Tải bản đầy đủ

tiểu luận gia đình và giải pháp

LỜI CẢM ƠN


LỜI MỞ ĐẦU
Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan
trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy
văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục
vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển với
những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn hoá dân tộc. Những
giá trị truyền thống quý báu như lòng yêu nước, yêu quê hương, hiếu nghĩa, hiếu
học, thuỷ chung, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, cần cù và sáng tạo trong lao động,
bất khuất kiên cường vượt qua mọi khó khăn thử thách đã được gia đình Việt Nam
gìn giữ, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước.
Qua các thời kỳ, cấu trúc và quan hệ trong gia đình có thay đổi, nhưng những chức
năng cơ bản của gia đình vẫn tồn tại và gia đình vẫn là một nhân tố quan trọng,
không thể thiếu trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã
hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã
hội là gia đình". Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Đảng và Nhà nước quán triệt trong
Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng và trong các bộ luật liên quan, với các nội dung

hướng tới việc củng cố vị trí, vai trò và chức năng của gia đình trong sự nghiệp phát
triển kinh tế-xã hội đất nước.
Xây dựng và triển khai Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam là một yêu
cầu khách quan và cấp bách nhằm tăng cường năng lực và phát huy mọi khả năng
của gia đình tham gia vào sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.


A. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH

VIỆT NAM HIỆN NAY

1: Sự tác động của toàn cầu hóa đối với gia đình và văn hóa gia đình
a) Sự tác động

Những biến đổi của gia đình Việt Nam thời gian qua đang tạo ra những băn
khoăn, lo lắng cho không ít người về sự tác động của toàn cầu hóa đối với gia đình
và văn hóa gia đình. Tuy nhiên, các nghiên cứu về gia đình cho thấy, mặc dù có
những vấn đề cần đặc biệt quan tâm và sớm có giải pháp điều chỉnh, nhưng những
biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay vẫn trong khung cảnh tôn vinh và làm mới
những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, tiếp nhận một cách chủ động những giá
trị văn hóa của gia đình hiện đại.


Vào những năm đầu đổi mới, “mở cửa”, với sự tác động mạnh mẽ của cơ chế
thị trường và sự du nhập ồ ạt lối sống, phương thức sinh hoạt của xã hội phương Tây
vào nước ta, trên các phương tiện thông tin đại chúng và diễn đàn khoa học, không ít
người đã lên tiếng báo động về nguy cơ “khủng hoảng” của gia đình Việt Nam. Sự
lo ngại ở thời điểm ấy không phải không có cơ sở. Tuy nhiên, cho đến nay, sau 20
năm đổi mới, gia đình Việt Nam không những không bị khủng hoảng mà ngày càng
được củng cố và phát triển. Đó là một thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới
do Đảng ta lãnh đạo.
Vào thời điểm hiện nay, con người Việt Nam vẫn coi hôn nhân là sự kiện
trọng đại, thiêng liêng và gia đình là phương thức sinh sống quan trọng nhất của hầu
như tất cả mọi người. Gia đình là một thiết chế xã hội. Nó là sản phẩm của lịch sử.
Vì thế, gia đình bị quy định bởi điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tôn
giáo… của một xã hội nhất định. Qua gia đình, chân dung của xã hội hiện ra một
cách sinh động và toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, tư tưởng, tôn
giáo, lối sống, phong tục, tập quán và tín ngưỡng… Gia đình là một nhóm xã hội
đặc biệt được hình thành một cách tự nhiên bởi quan hệ hôn nhân và huyết thống,

mọi thành viên cùng chung sống và có chung ngân sách.
Mặc dù chịu tác động nhiều chiều của cơ chế thị trường và toàn cầu hóa,
nhưng hiện tại, gia đình Việt Nam vẫn là một giá trị bền vững và có sức sống mạnh
mẽ. Nó vẫn là nền tảng, là tế bào của xã hội. Với tư cách là đơn vị kinh tế, đơn vị
tiêu dùng của xã hội, một mặt, gia đình trực tiếp tham gia thúc đẩy sự phát triển của
các quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông của đời sống kinh tế; mặt khác, là nơi
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, nương tựa của mỗi con người trong suốt cuộc đời.
Gia đình cũng là nơi lưu giữ, truyền thụ, chuyển giao và phát huy những giá trị văn
hóa truyền thống quý báu của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Gia đình Việt Nam đang trong bước chuyển đổi từ truyền thống sang hiện đại
trên nhiều phương diện và xu hướng khác nhau, cả tích cực và tiêu cực. Đó là sự


biến đổi mang tính toàn diện cả về cơ cấu, các quan hệ, các chức năng và vai trò của
người phụ nữ trong gia đình.
b) Biến đổi trong cơ cấu gia đình

Sự biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay, trước hết, được thể hiện trong
biến đổi cơ cấu gia đình. Loại hình gia đình rất phong phú, nhưng gia đình hạt nhân
- loại hình gia đình tiên tiến, phù hợp với xã hội hiện đại - mang tính phổ biến. Quy
mô của gia đình rất đa dạng, nhưng số gia đình hai thế hệ chiếm tỷ lệ cao nhất với số
người trong gia đình trung bình là trên/dưới 4 người. Trong các mối quan hệ gia
đình, quan hệ hôn nhân về cơ bản do tình yêu của đôi nam - nữ quyết định. Hôn
nhân được sự đồng ý của cha mẹ, sự công nhận của pháp luật và được tổ chức cưới
theo nghi thức đời sống mới. Tuổi kết hôn của cả nam và nữ đều có xu hướng tăng
cao và sau khi kết hôn, đôi vợ chồng thường có nơi ở riêng và số con của mỗi cặp vợ
chồng đa số chỉ là trên/dưới 2 con. Mặc dù trong gia đình người đàn ông vẫn thường
được đề cao và cha mẹ vẫn có nhiều quyền uy với con cái nhưng nhìn chung, các
mối quan hệ trong gia đình hiện nay đã mang tính chất tự do, dân chủ và bình đẳng.
c) Biến đổi về chức năng gia đình

