Tải bản đầy đủ

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------------------------------

Lê Quốc Hùng

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ
HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Lê Quốc Hùng


NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ
HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Mã số: 60440301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Nguyễn Thị Hoàng Liên

Hà Nội - 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ
công trình nào trước đây.
Học viên

Lê Quốc Hùng

i


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận
được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các tập thể, cá nhân trong và
ngoài trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thị Hoàng Liên, giảng viên
Khoa Môi trường – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
đã trực tiếp giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Bộ môn Quản lý môi
trường - Khoa Môi trường - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia
Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và đóng góp ý kiến giúp cho luận văn tốt
nghiệp của tôi được hoàn chỉnh hơn.
Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn
bè đã quan tâm, chia sẻ khó khăn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện
luận văn.

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Học viên

Lê Quốc Hùng

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................
LỜI CẢM ƠN ..............................................................................................................
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ......................................................2
3. Mục tiêu của đề tài .............................................................................................5
4. Ý nghĩa của đề tài ..............................................................................................5
CHƯƠNG 1.

TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ..................6

1.1. Tổng quan về các tổ chức xã hội dân sự .......................................................6
1.1.1. Khái niệm về xã hội dân sự ........................................................................6
1.1.2. Khái niệm về tổ chức xã hội dân sự ...........................................................8
1.1.3. Đặc trưng của các tổ chức xã hội dân sự ....................................................9
1.1.4. Các loại hình tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay .......................11
1.2. Sự hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh
vực BVMT ở Việt Nam và một số nước trên thế giới .......................................14
1.2.1. Sự hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh
vực BVMT ở Việt Nam ......................................................................................14
1.2.2. Sự hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh
vực BVMT ở một số nước trên thế giới .............................................................19
-

Tại Trung Quốc ...........................................................................................19

-

Tại Mỹ .........................................................................................................20

1.3. Rà soát quy định về sự tham gia của các tổ chức XHDS trong văn bản
quy phạm pháp luật hiện hành ở Việt Nam ......................................................21
1.3.1. Cơ sở pháp lý cho các tổ chức XHDS ......................................................21
1.3.2. Quy định về sự tham gia của các tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT.22
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
...................................................................................................................................28
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ...................................................................28
2.2. Nội dung nghiên cứu .....................................................................................28
iii


2.3. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................29
CHƯƠNG 3.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................31

3.1. Đánh giá thực trạng tham gia của một số tổ chức XHDS trong lĩnh vực
BVMT ở Việt Nam hiện nay ...............................................................................31
3.1.1. Giới thiệu về các tổ chức ENV, CPSE, VUSTA......................................31
3.1.2. Sự tham gia của ENV, CPSE, VUSTA trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam
hiện nay ..............................................................................................................37
3.1.2.1. Phát hiện, tố giác vi phạm về BVMT ..................................................41
3.1.2.2. Kiểm tra, giám sát môi trường .............................................................43
3.1.2.3. Phản biện xã hội về môi trường ...........................................................48
3.1.2.4. Tư vấn, vận động chính sách về môi trường .......................................51
3.1.2.4. Giáo dục - đào tạo, phổ biến, tuyên truyền về BVMT ........................54
3.2. Những thuận lợi và khó khăn của các tổ chức VUSTA, CPSE, ENV khi
hoạt động trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam .................................................59
3.3. Đề xuất những giải pháp phát huy vai trò của các tổ chức VUSTA, CPSE
và ENV trong lĩnh vực BVMT. ...........................................................................66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................72
PHỤ LỤC 1. NHỮNG VĂN BẢN PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
TỔ CHỨC XHDS TẠI VIỆT NAM ......................................................................76
PHỤ LỤC 2. MỘT SỐ TỔ CHỨC XHDS HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG .......................................................................................79
PHỤ LỤC 3. BẢNG HỎI PHỎNG VẤN SÂU MỘT SỐ CÁN BỘ CỦA CPSE,
ENV, VUSTA………………………………………………………………….….86

