của hệ Dự
trữ Liên bang thì cần có sự thông qua của Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang.
Thứ hai, các hướng dẫn của Bộ Tư pháp. Để giảm thiểu sự không chắc chắn
về pháp lý, năm 1968 Bộ Tư pháp Mỹ đã ban hành hướng dẫn chính thức về việc
xin sáp nhập với những yêu cầu chặt chẽ. Theo đó các hãng hoạt động trong thị
trường có mức độ tập trung cao và cạnh tranh hạn chế chỉ được thôn tính các doanh
nghiệp có thị phần nhỏ và không quan trọng, đồng thời chỉ được thâm nhập thị
trường với hình thức tạo lập doanh nghiệp mới. Khi Luật sáp nhập được nới lỏng
vào năm 1982, Bộ Tư pháp đã thay đổi hướng dẫn sáp nhập vào năm 1992 bao gồm
các hướng dẫn riêng cho sáp nhập ngân hàng. Hướng dẫn mới của Bộ Tư pháp lấy
công thức tính chỉ số Herfindahl-Hirschman Index (HHI) làm thước đo mức độ tập
trung cho thị trường. Với việc ban hành chỉ số HHI này, bất cứ vụ sáp nhập nào mà
chỉ số HHI sau khi sáp nhập nhỏ hơn 1.800 hoặc giá trị chỉ số HHI trong khu vực
thay đổi dưới 200 điểm sẽ không bị Bộ Tư pháp ngăn cản.
Thứ ba, quá trình ra quyết định của nhà chức trách Liên bang. Những tiêu
chuẩn do Luật sáp nhập ngân hàng và Hướng dẫn của Bộ Tư pháp phải được Cơ
quan quản lý Liên bang Mỹ áp dụng. Các tác động của vụ sáp nhập tới công chúng
sẽ được Cơ quan Liên bang chịu trách nhiệm giám sát theo quy định của Đạo luật
sáp nhập ngân hàng. Gần đây một rào cản về quy chế đối với các ngân hàng có yêu
cầu sáp nhập đã được thiết lập là Luật kê khai cho vay mua nhà thế chấp. Luật đòi
hỏi các ngân hàng cho vay mua nhà phải báo cáo định kỳ về sự phân bổ địa lý và

14


các thông tin khác đối với danh mục cho vay mua nhà. Các ngân hàng có hành vi
phân biệt đối xử trong việc cho vay sẽ gặp nhiều khó khăn về pháp lý nếu muốn
nhận được sự phê chuẩn cho yêu cầu hợp nhất.
- Bài viết: Các vấn đề cần lưu ý khi tham gia giao dịch M&A tại Việt Nam
của Luật sư Gregoty Crovo (thuộc Hãng luật Kelvin Chia Partnership) với chủ đề
M&A- Toàn cảnh thị trường mua bán-sáp nhập doanh nghiệp Việt Nam 2012 đăng
trên đặc san của Báo Đầu tư.
Luật sư Gregory Crovo là người có kinh nghiệm tư vấn cho rất nhiều thương
vụ M&A thành công. Trong bài viết, tác giả phân tích các vấn đề pháp lý, thủ tục và
thực tế thực hiện giao dịch dựa trên các kinh nghiệm tư vấn của mình cho các nhà
đầu tư nước ngoài trong các giao dịch M&A tại Việt Nam, đồng thời tác giả đề cập
các vấn đề pháp lý tồn tại trong quá trình tiến hành giao dịch cho đến khi hoàn tất
giao dịch và các yếu tố có thể gây trở ngại cho giao dịch. Những nội dung được tác
giả đề cập như các quy định về tài khoản góp vốn, thẩm định pháp lý, quy định của
pháp luật cạnh tranh kiểm soát mua lại và sáp nhập, các vấn đề liên quan đến thủ tục
cấp phép cho nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư ở Việt Nam, quá trình thanh toán và
những khó khăn cho việc thực thi các hợp đồng mua lại và sáp nhập tại Việt Nam.
Tác giả bài viết phân tích một số bất cập trong các quy định pháp luật của Việt Nam
về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp, từ đó khuyến cáo các nhà đầu tư nước ngoài
khi tham gia giao dịch mua lại và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.