Gia đình Việt Nam hiện nay, về cơ bản, vẫn là mô hình gia đình truyền thống
đa chức năng. Các chức năng cơ bản của gia đình như: chức năng kinh tế; chức năng
tái sản xuất con người và sức lao động; chức năng giáo dục - xã hội hóa; chức năng
tâm - sinh lý, tình cảm… được phục hồi, có điều kiện thực hiện tốt hơn và có vai trò
đặc biệt quan trọng không chỉ đối với từng thành viên gia đình mà còn tác động
mạnh mẽ đến sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội đất nước. Chức năng của gia
đình được đề cao cũng có nghĩa gia đình đang có vai trò và vị thế quan trọng trong
đời sống kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
d) biến đổi về quyền bình đẳng


Bình đẳng giới trong gia đình là một nét mới trong biến đổi của gia đình Việt
Nam và đã thu hút sự quan tâm, đồng tình thực hiện của cả xã hội. Đó là người phụ
nữ ngày càng có vai trò quan trọng trong sản xuất, tái sản xuất, tiếp cận các nguồn
lực phát triển, các quyết định, các sinh hoạt cộng đồng và thụ hưởng các lợi ích,
phúc lợi gia đình; đồng thời, các thành viên gia đình và các dịch vụ xã hội cũng từng
bước chia sẻ gánh nặng công việc nội trợ gia đình đối với người phụ nữ, góp phần
thiết thực tạo điều kiện và cơ hội giúp phụ nữ phát huy mọi tiềm năng của mình
trong hội nhập và phát triển.
Trong bối cảnh đổi mới và toàn cầu hóa hiện nay, gia đình Việt Nam đã biến
đổi một cách toàn diện và ngày càng trở thành một thực thể hoàn thiện - năng động
phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội có nhiều biến động. Sự biến đổi ấy
chính là một quá trình liên tục bảo tồn, truyền thụ, phát huy những giá trị của gia
đình truyền thống; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc và cải biến những giá trị tiên tiến,
những tinh hóa của gia đình hiện đại. Có thể nói, gia đình Việt Nam hiện nay chính
là sản phẩm của sự hiện đại hóa các giá trị cao quý của gia đình Việt Nam truyền
thống và truyền thống hóa những giá trị, tinh hoa gia đình của các xã hội hiện đại.
e) Những giá trị truyền thống tốt đẹp

Những giá trị truyền thống quý báu của gia đình Việt Nam truyền thống vẫn
được bảo tồn và phát huy như: tình yêu lứa đôi trong sáng; lòng chung thủy, tình
nghĩa vợ chồng; trách nhiệm và sự hy sinh vô tận của cha mẹ với con cái; con cái
hiếu thảo với cha mẹ; con cháu kính trọng, biết ơn và quan tâm tới ông bà, tổ tiên;
tình yêu thương, chăm lo và đùm bọc anh em, họ hàng; đề cao lợi ích chung của gia
đình; tự hào truyền thống gia đình, dòng họ. Đồng thời, gia đình Việt Nam cũng tiếp
thu nhiều tinh hoa, giá trị tiên tiến của gia đình hiện đại như: tôn trọng tự do cá
nhân; tôn trọng quan niệm và sự lựa chọn của mỗi người; tôn trọng lợi ích cá nhân;
dân chủ trong mọi quan hệ; bình đẳng nam nữ; bình đẳng trong nghĩa vụ và trách
nhiệm; bình đẳng trong thừa kế; không phân biệt đối xử đẳng cấp, thứ bậc giữa con


trai và con gái, giữa anh và em... Đó chính là cùng với những đặc trưng của gia đình
truyền thống được phát huy, gia đình Việt Nam hiện nay đang được củng cố và xây
dựng theo xu hướng hiện đại hóa: dân chủ, bình đẳng, tự do và tiến bộ.
f) Nguy cơ và thách thức
Tuy nhiên, cùng với những cơ hội và những điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát
triển tiến bộ, gia đình Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức trong
bối cảnh toàn cầu hóa nhiều biến động và bất trắc: đó là tình trạng ly hôn có xu hướng tăng
cao; sống chung không kết hôn; tình trạng trẻ em nghiện hút; tệ nạn mại dâm; tình dục
đồng giới; trẻ em lang thang; buôn bán phụ nữ qua biên giới; bạo lực trong gia đình; bất
bình đẳng giới; ngoại tình; xu hướng đề cao tiền bạc trong quan hệ giữa người và người...
đang tấn công vào gia đình từ nhiều phương diện khác nhau.


1. Trình trạng đổ vỡ gia đình

a. Trình trạng
Trên thế giới, tình trạng các gia đình bị đổ vỡ chưa bao giờ lên cao như hiện
nay. Tại nhiều nước Âu Châu, tỷ lệ các gia đình bị tan vỡ lên đến trên 50%. Tại Á
Châu nói chung và ở Việt Nam nói riêng, tỷ lệ các gia đình đổ vỡ cũng đang ngày
càng tăng lên một cách đáng lo ngại. Vì thế, nhiều thanh niên thiếu nữ đã phải băn
khoăn rất nhiều trước ngưỡng cửa hôn nhân, lo sợ cho tương lai cuộc đời mình. Để
chắc ăn hơn, ở Âu Châu người ta đành chấp nhận giải pháp “hôn nhân thử”, hay
sống chung không hôn nhân, xu hướng này cũng đã manh nha trên quê hương Đất
Việt chúng ta.
Những cuộc hôn nhân đổ vỡ cũng như những cuộc sống chung không hôn
nhân dẫn đến những bất lợi to lớn, không chỉ cho các cặp vợ chồng bị tan vỡ, mà