iv


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Các tổ chức xã hội dân sự chính ở Việt Nam ...........................................12
Bảng 1.2. Năm thành lập của một số tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường giai đoạn 1980-2010 ...............................................................................17
Bảng 2.1. Danh sách một số cán bộ của ENV, CPSE, VUSTA được phỏng vấn ....29
Bảng 3.1. Trình độ chuyên môn của cán bộ trung tâm CPSE ..................................33
Bảng 3.2. Một số dự án của CPSE về BVMT và liên quan đến BVMT ...................34
Bảng 3.3. Các hoạt động chính của tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT ..............37
Bảng 3.4. Hoạt động chính của các tổ chức ENV, CPSE, VUSTA ..........................40
Bảng 3.5. Số vụ vi phạm về bảo vệ ĐVHD qua một số năm do ENV tiếp nhận và
lưu trữ hồ sơ ..............................................................................................................43
Bảng 3.6. Hoạt động kiểm tra, giám sát môi trường của ENV, CPSE, VUSTA ......45
Bảng 3.7. Hoạt động tư vấn, vận động chính sách môi trường của ENV, CPSE,
VUSTA......................................................................................................................52
Bảng 3.8. Những thuận lợi và khó khăn của các tổ chức ENV, CPSE, VUSTA khi
hoạt động trong lĩnh vực BVMT ...............................................................................59

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Ranh giới mờ của Xã hội dân sự .................................................................8
Hình 1.2. Tam giác thể chế cho sự phát triển bền vững..............................................8
Hình 1.3. Mức độ tham gia của cộng đồng trong các dự án phát triển .....................25
Hình 3.1. Cơ cấu tổ chức của ENV ...........................................................................31
Hình 3.2. Cơ cấu tổ chức của CPSE .........................................................................32
Hình 3.3. Cơ cấu tổ chức của VUSTA ......................................................................36
Hình 3.4. Mô hình hoạt động của mạng lưới tình nguyện viên ENV .......................42
Hình 3.5. Mô hình hoạt động giáo dục, truyền thông về BVMT của các tổ chức
XHDS ........................................................................................................................55
Hình 3.6. Hoạt động đào tạo, lồng ghép các kiến thức địa phương vào dự án BVMT
của CPSE ...................................................................................................................57
v


CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB

Ngân hàng Phát triển châu Á

BĐKH

Biến đổi khí hậu

BVMT

Bảo vệ môi trường

CBO

Tổ chức Cơ sở Cộng đồng

CPSE

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Dân số, Xã hội và Môi trường

ĐTM

Đánh giá tác động môi trường

ĐMC

Đánh giá môi trường chiến lược

ĐVHD

Động vật hoang dã

ENV

Trung tâm Giáo dục thiên nhiên

NGO

Tổ chức phi chính phủ

VGCL

Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam

VUFO

Liên hiệp Các tổ chức Hữu nghị Việt Nam

VUSTA

Liên hiệp Các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

XHDS

Xã hội dân sự

vi


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trên thế giới, hiện nay các tổ chức xã hội dân sự (XHDS) đang ngày càng có
nhiều đóng góp quan trọng vào nỗ lực phát triển bền vững của nhiều quốc gia, đồng
thời giải quyết các vấn đề xã hội mà Nhà nước “không với tới” hoặc hoạt động kém
hiệu quả trong đời sống của cộng đồng dân cư. Ở Việt Nam, tổ chức XHDS bao
gồm những loại hình và tên gọi khác nhau như: hiệp hội, hội, câu lạc bộ, quỹ, trung
tâm, viện, NGOs, uỷ ban, nhóm tình nguyện,... Đây là những tổ chức tự nguyện, tự
quản, dân chủ, công khai của người dân, không vì mục tiêu lợi nhuận, độc lập tương
đối với Nhà nước và thị trường nhằm thoả mãn nhu cầu và lợi ích nhất định của cá
nhân hoặc cộng đồng.
Sự hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS là một tất yếu khách quan
gắn liền với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Mỗi tổ
chức XHDS, tuỳ theo mục đích và điều kiện hoạt động cụ thể đều trực tiếp hoặc
gián tiếp tham gia phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở một hoặc một số
lĩnh vực khác nhau, trong khuôn khổ của Hiến pháp và Pháp luật.
Trong thời gian gần đây, rất nhiều tổ chức XHDS đã hình thành và hoạt động
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (BVMT) ở Việt Nam. Họ đã chung sức cùng với
Nhà nước tham gia quá trình giám sát, BVMT. Tuy nhiên, do chưa có một khung
pháp lý đồng bộ và một cơ chế thực thi hiệu quả nên sự tham gia của các tổ chức
XHDS trong công tác BVMT còn nhiều hạn chế. Vì vậy, các tổ chức XHDS ở Việt
Nam hoạt động trong lĩnh vực BVMT chưa thực sự tạo ra được sức mạnh góp phần
hỗ trợ Chính phủ quản lý, bảo vệ, giám sát môi trường; đặc biệt là chưa mang lại
nhiều tác động hiệu quả từ hoạt động vận động chính sách, tư vấn, phản biện xã hội
đối với những chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở cấp trung ương và địa phương
có tác động đến môi trường. Trong khi đó, nhiều vụ vi phạm pháp luật về môi
trường diễn ra hàng ngày và thường xuyên, với cấp độ ngày càng nghiêm trọng hơn.