1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Có nhiều nghiên cứu trong nước được thực hiện thời gian qua đã tập trung
phân tích, phản ảnh về mua lại, sáp nhập; pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh
nghiệp, NHTM và các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án. Có thể kể đến
một số nghiên cứu như: Luận án tiến sĩ kinh tế “Sáp nhập, hợp nhất và mua bán
ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam” của Phan Diên Vỹ, năm 2013; luận án
tiến sĩ luật học “Pháp luật mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam” của Trần Thị Bảo
Ánh, năm 2014... Bên cạnh các nghiên cứu trên, một số đề tài nghiên cứu khoa học
nghiên cứu trong lĩnh vực này như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Hoạt động
sáp nhập và mua lại: Cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị chính sách
cho Việt Nam” do ThS. Lưu Minh Đức làm chủ nhiệm, năm 2009; đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Ngành “Hoạt động mua bán, sáp nhập các ngân hàng thương mại
Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” của Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí

15


Minh do TS. Nguyễn Thị Loan làm chủ nhiệm, năm 2012; đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Bộ “Pháp luật điều chỉnh sáp nhập, mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam” của
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh do TS. Nguyễn Trí Hùng làm chủ nhiệm,
năm 2012; đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện “Pháp luật về hợp nhất, sáp
nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam” của Học viện Tài chính, năm 2014...
Các công trình nêu trên đã phân tích và cung cấp thông tin về cơ sở lý luận
mua lại, sáp nhập và pháp luật về mua lại, sáp nhập đối với doanh nghiệp, công ty
tài chính, ngân hàng; phân tích, phản ảnh tình hình hoạt động mua lại, sáp nhập
doanh nghiệp và NHTM của một số quốc gia và Việt Nam; phân tích và luận giải
khung pháp lý, thực trạng pháp luật đối với doanh nghiệp, ngân hàng nói chung và
về mua lại, sáp nhập đối với doanh nghiệp, NHTM nói riêng. Các nghiên cứu cũng
phân tích và đề cập đến hoạt động tập trung kinh tế tại Việt Nam, kinh nghiệm quốc
tế về kiểm soát tập trung kinh tế, về thị trường chứng khoán; đưa ra quan điểm,
phương hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.
Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức khác cũng cung
cấp nhiều thông tin liên quan đến tình hình nghiên cứu của đề tài luận án như: “Báo
cáo kinh tế vĩ mô 2012: Từ bất ổn vĩ mô đến con đường tái cơ cấu”, “Báo cáo kinh tế
vĩ mô 2014 - Cải cách thể chế kinh tế: Chìa khóa cho tái cơ cấu” của Ủy ban Kinh tế
của Quốc hội; “Báo cáo phát triển Việt Nam (VDR) 2012: Kinh tế thị trường khi Việt
Nam trở thành quốc gia thu nhập trung bình” của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam;
“Báo cáo ngành ngân hàng Việt Nam” của Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)
Chứng khoán NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng, năm 2014; “Báo cáo tập trung kinh
tế Việt Nam năm 2012”; “Báo cáo rà soát pháp luật cạnh tranh với pháp luật chuyên
ngành” của Cục Quản lý cạnh tranh, năm 2014; nghiên cứu “Tái cấu trúc hệ thống
ngân hàng” của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, năm 2012…
Các nghiên cứu, tài liệu trên đã phân tích, đề cập, cung cấp thông tin đa dạng
về tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam, đến tái cơ cấu kinh tế, tái cấu trúc ngân
hàng, cải cách thể chế, tập trung kinh tế, đưa ra mục tiêu, quan điểm, định hướng
chính sách, giải pháp cơ cấu lại các TCTD... Một số nghiên cứu đi sâu phân tích về
cơ sở lý luận, quy định pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM; kinh nghiệm quốc tế
để xử lý ngân hàng yếu kém. Ngoài ra một số nghiên cứu cũng đưa ra các đề xuất,
kiến nghị liên quan đến hoàn thiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, xã
hội và ngân hàng, trong đó có hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh

16


nghiệp, ngân hàng.
1.1.2.1. Các công trình nghiên cứu đề cập về lý luận mua lại, sáp nhập
doanh nghiệp, ngân hàng
Một số nghiên cứu đã cung cấp cơ sở lý luận về mua lại, sáp nhập và pháp
luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, NHTM như nêu khái niệm mua lại, sáp
nhập, đề cập đến các phương thức mua lại, sáp nhập; phân biệt sự khác nhau của
mua lại, sáp nhập; vai trò của mua lại, sáp nhập; các yếu tố và điều kiện thúc đẩy
hoạt động mua lại, sáp nhập chủ yếu ở cả góc độ kinh tế và pháp luật, theo quan
điểm chung của quốc tế, pháp luật của một số quốc gia và pháp luật Việt Nam. Các
nguyên tắc pháp lý khi tiến hành sáp nhập, hợp nhất NHTM, các bộ phận cấu thành
pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM cũng được nghiên cứu, qua đó cho thấy pháp
luật về mua lại, sáp nhập đối với NHTM có sự liên thông với pháp luật cạnh tranh,
chứng khoán, doanh nghiệp, dân sự, thương mại... [16], [42], [59], [89].
Trong các nghiên cứu, bài viết trên, có quan điểm chưa thống nhất việc sử
dụng thuật ngữ “mua lại và sáp nhập” tại Việt Nam để chỉ khái niệm mua lại, sáp
nhập như theo nội hàm và cách hiểu của quốc tế. Các ý kiến về nhóm vấn đề này cho
rằng trên thực tế hoạt động mua lại, sáp nhập đa dạng hơn nhiều so với khái niệm như
hay dùng, diễn ra ở nhiều hình thức khác nhau và vô cùng phức tạp, nên để đưa ra
định nghĩa chính xác, nhất quán về mua lại, sáp nhập là tương đối khó khăn. Theo
quy định của pháp luật Việt Nam thì chưa có được định nghĩa thống nhất điều chỉnh
hoạt động mua lại, sáp nhập [14], [67]. Có ý kiến trao đổi cần phải làm rõ định nghĩa
để thống nhất về nội dung thâu tóm, hợp nhất, mua lại, sáp nhập, hay cần thống nhất
cách hiểu khi đề cập đến thâu tóm hoặc đơn giản chỉ hiểu đó là sự thay đổi tỷ lệ sở
hữu cổ phần trong tổ chức dẫn đến việc tham gia quản trị điều hành [77]. Một số vấn
đề lý luận cũng được đề cập, bàn luận như hoạt động mua cổ phần trong vốn điều lệ
của NHTM; khái niệm “đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của
doanh nghiệp bị mua lại” áp dụng đối với NHTM [42]; mua lại cổ phần theo
phương thức lôi kéo cổ đông bất mãn [14]...
1.1.2.2. Các công trình nghiên cứu đề cập về pháp luật mua lại, sáp nhập
doanh nghiệp, ngân hàng thương mại
- Các công trình nghiên cứu đề cập về pháp luật mua lại, sáp nhập doanh
nghiệp, ngân hàng thương mại của một số quốc gia:
Pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, NHTM và bài học kinh