chủ yếu cho những đứa trẻ được sinh ra từ đó. Trong bao nhiêu thế kỷ trước đây, gia
đình là cái nôi phát sinh và dưỡng nuôi sự sống. Nhưng hiện nay, ngay trong môi
trường gia đình, những mầm sống mới phát sinh, dù còn là bào thai hay đã sinh
thành người, đã bị coi là những tai họa, những mối nguy gây ra khó khăn hay bất lợi
cho những người đã từng có mặt trong gia đình. Nhiều gia đình đã trở thành một nơi
đề phòng, ngăn ngừa, giết chóc các mầm sống mới phát sinh. Môi trường gia đình
ngày nay, đối với nhiều người, không còn là một tổ ấm yêu thương, trong đó mọi
thành viên cảm thấy được yên ổn, thoải mái, hạnh phúc, các trẻ em được bảo đảm
hưởng một nền giáo dục lành mạnh, giúp chúng phát triển tốt. Trái lại, gia đình
nhiều khi trở nên một tù ngục trong đó người ta giam hãm nhau, làm khổ nhau mà
không làm sao thoát ra được. Thay vì là thiên đàng, gia đình đã trở thành một hỏa
ngục.
b. Hậu quả: Hậu quả thực trạng đỗ vỡ nơi các gia đình hiện nay

Hậu quả của những cuộc đổ vỡ nơi các gia đình làm các gia đình càng ngày
càng bị đe dọa và lung lay từ nền tảng. Điều đó được thấy rất rõ qua những con số
thống kê mà thường ngày ta gặp thấy. Các thống kê cho biết:
Số các gia đình bị đổ vỡ, đi đến ly dị ngày càng gia tăng, mà nguyên nhân rất
đa dạng (bất hòa, quan điểm hay tính tình bất đồng, hoàn cảnh khó khăn, thiếu hiểu
biết và không được chuẩn bị sống đời hôn nhân, không có đời sống nội tâm, hoặc
những tật xấu như uống rượu, cờ bạc, thích cằn nhằn, không chung thủy…).
Số các cặp trai gái sống với nhau không hôn nhân, hoặc tiền hôn nhân ngày
càng gia tăng, trong đó tỷ lệ của các em còn đi học, của những người vị thành niên
khá cao. Quan hệ tính dục ngoài hôn nhân cũng gia tăng.
Số người phá thai tại các bệnh viện cũng gia tăng vừa theo con số vừa theo tỷ
lệ, mà nguyên nhân là không tự chủ và không biết cách tránh thụ thai (một cách hợp
pháp hoặc không hợp pháp). Thống kê cho biết mỗi năm trên thế giới có khoảng
19.000.000 ca nạo phá thai không an toàn, dấn tới cái chết của 68.000 thai phụ. Việt
Nam là một trong ba nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới. Thống kê của Hội


kế hoạch hoá gia đình Việt Nam cho biết, có khoảng 20% số thanh thiếu niên tìm
đến dịch vụ nạo phá thai. Thành phố HCM có số ca nạo phá thai cao gấp đôi so với
ca sinh (140.000 ca phá thai, 70.000 ca sinh).
Rất nhiều gia đình sống không hạnh phúc. Sự thất bại trong hôn nhân ngày
càng cao. Nguyên nhân có thể vì không được chuẩn bị đầy đủ những hiểu biết và sự
tập luyện những đức tính cần thiết cho đời sống hôn nhân.
Việc giáo dục trẻ em trong các gia đình cũng bị thất bại. Số trẻ em hư hỏng
(xì ke, ma túy, sa lầy vào chuyện yêu đương, tình dục quá sớm…) cũng gia tăng.
Nguyên nhân vì cha mẹ không quan tâm đủ, hoặc không dành thì giờ để giáo dục
con cái, hoặc không biết cách giáo dục con cái thế nào.
2. Tuổi kết hôn cao: trung bình lần đầu của cả nam lẫn nữ có xu hướng được

nâng cao lên (nghĩa là họ kết hôn ở lứa tuổi cao hơn), tình trạng tảo hôn lại
vẫn phổ biến ở một số vùng nhất là khu vực miền núi. Thật là một nghịch lý.
Chỉ trong một kỳ làm điều tra dân số với khoảng cách 10 năm, tuổi nam kết
hôn lần đầu đã biến đổi từ 24,5 tuổi lên 25,5 tuổi và của nữ là từ 23,2 tuổi lên 24
tuổi. Bằng vào quan sát xã hội, chúng ta ai cũng nhận thấy cả nam và nữ thanh niên
đều không hề vội vã bước vào đời sống hôn nhân, đã xuất hiện một tâm lý ngại
ngùng khi lập gia đình bởi những vấn đề xã hội tiềm ẩn trong đó, hơn nữa và đây
mới là một thực tế: họ cần có một căn bản nghề nghiệp vững chắc, một tương lai mà
họ chủ động hướng tới, một sự bình đẳng nam nữ được thiết lập trên cơ sở chủ động
về kinh tế chứ không phải là sự thúc ép của việc có gia đình khi vừa bước qua tuổi
vị thành niên như trước nữa.
Thế nhưng với đồng bào dân tộc thiểu số, sự trưởng thành về mặt sinh lý
đồng nghĩa với tuổi lấy vợ lấy chồng. Cũng phải nói thêm rằng Luật Hôn nhân và
Gia đình đến với họ là rất hạn chế. Trong một điều tra 37% người được hỏi đã trả lời
chưa từng biết đến Luật Hôn nhân, 63% trả lời có nghe nói nhưng không biết Luật
quy định những gì, và 46,71% coi chuyện tảo hôn là bình thường.