1


Luật Bảo vệ Môi trường được Quốc hội thông qua ngày 23/6/2014 đã có
bước tiến lớn khi dành riêng Chương 15 quy định về trách nhiệm và quyền hạn của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề
nghiệp và cộng đồng dân cư trong công tác BVMT. Nghị định số 19/2015/NĐ-CP
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường dành riêng
Chương 8 quy định về cộng đồng dân cư tham gia BVMT, và Nghị định
18/2015/NĐ-CP quy định các nội dung về tham vấn cộng đồng trong việc lập quy
hoạch, kế hoạch, chiến lược bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường.
Những văn bản pháp luật này mở ra cơ hội để sự tham gia của cộng đồng và các tổ
chức XHDS trong lĩnh vực BVMT được cụ thể hóa bằng hành lang pháp lý.
Hiện nay, một trong những khó khăn của các tổ chức XHDS trong việc bảo
vệ, giám sát môi trường đó là nhận thức của chính quyền, ban, ngành địa phương,
thậm chí của xã hội nói chung, về vị trí, vai trò và nhiệm vụ của các tổ chức XHDS
còn chưa đầy đủ. Vì chưa có luật về tiếp cận thông tin nên các tổ chức XHDS
không dễ dàng tiếp cận thông tin cần thiết cho hoạt động giám sát, BVMT. Thêm
vào đó, sự liên kết và mối quan hệ tương tác giữa các tổ chức XHDS trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường còn rời rạc, thiếu hệ thống và thiếu cơ chế điều phối, hợp tác nên
hiệu quả thu được còn hạn chế.
Trong bối cảnh trên, việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sự tham gia của
một số tổ chức xã hội dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam”
có ý nghĩa rất cấp thiết, không chỉ cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, mà còn góp
phần đổi mới nhận thức về sự tham gia của các tổ chức XHDS trong lĩnh vực
BVMT.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về khái niệm, bản chất, đặc điểm và
chức năng của tổ chức XHDS. Các tổ chức này có vai trò đặc biệt quan trọng đối
với quá trình quản lý, phát triển xã hội nói chung và lĩnh vực BVMT nói riêng.