17


nghiệm đối với Việt Nam của một số quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc,
Nga, một số nước Đông Nam Á và vùng lãnh thổ như Thái Lan, Inđônêsia,
Malaysia, Singapore, Đài Loan… đã được một số nghiên cứu đề cập [32], [40],
[59], [68]... Trên thế giới, quốc gia đầu tiên ban hành Luật cạnh tranh là Canada vào
năm 1889. Tuy nhiên, Luật Sherman của Hoa Kỳ được ban hành vào năm 1890 lại
là đạo luật có ảnh hưởng lớn và thường được trích dẫn. Do tầm quan trọng của hoạt
động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp và ngân hàng ngày càng mang tính toàn cầu
hóa nên nhiều quốc gia đã ban hành các luật riêng để điều chỉnh hoạt động này. Một
số quốc gia đã xây dựng các tiêu chuẩn để kiểm soát tập trung kinh tế, xây dựng và
áp dụng các chuẩn mực về vốn, tỷ lệ an toàn vốn ngân hàng khi thực hiện mua lại,
sáp nhập ngân hàng, thực hiện mua lại bắt buộc đối với những ngân hàng yếu kém
trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế cũng là những kinh nghiệm tốt để tham khảo
trong quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
- Các công trình nghiên cứu đề cập khung pháp lý về mua lại, sáp nhập ngân
hàng tại Việt Nam:
Đề cập đến khung pháp lý về mua lại, sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng
tại Việt Nam, Bộ luật dân sự (2005), Luật đầu tư (2005), Luật cạnh tranh (2004),
Luật chứng khoán (2006) và Luật chứng khoán sửa đổi (2010), Luật các TCTD
(2010), Luật NHNN Việt Nam (2010), Luật doanh nghiệp (2005, 2014) là các
văn bản pháp luật được nhiều tác giả dẫn chiếu [29], [42], [45], [59], [89].
Một số nghiên cứu đã đề cập, phân tích quy định pháp luật về mua lại, sáp
nhập giữa các TCTD Việt Nam; điều kiện để các TCTD nước ngoài mua cổ phần
của ngân hàng Việt Nam (niêm yết hoặc chưa niêm yết trên thị trường chứng
khoán), trong đó quy định tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài; điều kiện để
ngân hàng Việt Nam bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài; điều kiện chuyển
nhượng cổ phần; điều kiện tham gia quản trị tại ngân hàng Việt Nam; quy định về
tổ chức và hoạt động của các NHTM được NHNN Việt Nam cấp giấy phép thành
lập và hoạt động; các cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế
giới WTO... [56], [63], [110]. Mặc dù đã xây dựng được hành lang pháp lý ban đầu
nhưng hoạt động mua lại, sáp nhập vẫn cần phải có một hành lang pháp lý đầy đủ,
đảm bảo cho hoạt động mua lại, sáp nhập được diễn ra trên thực tế, có cơ sở pháp lý
để điều chỉnh, phù hợp mục tiêu tái cơ cấu nền kinh tế, tái cấu trúc hệ thống ngân
hàng, đáp ứng quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật.

18


Các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến hoạt động mua lại, sáp nhập
được đề cập, đó là các cam kết trong GATS/WTO, các cam kết trong khu vực
ASEAN, các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, các cam kết quốc tế về đầu
tư song phương có yếu tố tự do hóa liên quan đến mua lại, sáp nhập (M&A), Hiệp
định thương mại tự do có cam kết về đầu tư [59]...
- Thực tiễn thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam:
Thực tiễn thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam cũng
được một số công trình và tác giả nghiên cứu, phân tích, bàn luận. Một số trường
hợp nghiên cứu về mua lại, sáp nhập NHTM giai đoạn trước năm 2005 được các
tác giả trích dẫn và phân tích [53], [88]... Trong giai đoạn này có hai hình thức thực
hiện chủ yếu là sáp nhập và hợp nhất. NHTMCP là nhóm ngân hàng có nhiều
thương vụ mua lại, sáp nhập diễn ra nhất trong toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Trong khoảng thời gian trước năm 2005, phần lớn các giao dịch mua lại, sáp nhập
diễn ra giữa các ngân hàng trong nước với nhau. Nhiều NHTMCP nông thôn với
quy mô vốn nhỏ được mua lại, sáp nhập [8]. Pháp luật áp dụng trong giai đoạn này
chủ yếu dựa trên nguyên tắc của Luật NHNN, Luật các TCTD.
Giai đoạn từ năm 2005 trở về đây, một số thương vụ mua lại, sáp nhập, hợp
nhất ngân hàng được phân tích, bàn luận như trường hợp hợp nhất ba NHTMCP là
FicoBank, TinNghiaBank và SCB; Công ty dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện sáp nhập
vào ngân hàng Liên Việt; NHTMCP Nhà Hà Nội (HBB) sáp nhập vào NHTMCP
Sài Gòn – Hà Nội (SHB); ngân hàng EximBank mua lại cổ phần của ngân hàng
SacomBank; tập đoàn DOJI hoàn tất mua 20% cổ phần để trở thành cổ đông chiến
lược của ngân hàng TienPhongBank [19], [122]. Thông tư số 04/2010/TT-NHNN
ngày 11/2/2010 của NHNN quy định về sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD (sau đây
gọi là Thông tư 04/2010/TT-NHNN) cũng được nhiều tác giả phân tích, bàn luận là
đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập nên trong quá trình áp dụng để tiến hành các hoạt
động mua lại, sáp nhập NHTM đã gặp không ít trở ngại [67], [79].
Trong thời gian qua, nhiều giao dịch mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam
đã được tiến hành, tuy nhiên hợp đồng mua lại, sáp nhập còn một số vấn đề chưa
được nghiên cứu thấu đáo. Vì thế một số tác giả đã nghiên cứu về hợp đồng mua lại,
sáp nhập doanh nghiệp [41] hay lưu ý khi soạn thảo hợp đồng này [48]. Có tác giả
đã đi sâu nghiên cứu về nguyên tắc, trình tự, thủ tục hợp đồng mua lại, sáp nhập,
nhưng trọng tâm các bên thỏa thuận như thế nào? Nội dung của hợp đồng, chuyển