3. Hàng triệu cuộc hôn nhân không đăng ký: Chưa đăng ký kết hôn có nghĩa là

cuộc hôn nhân đó không có tính pháp lý. Hiện tượng sống chung đang là một
hiện tượng xã hội xuất hiện trong khu vực sinh viên, công nhân ở các khu
công nghiệp tập trung, và ở các đô thị. Nhóm hôn nhân nào mà sự chung
sống của họ được họ hàng, cộng đồng thừa nhận thì được gọi là hôn nhân
thực tế. Nhóm hôn nhân nào chưa được họ hàng, cộng đồng thừa nhận thì gọi


chung

sống

trước

hôn

nhân.

Điều không rõ ràng này là một thực tế sẽ còn tồn tại khá dài và cũng chưa thể
nói ngay rằng nó sẽ vận động như thế nào trong tương lai. Ðó là vấn đề thứ
hai của gia đình Việt Nam hiện đại. Nó liên quan đến vấn đề thứ ba là quan
hệ tình dục trước hôn nhân. Vấn đề này liên quan đến sức khỏe và lối sống vị
thành

niên.

Hiện tượng chung sống trước hôn nhân xuất hiện nhiều ở giới trẻ sống xa gia
đình. Hiện tượng này đang gia tăng cho thấy gia đình đang mất dần chức
năng kiểm soát tình dục. Việt Nam là một trong 5 nước có tỷ lệ phá thai cao
nhất thế giới. Hàng năm có chừng 1,4 triệu ca.
Một điều tra cho biết: 22,2% thanh niên chưa lập gia đình đã có quan hệ tình
dục, 21,5% nam thanh niên đã có quan hệ tình dục với gái mại dâm; 30% ca nạo phá
thai là nữ chưa lập gia đình.
4. Tỷ lệ ly hôn tăng cao

Một vấn đề khác nữa cũng đáng báo động: Số vụ ly hôn tăng lên nhanh qua
các năm, đặc biệt là tại các thành phố lớn. Tỷ lệ ở góa, ly hôn, ly thân là 2,7% đối
với nam và 13% đối với nữ. Các nguyên nhân dẫn đến ly hôn là mâu thuẫn về kinh


tế, mất tích, một bên ở nước ngoài, hoặc bị xử lý hình sự, hoặc có vợ lẽ, hoặc không
có con, hoặc bị lừa dối...
Các gia đình VN trong thời hiện đại này đang đứng trước những thách thức
của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Các gia đình có chút tiền của muốn "hoà
nhập" nhanh, muốn cho con đi du học nước ngoài, hoặc xin bằng được vào những
ngành nghề cao giá, và vì vậy, càng phải tìm mọi cách kiếm được nhiều tiền hơn.
Quan niệm về đồng tiền và cách kiếm tiền cũng dễ làm tan vỡ mỗi gia đình
khi họ không thống nhất quan điểm, hoặc xảy ra sự chênh lệch thu nhập, coi thường
khả năng kiếm tiền của nhau.
Để lý giải điều này, có người cho rằng hiện nay ý thức cá nhân được đề cao,
chủ nghĩa cá nhân ích kỷ có đất phát triển, thêm vào đó là lối sống thực dụng, được
sự tiếp sức đắc lực của phim ảnh, Internet, văn hoá nước ngoài... đã tràn lan.
"Chủ nghĩa độc thân" ở nước ta cũng bắt đầu lây lan, nhất là ở thành thị, trai
gái sống thử nghiệm trước hôn nhân, cha mẹ không gần gũi con cái, và tất nhiên con
cái cũng trở nên xa cách với cha mẹ và càng xa cách hơn với ông bà.
Người đàn ông không còn là trụ cột lao động chính trong gia đình, khi ai
cũng có thể kiếm được thu nhập và chủ động hơn trong kinh tế. Từ đó sinh ra
chuyện "ông ăn chả, bà ăn nem", lấy nhau cũng nhanh mà ly hôn cũng lẹ.
Chỉ cần phát hiện vài tin nhắn "khả nghi" hay mấy địa chỉ "meo" đáng ngờ là
có quyền đâm đơn ly dị. Chuyện "chán cơm thèm phở" xảy ra. Lại thêm đủ kiểu
"meo và chát" chắp nối cho "những lời có cánh" bay cao bay xa, làm họ quên đi
những năm tháng dưa cà mắm muối bên nhau.
Ly hôn đã trở thành một thực tế hiển nhiên luôn tồn tại trong đời sống hôn
nhân và gia đình. Nhưng làm sao để kết thúc cuộc hôn nhân cho “có hậu”, làm sao
để con trẻ không bị thiệt thòi, bất hạnh và được nuôi dạy tốt?


Nhiều nghiên cứu khoa học về hôn nhân và gia đình ở VN cho thấy ly hôn, ly
thân có xu hướng tăng lên cùng với đà phát triển của xã hội đương đại.
Qua thực tiễn, số ca tư vấn về ly hôn chiếm 70% tổng số ca tư vấn về Luật
Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân của việc ly thân, ly hôn có thể nói ngắn gọn là
“không hợp nhau”.

Nhưng cụ thể thì vô cùng đa dạng: do ngoại tình, kinh tế khó khăn, vợ chồng
ít quan tâm tới nhau, bất đồng quan điểm, tính cách, lối sống; chưa thông cảm với
nhau trong công việc, cách làm ăn; không hòa hợp về tình dục; bất đồng trong cách
nuôi dạy con; một bên vô sinh, phát hiện bệnh tật.
Trong thực tiễn cuộc sống còn đầy rẫy những nhận thức sai lầm, lệch lạc, vô
trách nhiệm của người trong cuộc khi quyết định ly hôn.
Ly hôn là hết, là chấm dứt tất cả : Vì vậy, họ thiếu trách nhiệm đối với con,
không hợp tác với nhau để nuôi dạy con tốt. Chẳng hạn như người không trực tiếp
nuôi con không tới lui thăm nom, chăm sóc, không cấp dưỡng nuôi con. Bên nuôi
con thì cố tình gây khó, cản trở hoặc cấm người kia tới lui thăm nom, chăm sóc con
chung.