2


Nhìn chung, các nhà nghiên cứu nước ngoài có những cách tiếp cận và quan điểm lý
luận khác nhau do bối cảnh mối quan hệ Nhà nước - Thị trường - Xã hội khác nhau.
Nghiên cứu “Vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong vấn đề bảo vệ môi
trường” của Anjali Agarwal đã chỉ ra vai trò quan trọng của các tổ chức XHDS đối
với việc giải quyết những vấn đề xã hội mà nhà nước hoạt động kém hiệu quả. Các
tổ chức phi chính phủ đã và đang có những hoạt động nhằm nâng cao nhận thức
BVMT cho cộng đồng, về sự phát triển bền vững, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và
phục hồi hệ sinh thái; tổ chức các khóa đào tạo BVMT; tiến hành nghiên cứu về
môi trường và những vấn đề liên quan đến phát triển [24].
Nghiên cứu “Tăng cường vai trò của các tổ chức XHDS để bảo vệ môi
trường và thúc đẩy phát triển bền vững” của LI Lei cho thấy, các tổ chức XHDS hỗ
trợ nhà nước đạt được những mục tiêu môi trường quốc gia, thúc đẩy hoạt động
giám sát và BVMT của người dân, tham gia BVMT toàn cầu thông qua thông qua
hợp tác với các tổ chức XHDS, chính phủ và tổ chức quốc tế khác [28].
Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của các Chương trình khoa học cấp Nhà
nước KX.04 (2001-2005) do GS. VS. Nguyễn Duy Quý chủ nhiệm [17] và
KX.10.06 (2004-2006) do PGS. TS.Trần Đình Hoan chủ nhiệm [5] đã bước đầu xác
định khái niệm XHDS và cho rằng XHDS không phải là một thực thể do ý định chủ
quan tạo lập ra, mà là sản phẩm của quá trình lịch sử - tự nhiên, chịu sự chi phối, tác
động của những nhân tố khách quan và chủ quan nhất định, nhằm mục đích đáp ứng
những nhu cầu của sự phát triển xã hội. Theo đó, XHDS ở Việt Nam là kết quả tất
yếu của quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội, là một điều kiện đảm bảo cần thiết
để củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN và phát triển dân chủ.
Công trình “Vai trò các tổ chức xã hội đối với phát triển xã hội và quản lý
phát triển xã hội ở nước ta trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và xây dựng
nhà nước pháp quyền XHCN - Cơ sở lý luận và thực tiễn” do TS. Khang Văn Phúc
chủ biên đã phân tích nội hàm khái niệm XHDS, đề cập đến chức năng của các tổ
chức XHDS như: cầu nối, kênh truyền dẫn tiếng nói, nguyện vọng của người dân

3


đến với Nhà nước; tham gia việc hoạch định các chủ trương, chính sách của Nhà
nước, góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý; thực hiện giám sát, phản
biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách của Nhà nước; phát huy nguồn lực và
tính năng động, sáng tạo của các tầng lớp dân cư, tham gia hoạt động cung cấp dịch
vụ công như giáo dục, y tế, văn hoá, khoa học, bảo vệ môi trường [20].
Bài báo “Vai trò và hoạt động của các tổ chức xã hội trong việc giám sát, bảo
vệ môi trường” đăng tải trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp của TS. Hoàng Văn Nghĩa
đã trình bày những nhận thức chung về tổ chức XHDS, đồng thời chỉ ra rằng việc
bảo vệ và giám sát việc thực thi pháp luật BVMT không chỉ thuộc trách nhiệm của
các cấp chính quyền, mà còn là quyền và nghĩa vụ của mọi công dân và của toàn xã
hội, trong đó có các tổ chức XHDS. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và pháp lý của
các tổ chức XHDS trong việc bảo vệ, giám sát môi trường ở Việt Nam [11].
Nghiên cứu “Vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong phát triển bền
vững” của Vũ Thị Hiền thuộc Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng cao
(CERDA) đã bước đầu phân tích những đóng góp của các tổ chức XHDS trong quá
trình phát triển bền vững ở Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức XHDS tại Việt
Nam được đánh giá là có nhiều đóng góp tích cực trong việc liên kết và động viên
các thành viên trong xã hội thực hiện có hiệu quả một số lĩnh vực quan trọng, trong
đó có vấn đề bảo vệ môi trường [7].
Cuốn “Tài liệu đào tạo tập huấn viên về biến đổi khí hậu” được biên soạn
theo kế hoạch thực hiện Dự án “Xây dựng năng lực về biến đổi khí hậu cho các tổ
chức XHDS” do Đại sứ quán Phần Lan tài trợ cho Nhóm làm việc về Biến đổi khí
hậu (CCWWG), Mạng lưới các Tổ chức phi chính phủ Việt Nam và Biến đổi khí
hậu (VNGO&CC) do Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD) điều phối
theo sự ủy quyền của hai mạng lưới. Tài liệu này góp phần nâng cao nhận thức và
năng lực cho các tổ chức XHDS trong việc giảm thiểu, thích ứng với biến đổi khí
hậu và lồng ghép nhiệm vụ này vào những chương trình liên quan hiện có hoặc