19


quyền, nghĩa vụ tài sản và các khoản nợ ra sao? Hiệu lực phát sinh của hợp đồng?
Thời điểm nào có hiệu lực, thời điểm nào vô hiệu? ... đã được kiến nghị cần được
tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn [41], [44], [119].
- Những hạn chế, bất cập của pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân hàng
thương mại ở Việt Nam:
Trong các nghiên cứu thu nhận được phản ảnh những hạn chế, bất cập của
pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam đều có chung nhận định về những
hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành. Đa số các nghiên cứu đều nhận định pháp
luật về mua lại, sáp nhập ngân hàng được quy định và điều chỉnh bởi nhiều văn bản
quy phạm pháp luật khác nhau nên gặp khó khăn khi thực hiện, một số quy định
chưa theo kịp thực tiễn đang diễn ra nhanh chóng, chưa điều chỉnh kịp thời các quan
hệ xã hội phát sinh. Một số văn bản pháp luật đề cập đến mua lại, sáp nhập nhưng
khái niệm về mua lại, sáp nhập còn chưa thống nhất. Mỗi luật điều chỉnh hoạt động
mua lại, sáp nhập từ một góc độ khác nhau theo chức năng của ngành luật, trong
từng trường hợp cụ thể thì áp dụng luật nào cũng là vấn đề đặt ra cần quan tâm
nghiên cứu [86], [89], [110].
Các luật ban hành có liên quan điều chỉnh chủ yếu về hoạt động mua lại, sáp
nhập đối với doanh nghiệp, chưa đề cập đến trường hợp doanh nghiệp đặc biệt là
ngân hàng. Luật các TCTD là văn bản pháp lý cao nhất của ngành ngân hàng điều
chỉnh đối với các TCTD chưa quy định cụ thể về mua lại, sáp nhập, chỉ gọi chung là
tổ chức lại TCTD dưới hình thức chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình
thức pháp lý nhưng không có quy định cụ thể. Điều chỉnh trực tiếp hoạt động mua
lại, sáp nhập ngân hàng hiện tại là Thông tư 04/2010/TT-NHNN. Các quy định điều
chỉnh việc mua lại, sáp nhập ngân hàng chủ yếu hướng tới việc khuyến khích các
ngân hàng tự nguyện sáp nhập, hợp nhất, quy định những ngân hàng yếu kém phải
bị buộc mua lại, sáp nhập còn chưa đủ mức chế tài [89]. Thông tư 04/2010/TTNHNN chỉ đề cập các nội dung liên quan đến trình tự, thủ tục, điều kiện, hồ sơ sáp
nhập… Những nội dung quan trọng khác như định giá ngân hàng, cách thức phân
chia quyền và nghĩa vụ của các bên, các vấn đề về nhân sự, các vấn đề hậu sáp
nhập… không được đề cập trong Thông tư. Điều này dẫn đến tình trạng là đã có hành
lang pháp lý nhưng khó thực hiện bởi nhiều quy định còn chung và thiếu. Do đó nếu
muốn tiến hành mua lại, sáp nhập, các ngân hàng phải tự tìm hiểu, học hỏi kinh
nghiệm từ các thương vụ mua lại, sáp nhập ngân hàng đã thực hiện ở trong nước và