Cá biệt có một vài trường hợp xin được xóa họ tên cha trong khai sinh trẻ, đổi
từ họ cha sang họ mẹ để mong sao “nó” mất gốc luôn.
Đổ lỗi, kể tội “đối phương”: Nhiều người sau khi ly hôn vẫn còn thù hằn
hoặc cay cú người đã gây đau khổ cho mình nên thường đổ lỗi, kể tội “đối phương”
cho con nghe. Hoặc là họ nói “cho bõ ghét” vô tình tác động xấu đến trẻ.
Có người còn gieo vào tâm trí trẻ hình ảnh xấu xa, lệch lạc về người cha,
người mẹ đã sinh ra chúng, họ cố tình làm cho con quên đi hình ảnh của người kia.
Giành nuôi con chỉ là hình thức: Khi ra tòa ly hôn, ai cũng tỏ ra mình là
người tốt, quan tâm, lo lắng, chăm sóc cho con, tranh chấp về con rất gay gắt; họ tìm
đủ mọi cách để chứng minh rằng mình thương con, có đầy đủ điều kiện để nuôi con,
ngược lại họ nói xấu “người kia” như là để khẳng định ưu thế của mình, thế nhưng
khi giành được quyền nuôi con thì họ bỏ bê, không chăm sóc. Hoặc có người biết là
“người kia” có khó khăn nên lập luận như là một sự thách thức: “Cứ để tôi nuôi, tôi
không yêu cầu cấp dưỡng gì cả; còn nếu giành nuôi thì tự nuôi, tôi không chu cấp gì
cả”.
Cấp dưỡng, chỉ là hứa suông, cho qua chuyện: Thực tiễn xét xử đã cho
thấy có nhiều người (chủ yếu là người chồng), khi ly hôn thì sốt sắng, hứa sẽ cấp
dưỡng nuôi con đầy đủ hàng tháng.
Thế nhưng khi có quyết định ly hôn thì họ cứ trì hoãn hoặc lẩn tránh việc này.
Có người thì cấp dưỡng theo kiểu “đầu voi đuôi chuột”, có người thì “nhỏ giọt” ba
cọc ba đồng, chẳng thấm vào đâu trong khi nhu cầu sinh hoạt, ăn ở, học hành của
con ngày một tăng cao.
Tự ti, mặc cảm không nhận sự cấp dưỡng của người kia: Chỉ vì tự ti, mặc
cảm, vì thù ghét, vì cho là “nhỏ mọn” nên họ “không thèm” nhận sự chu cấp của
người kia, mặc dù họ đang khó khăn. Mặt khác, cũng có những người quan niệm:


“Không có anh mẹ con tôi cũng có chết đâu” nên dù có “cạp đất mà ăn” họ cũng
không đòi hoặc nhận sự chu cấp. Hậu quả là con trẻ “lãnh đủ” sự thiệt thòi.
Dùng “khổ nhục kế” né tránh cấp dưỡng: Có một số trường hợp người cha
dùng “khổ nhục kế” để né tránh việc cấp dưỡng nuôi con, như là: tại thời điểm ly
hôn, xin thôi việc hoặc ngưng việc làm, để coi như thất nghiệp hoặc không có thu
nhập thì không phải cấp dưỡng nuôi con; hoặc là họ chỉ khai mức lương cơ bản, mọi
khoản thu nhập khác họ “giấu nhẹm” hết.
Đối với những người làm chủ như: doanh nghiệp tư nhân hoặc cá nhân, cơ sở
kinh doanh khác thì “phù phép” để chứng minh rằng doanh nghiệp làm ăn thất bại,
thua lỗ, nợ nần.
Một khi cuộc hôn nhân đã đến hồi kết thúc, hãy khoan nghĩ đến mình mà
trước tiên cần nghĩ đến những đứa trẻ, kết quả của cuộc hôn nhân. Để rồi cha mẹ dù
có ly hôn con trẻ vẫn được sống trong tình thương yêu, sự chăm sóc đùm bọc của cả
cha lẫn mẹ để giảm thiểu thiệt thòi cho con.


5. Bạo lực trong gia đình

Bạo lực gia đình (BLGĐ) giờ đây không còn bó gọn trong từng nhà, từng
nơi mà đã trở nên mối lo của toàn xã hội. Tuy nhiên, sẽ là sai lầm khi nói BLGĐ
là những trò vũ phu, mà nạn nhân là người phụ nữ. Càng sai lầm hơn khi đơn
giản nghĩ rằng nguyên nhân xuất phát từ một phía
Bạo lực gia đình không chỉ là bạo lực giữa vợ chồng: Trước tiên ai cũng
nghĩ rằng BLGĐ là bạo lực giới giữa nam giới gây ra cho phụ nữ và đương nhiên đó
là quan hệ bạo lực giữa vợ với chồng. Theo thống kê gần đây cho thấy có khoảng 910% trường hợp hàng xóm nghe thấy tiếng đánh đấm và người la hét kèm theo tiếng
uất nghẹn, lúc được lúc mất kiểu như: “chết mày chưa? Cho mày chừa thói hung
hăng hiếp đáp người khác…”.
Khi sang can ngăn hàng xóm mới tá hỏa nạn nhân là... chồng. Điều đó có
nghĩa là trong đa số vụ việc BLGĐ do chồng gây cho vợ, thì cũng có những trường