4


trong tương lai, nhằm đóng góp vào sự phát triển bền vững lâu dài của Việt Nam
[6].
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay chưa có một công trình nào đi sâu nghiên
cứu một cách có hệ thống và toàn diện vấn đề sự tham gia của các tổ chức XHDS
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
3. Mục tiêu của đề tài
- Mục tiêu tổng quát
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của các tổ chức XHDS trong
lĩnh vực BVMT, đồng thời đề xuất một số giải pháp cụ thể cho việc tăng cường sự
tham gia của các tổ chức XHDS trong hoạt động BVMT ở Việt Nam hiện nay.
- Mục tiêu cụ thể
+ Làm sáng tỏ vai trò, chức năng của các tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT;
+ Đánh giá hiện trạng tham gia của một số tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT ở
Việt Nam hiện nay;
+ Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò và sự tham gia của các tổ chức XHDS trong
lĩnh vực BVMT ở Việt Nam.
4. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của các tổ chức
XHDS đối với việc giám sát, BVMT trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Kết quả nghiên cứu của đề tài
cung cấp luận cứ phục vụ xây dựng, hoàn thiện chính sách, thể chế quản lý các tổ
chức XHDS, qua đó phát huy vai trò của những tổ chức này trong lĩnh vực BVMT,
góp phần phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội.

5


CHƯƠNG 1.

TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về các tổ chức xã hội dân sự
1.1.1. Khái niệm về xã hội dân sự
"Xã hội dân sự" (civil society) là khái niệm xuất hiện khá sớm ở Châu Âu từ
thế kỷ XVII và sớm nhất ở nước Anh (1594), nó được hiểu là những con người
sống trong cộng đồng. Trong lý thuyết của nhà triết học Scottish (thế kỷ XVIII),
XHDS có nghĩa là xã hội văn minh với một nhà nước không độc đoán. Đến thế kỷ
XIX, Heghen mô tả XHDS như là một phần của đời sống đạo đức, bao gồm ba yếu
tố: gia đình, XHDS và nhà nước, trong đó các cá nhân theo đuổi những lợi ích riêng
trong giới hạn đã được pháp luật thừa nhận. Nhà triết học này nhấn mạnh rằng, một
XHDS tự tổ chức cần phải do nhà nước cân nhắc và đặt trật tự cho nó, nếu không xã
hội đó sẽ trở thành tư lợi và không đóng góp gì cho lợi ích chung [4].
K. Marx đã bàn nhiều về XHDS trong các tác phẩm đầu tay về Hệ tư tưởng
Ðức và vấn đề Do Thái. Cũng như Hegel, ông xem XHDS là một hiện tượng lịch
sử, là kết quả của sự phát triển lịch sử mà không phải là “vật ban tặng” của tự nhiên
và XHDS có tính chất tạm thời [4].
Mặc dù các khái niệm về XHDS có lịch sử phát triển khá lâu dài và phong
phú, tuy nhiên chỉ vào khoảng hai thập kỷ gần đây (sau khi Chiến tranh Lạnh kế
thúc năm 1990, nó mới trở thành trọng tâm được chú ý tại các diễn đàn công luận
quốc tế [21].
Trong xã hội hiện đại, do bối cảnh lịch sử và các mối quan hệ nhà nước - xã
hội khác nhau, có những cách tiếp cận và quan điểm lý luận khác nhau về XHDS.
Theo TS. Irenne Norlund, có ba cách tiếp cận đối với XHDS là: Thuyết tân tự do
cho rằng XHDS tồn tại một cách độc lập, thuộc “khu vực thứ ba”, “khu vực tự
nguyện”, ở đó các công dân tự tổ chức thành nhóm và giải quyết các vấn đề phát
sinh thông qua đối thoại “dân sự” và biện pháp phi bao lực. Vai trò của các tổ chức
này là kiểm soát và làm cân bằng mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường. Theo
mô hình Xã hội tốt lành (Good Society), XHDS là một bộ phận cấu thành xã hội,