20


trên thế giới [56].
Thủ tục cho việc mua lại, sáp nhập hiện tại được cho là khá phức tạp và phải
được phép của nhiều cơ quan khác nhau. Ngoài ra, còn một số nhân tố cản trở tiến
trình thực hiện mua lại, sáp nhập ngân hàng như đối tượng mua lại, sáp nhập còn
hẹp; hạn chế trong việc chuyển đổi doanh nghiệp sau mua lại, sáp nhập; các chế tài
liên quan đến các quy định đánh giá năng lực quản trị, năng lực tài chính đối với các
NHTM Việt Nam chưa nghiêm và chưa cao; định giá trong hoạt động mua lại, sáp
nhập ngân hàng rất khó do thiếu các kỹ thuật, kinh nghiệm cần thiết; thông tin liên
quan đến hoạt động mua lại, sáp nhập chưa thực sự minh bạch; vấn đề bảo mật; các
nghĩa vụ tài chính, người lao động, thương hiệu, cơ chế giải quyết tranh chấp chưa
được quy định cụ thể; thiếu các công ty môi giới và tư vấn chuyên nghiệp về mua
lại, sáp nhập; các quy định hiện hành về cách tính thị phần của TCTD còn chưa hợp
lý; các quy định về tập trung kinh tế giữa một NHTM và một TCTD phi ngân hàng
chưa cụ thể. Hiện còn tồn tại tình trạng không thống nhất về cơ sở tính toán mức độ
tập trung trong ngân hàng giữa Luật cạnh tranh và Nghị định hướng dẫn. Các quy
định về mua lại, sáp nhập hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc xác định hình thức của
giao dịch mà còn thiếu các quy định cụ thể để thực hiện. Hoạt động mua lại, sáp nhập
ngân hàng liên quan đến nhiều ban ngành nhưng còn chưa rõ quy trình tiếp nhận, xử
lý các NHTM yếu kém. Về quản lý hoạt động này, các tác giả cũng có chung nhận
định là văn bản pháp luật quy định nhiều cơ quan đang quản lý khác nhau như Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, NHNN, Bộ Tài chính, Bộ Công thương…[53], [56], [63].
Theo quy định của Luật các TCTD, NHNN có quyền góp vốn, mua cổ phần
bắt buộc của TCTD bị kiểm soát đặc biệt hoặc yêu cầu các TCTD sáp nhập, hợp
nhất bắt buộc nhằm bảo đảm an toàn hệ thống TCTD. Thông tư số 07/2013/TTNHNN ngày 14/3/2013 của NHNN quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với
TCTD đã tạo lập cơ chế để NHNN thực hiện vai trò của mình trong việc buộc các
TCTD sáp nhập, hợp nhất và bán cổ phần bắt buộc. Tuy nhiên, hiện nay Thông tư
04/2010/TT-NHNN của NHNN còn bỏ ngỏ nội dung mua lại, sáp nhập bắt buộc
TCTD. Các quy định pháp luật được cho là chưa đủ cơ sở pháp lý vững chắc để nhà
nước can thiệp, xử lý một số NHTM yếu kém thông qua mua lại, sáp nhập nhằm
tránh đổ vỡ hệ thống, ổn định kinh tế vĩ mô [59].

21


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×