hợp ngược lại tuy không phải là nhiều. Vợ chồng xô xát nhau đã đành, nhưng trong
một gia đình Việt Nam với nhiều thế hệ sống chung thì đương nhiên cũng sẽ xảy ra
nhiều mối xung đột đan xen khác như Ông - Bà, Ông bà - Con cháu, cha mẹ với con
cái.
Khi nền kinh tế thị trường phát triển nó cũng kéo theo nhiều mối quan hệ về
tài sản được qui ra thành hàng hóa như nhà cửa, đất đai. Chính vì mối liên hệ về
huyết thống và tài sản được thừa kế mà các mối quan hệ này trong gia đình cũng
phát sinh mối xung đột (nếu trong gia đình không có một nếp sống tốt – con cháu
kính trọng ông bà, cha mẹ và ông bà, cha mẹ là tấm gương để con cháu noi theo).
Người ta đã từng chứng kiến những cảnh đau lòng khi vì lợi ích kinh tế mà
con đưa cha mẹ, cháu đưa ông bà ra tòa vì tranh chấp đất đai. Nếu vụ việc không
giải quyết thấu đáo thì BLGĐ xẩy ra, nó phá tan luân thường đạo lý: Con cái đánh
lại cha mẹ, cháu đánh lại ông bà…
Còn một khía cạnh khác cũng góp phần nảy sinh xung đột ngược: Đó là một
bộ phận thanh thiếu niên hư hỏng, sa đọa vào con đường nghiện ngập, lại không tự
làm ra tiền để thỏa mãn những cơn nghiện. Do đó, mới đầu thì chỉ là hành vi: “chà
đồ nhôm”, nhưng khi gia đình cảnh giác giữ gìn đồ vật, thì trong gia đình xảy ra
chuyện xin tiền cha mẹ, xin không được thì ăn vạ rồi đến mức bạo lực để có được
tiền.


Thử tìm nguyên nhân về bạo lực giữa vợ chồng: Nguyên nhân bạo lực
trong gia đình không hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ học vấn. Tuy nhiên ở những
gia đình có học vấn tương đối cao, xung đột gia đình có thể được che đậy hoặc
chuyển theo một hướng khác, không kém phần quyết liệt nhưng ít bạo lực.
Quan niệm thường cho rằng do người chồng vũ phu nên mới xảy ra BLGĐ.
Điều đó chỉ đúng một phần. Nguyên nhân có thể từ một hướng khác. Đó là cặp vợ
chồng đã không tuân thủ theo lời chỉ dẫn của ông bà: “Chồng giận, thì vợ bớt lời
…”. Người vợ sẽ thật sai lầm nếu không là chỗ dựa về tinh thần cho chồng.
Trong quan hệ công tác, làm ăn, người đàn ông không phải lúc nào cũng
được thuận buồm xuôi gió. Những lúc như vậy, người ta rất cần sự an ủi, vỗ về động
viên nơi người vợ. Thật đáng buồn trong những khó khăn nhất đó, thay vì tìm lời an
ủi động viên, vợ lại so sánh chồng mình với một người thành đạt khác rồi quay sang
trì triết người chồng. Điều đó chỉ làm cho người chồng: Một là tìm nơi an ủi khác dù
là tạm bợ, hai là phản ứng lại bằng tay chân.
Nguyên nhân xuất phát từ hạnh phúc gia đình cũng chiếm một phần không
nhỏ. Khi “cơm không lành, canh không ngọt”, hạnh phúc gia đình bị tan vỡ, nhiều
cặp vợ chồng đã tìm đến giải pháp nói chuyện với nhau bằng tay chân.
Một lý do nữa mà người đàn ông Á Đông hay mắc phải đó là tính gia trưởng.
Chỉ một xúc phạm nhỏ do người vợ gây nên, hoặc những đòi hỏi vô lý không được
đáp ứng, một số đàn ông trong gia đình tự cho mình cái quyền dạy vợ bằng tay.
Đó là chưa nói đến tính ích kỷ số 1 ở người chồng trong gia đình. Người
chồng tự cho mình vị trí độc tôn sở hữu vợ, nên quyền này được họ vận dụng triệt
để. Chỉ một sơ xuất, chỉ một sự hiểu lầm do người vợ gây ra, nếu không tỉnh táo
người đàn ông sẽ có cớ để đẩy sự việc đến xô xát.


Đàn ông đánh vợ bị thiên hạ gọi là “Vũ phu”. Mà những thành viên CLB Vũ
phu thường là đệ tử của lưu linh. Chưa có thống kê của xã hội xem tỷ lệ những ông
chồng đi nhậu xong về đánh vợ là bao nhiêu, nhưng đa số các vụ xô xát này đều
thấy các ông chồng có hơi men. Có thể vì bê tha nên vợ con từ chối, vì thế người
chồng thấy mình là nhân vật thừa trong gia đình nên không kiềm chế được thì đánh.
Nhưng không ít các ông chồng mượn rượu để đánh vợ, vì trước đó những
xung đột lúc tỉnh táo không được giải quyết thấu đáo. Đàn ông vũ phu, còn phụ nữ
đánh chồng thì gọi là gì ? “Vũ thê” được chăng. Tỷ lệ 9 -10% chị em trong các gia
đình “dạy chồng” bằng roi thì đa số các ông chồng ấy hoặc là có tật đèo bồng, hoặc
là vị thế kinh tế trong gia đình đã không có mà còn mang nhiều tật xấu. Chắc chẳng
có người vợ nào đánh chồng vì sống chuẩn mực, hết lòng vì vợ con và lại là trụ cột
trong gia đình.
BLGĐ, mà trước hết bạo lực giới (giữa vợ chồng) sẽ có nguy cơ tăng khi mà
dư luận xã hội không lên án gay gắt. Tình trạng người dân đô thị ngày càng sống
khép kín, không quan tâm đến hàng xóm láng giềng đã tạo ra sự cô lập giữa các gia
đình. Đó chính là thế giới riêng của bạo lực mà không sợ bị lên án.
Sự bình đẳng giới là một xu thế tất yếu cho một xã hội tiến bộ, nhưng nhiều
người chồng không chấp nhận vấn đề này, hoặc có những người vợ đã luôn đi trước
thời đại mà phát huy sự bình đẳng hết mức, nếu không nói là quá mức.
Nhân ngày quốc tế về bạo lực gia đình 25-11, mong rằng trong mỗi chúng ta
cần có sự nhìn nhận nghiêm túc về tình trạng này để có tiếng nói chung nhằm hạn
chế và đi đến triệt tiêu nó. Xóa đói nghèo và nâng cao trình độ dân trí là phương
thức hữu hiệu nhất chống BLGĐ.
Chúng ta cũng đang đối mặt với một thực tế khác: Bạo lực trong gia đình. Và
đó là nguyên nhân lý giải vì sao phần nhiều phụ nữ là người đứng đơn xin ly hôn.
Bạo lực trong gia đình rất đa dạng: bạo lực thể chất và bạo lực tinh thần. Ngăn chặn


việc này bằng vào giáo dục là chưa đủ, mà phải có sự kiểm soát của pháp luật
nghiêm khắc. Việc này chúng ta chưa làm được là bao.
Ở nước ta hiện chưa có số liệu thống kê chính xác và đầy đủ về các trường
hợp bạo hành gia đình nhưng theo nhiều nghiên cứu liên quan đến bạo lực gia đình
thì ở Việt Nam, bạo lực gia đình đã và đang xảy ra ở mọi vùng miền từ nông thôn
đến thành thị, mọi gia đình có mức thu nhập khác nhau.
Nguyên nhân căn bản nhất, sâu xa nhất dẫn đến tình trạng này xuất phát từ tư
tưởng trọng nam, coi thường nữ được truyền từ thế hệ hệ này sang thế hệ khác.
Người phụ nữ phải chăm lo và duy trì cho tổ ấm và trong các mối quan hệ gia đình,
người phụ nữ luôn luôn phải phục tùng nam giới.
Bạo lực gia đình là một trong những nguyên nhân đầu tiên làm gia đình tan
vỡ. Cũng theo cuộc khảo sát này cho thấy, khi trẻ em chứng kiến cảnh bạo lực gia
đình của bố mẹ thì 85,4% luôn có tâm trạng buồn phiền và lo sợ, 20% sợ hãi, 8,5%
không hiểu được bố mẹ và 4,2% không tôn trọng bố mẹ. Thậm chí có 5,5% có mong
ước muốn bỏ nhà để thoát khỏi tình trạng chứng kiến cảnh bạo lực hàng ngày.
Bạo lực gia đình đang là vấn đề được dư luận quan tâm sâu sắc. Đây là một
dạng tệ nạn xã hội gây hậu quả ở nhiều mức độ lên đời sống gia đình và xã hội, ảnh
hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân. Trường hợp nhiêm trọng, bạo lực gia
đình là tác nhân gây ra những hậu quả tai hại về cuộc đời, nhân cách của con người,
gián tiếp tạo nên mầm mống các tệ nạn và tội phạm nguy hiểm khác trong xã hội.


Bạo lực gia đình không phải là vấn đề mang tính địa phương mà là một vấn
nạn toàn cầu, ở đâu cũng có, từ các nước nghèo, đang phát triển cho đến giàu có,
phát triển cao độ. Mọi gia đình thuộc mọi tầng lớp của xã hội đều có thể gặp phải tệ
nạn này. Đối tượng của các hành vi bạo lực trong gia đình thường là những thành
viên yếu đuối, dễ bị tổn thương và trong hầu hết các trường hợp là phụ nữ, người già
và trẻ em.

Bạo lực trong gia đình tồn tại dưới nhiều hình thức, từ việc sử dụng sức lực,
vật dụng để đánh đập gây thương tích, tổn hại về thể chất cho các thành viên khác;
dùng quyền lực để kiểm soát, khống chế, cấm đoán các thành viên khác về nhiều
mặt; cưỡng bức trong quan hệ tình dục, nhất là ép buộc người phụ nữ làm những
việc liên quan đến tình dục trái với mong muốn của họ; dùng lời nói nhục mạ, chửi
mắng, đe dọa hoặc có hành vi ruồng rẫy, bỏ rơi, không quan tâm lẫn nhau cho đến
cố tình đập phá, làm hư hỏng tài sản chung; tiêu xài hoang phí không nhằm mục
đích phục vụ đời sống gia đình, … đều ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe, tâm lý, tình
cảm của mỗi cá nhân. Đặc biệt, đối với trẻ em bạo lực còn ảnh hưởng nghiêm trọng
đến sự hình thành nhân cách, hạn chế những cơ hội để trẻ em có một cuộc sống bình
thường và nhất là tương lai của các em sau này.
6. Tệ nạn xã hội:

Sự phát triển của xã hội theo hướng mở đặt gia đình trước nguy cơ bị xâm hại
bởi các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, trẻ lang thang. Nguyên nhân của tình
trạng trẻ em phạm pháp rất đa dạng trong đó phải kể đến sự giảm sút vai trò của gia
đình trong giáo dục trẻ em. Không ít gia đình chiều con, hoặc không có thời gian,
buông lỏng kiểm soát, thậm chí “thả nổi”, tình trạng ly hôn làm bố mẹ không quan
tâm đến con cái…


Tình trạng bạo lực trong gia đình đang diễn ra với nhiều hình thức ở các mức
độ khác nhau kể cả trong gia đình những người lao động giản đơn đến các gia đình
trí thức. Nạn nhân của tình trạng này chủ yếu là phụ nữ và trẻ em.
Gần đây, tệ nạn xã hội thâm nhập vào gia đình và tội phạm trẻ em có nguyên nhân từ
gia đình đang tăng mạnh. Chỉ tính số trẻ em phải vào trại giáo dưỡng tăng cao. Sự
giảm sút vai trò của gia đình trong giáo dục trẻ em, truyền thống, kỷ cương nền nếp
trong gia đình buông lỏng, đã làm cho chức năng kiểm soát trẻ em mất hiệu lực.
Chúng ta còn có thể kể ra đây các vấn đề: Tâm lý chuộng con trai còn phổ
biến; quy mô gia đình nhỏ với việc bảo đảm cuộc sống của người già, trách nhiệm
của bố, mẹ với con cái... Những điều này sẽ có áp lực mạnh đến gia đình và tất yếu
làm biến đổi cấu trúc gia đình. Giữ gìn phát huy tính ưu việt của gia đình truyền
thống như thế nào để bảo vệ cuộc sống là câu hỏi cần phải trả lời không chỉ của cơ
quan chức năng, chính quyền mà trước hết là của mỗi người.


B. GIẢI PHÁP XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Sự quan tâm của nhà nước đối với công tác xây dựng gia đình
Gia đình là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển bền
vững của xã hội, sự thành công của sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất
nước và xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Xây dựng gia đình Việt Nam ít con (mỗi cặp vợ
chồng có một hoặc hai con), no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc là động lực của
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
đất nước. Nên Thủ Tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược xây dựng gia đình
Việt Nam giai đoạn 2005-2010 với những nội dung sau:
Quan điểm:
a) Sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nưước, sự tham gia của các tổ chức
chính trị - xã hội, cộng đồng, gia đình và cá nhân là yếu tố quyết định sự thành công
của công tác gia đình.
c) Gia đình có trách nhiệm với các thành viên và với xã hội. Nhà nước và xã hội có
trách nhiệm bảo vệ sự ổn định và phát triển của gia đình.
d) Giáo dục và xây dựng gia đình luôn kế thừa, giữ gìn và phát huy những giá trị
truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam gắn liền với xây dựng những giá trị tiên
tiến của gia đình trong xã hội phát triển.
đ) Đầu tưư cho gia đình là đầu tư cho sự phát triển bền vững. Nhà nưước ưu tiên bảo
đảm nguồn lực, đồng thời huy động sự đóng góp của toàn xã hội và tranh thủ sự trợ
giúp của quốc tế cho công tác gia đình.
Mục tiêu của Chiến lược:
a) Mục tiêu chung:


Từng bước ổn định, củng cố và xây dựng gia đình ít con (mỗi cặp vợ chồng có một
hoặc hai con), no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc.
b) Các mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Củng cố, ổn định gia đình trên cơ sở kế thừa và phát huy các giá trị
truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiên tiến
của gia đình trong xã hội phát triển; thực hiện quy mô gia đình ít con (mỗi cặp vợ
chồng có một hoặc hai con); thực hiện đầy đủ các quyền và trách nhiệm của các
thành viên trong gia đình, đặc biệt là trách nhiệm của các thành viên trong gia đình
đối với trẻ em, phụ nữ và người cao tuổi.
Các chỉ tiêu cơ bản cần đạt được vào năm 2010:
Chỉ tiêu 1: Tăng tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa lên 80%.
Chỉ tiêu 2: Mỗi cặp vợ chồng có một hoặc hai con.
Chỉ tiêu 3: Tăng tỷ lệ nam, nữ thanh niên trước khi kết hôn được trang bị kiến
thức về hôn nhân và gia đình lên 80%.
Chỉ tiêu 4: Tăng tỷ lệ người cao tuổi trong gia đình được con, cháu chăm sóc,
phụng dưỡng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình lên 90 - 100%; trong
trường hợp người cao tuổi không còn người chăm sóc, phụng dưỡng theo quy định
của pháp luật hôn nhân và gia đình hoặc có người chăm sóc, phụng dưỡng theo quy
định của pháp luật hôn nhân và gia đình nhưng không đủ khả năng chăm sóc, phụng
dưỡng thì được Nhà nước, cộng đồng hỗ trợ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật
hiện hành.
Chỉ tiêu 5: Tăng tỷ lệ gia đình thực hiện tốt trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em lên 90 - 100%.
Mục tiêu 2: Nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của gia đình và
cộng đồng trong việc thực hiện chính sách, pháp luật hôn nhân và gia đình, bình
đẳng giới; tăng cường phòng ngừa, ngăn chặn sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội


vào gia đình; tăng cường phòng, chống bạo lực trong gia đình; khuyến khích phát
huy các phong tục, tập quán tốt đẹp và vận động người dân xoá bỏ các hủ tục, tập
quán lạc hậu trong hôn nhân và gia đình.
Các chỉ tiêu cơ bản cần đạt được vào năm 2010:
Chỉ tiêu 1: Tăng tỷ lệ gia đình được tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận
thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của gia đình trong ổn định và phát triển xã hội lên
90 - 100%.
Chỉ tiêu 2: Giảm tỷ lệ tảo hôn của người dân thuộc các dân tộc thiểu số đang
sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, bình quân hàng năm từ 10 - 15%.
Chỉ tiêu 3: Giảm tỷ lệ bạo lực trong gia đình, bình quân hàng năm từ 10 15%.
Chỉ tiêu 4: Giảm tỷ lệ gia đình bị các tệ nạn xã hội xâm nhập vào, bình quân
hàng năm từ 10 - 15%.
Mục tiêu 3: Nâng cao mức sống gia đình trên cơ sở phát triển kinh tế gia
đình, tạo việc làm, tăng thu nhập và phúc lợi, đặc biệt đối với các gia đình liệt sỹ,
gia đình thương binh, gia đình bệnh binh, gia đình của người dân thuộc các dân tộc
thiểu số, gia đình nghèo, gia đình ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.
Các chỉ tiêu cơ bản cần đạt được vào năm 2010:
Chỉ tiêu 1: Về cơ bản, không còn hộ gia đình nghèo.
Chỉ tiêu 2: 100% gia đình liệt sỹ được hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước;
gia đình thương binh, gia đình bệnh binh, gia đình của người dân thuộc các dân tộc
thiểu số, gia đình nghèo, gia đình ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ
chức thành viên của Mặt trận, cộng đồng quan tâm chăm sóc, hỗ trợ nâng cao mức
sống về vật chất và tinh thần.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×