6


không hoàn toàn tách biệt với nhà nước, thị trường và gia đình mà nằm ở khu vực
giao nhau của ba bộ phận này; ranh giới của nó cũng không rạch ròi, luôn có sự
tương tác giữa nhà nước, thị trường và các tổ chức XHDS nhằm đem lại sự đồng
thuận tốt lành cho mọi người. Mô hình Hậu hiện đại (Postmodern) xem XHDS
thuộc khu vực thứ ba và đề cao vai trò chia sẻ, thông cảm và liên kết, hợp tác giữa
các bên tham gia đối thoại, thảo luận [20].
Marlies Glasius, David Lewis và Hakan Seckinelgin định nghĩa rằng, XHDS
được lập nên bởi cộng đồng dựa trên cơ sở tự nguyện, nằm ngoài phạm vi nhà
nước; tổ chức và hoạt động của các tổ chức XHDS phụ thuộc vào chế độ chính trị,
cấu trúc của hệ thống quyền lực chính trị của quốc gia và các yếu tố văn hoá, dân
tộc [29].
Theo Gerassimos Fourlanos, XHDS được hiểu là tổng thể các tổ chức, thiết
chế xã hội tự nguyện, không phụ thuộc vào hình thức pháp lý, cùng tự nguyện tham
gia vào các hoạt động vì những giá trị, mục tiêu, lợi ích chung [20].
Theo Liên minh Thế giới vì Sự tham gia của Công dân (CIVICUS), XHDS
là diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay
nhau để thúc đẩy quyền lợi chung. Theo đó, muốn cải thiện tính hiệu quả của Nhà
nước, cần phải dựa vào sức mạnh tương đối của thị trường và XHDS. Các tổ chức
XHDS có thể vừa là cộng sự vừa là đối thủ cạnh tranh trong việc cung ứng các dịch
vụ công cộng; các tổ chức này có thể gây áp lực có ích đối với chính quyền để cải
thiện việc cung cấp và chất lượng các dịch vụ công cộng.
Ranh giới giữa XHDS, Nhà nước, Thị trường và Gia đình là mờ nhạt (Hình
1.1). Đây là một phần quan trọng của định nghĩa. Trong một số định nghĩa khác,
XHDS được cảm nhận một cách chặt chẽ hơn, đó là các hoạt động “bên ngoài Nhà
nước”. Ở Việt Nam, các nước châu Á khác và ở hầu hết các nước châu Âu, không
thể tách hẳn Nhà nước ra khỏi XHDS ngay cả trong trường hợp có những điểm
chồng chéo, trùng lặp giữa hiệp hội này với hiệp hội khác [13].

7


Hình 1.1. Ranh giới mờ của Xã hội dân sự
Một xã hội muốn đạt mục tiêu phát triển bền vững phải được điều hành trong
một hệ thống thể chế gồm ba “đỉnh” gắn kết chặt chẽ với nhau (Hình 1.2), đó là: thể
chế Nhà nước; thể chế Thị trường; và thể chế XHDS. Trong đó: Thể chế nhà nước
tập trung vào cải tiến chính sách; Thể chế thị trường/doanh nghiệp tập trung vào
công nghệ và các giải pháp kinh tế; và Thể chế XHDS tập trung vào huy động sự
gắn kết của cộng đồng, phát huy sự tham gia của các tổ chức xã hội trong công cuộc
phát triển bền vững.

Thể chế
Nhà
nước

Thể chế
thị
trường

Phát triển
bền vững

Thể chế
xã hội
dân sự

Hình 1.2. Tam giác thể chế cho sự phát triển bền vững
1.1.2. Khái niệm về tổ chức xã hội dân sự
- Theo định nghĩa của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)

8


Tổ chức xã hội dân sự (CSO) là tổ chức của những người hoạt động phi nhà
nước không nhằm mục tiêu lợi nhuận cũng như tìm kiếm quyền lực quản lý. Các tổ
chức XHDS đoàn kết mọi người nhằm thúc đẩy các mục tiêu và lợi ích chung. Các
tổ chức này hiện diện trong đời sống công cộng, đại diện thể hiện lợi ích và giá trị
của các thành viên trong tổ chức hoặc của những người khác, và thành lập dựa trên
cơ sở đạo đức, văn hóa, tôn giáo hoặc từ thiện.
Tổ chức XHDS bao gồm các tổ chức phi chính phủ (NGO), hiệp hội nghề
nghiệp, quỹ, viện nghiên cứu độc lập, tổ chức cộng đồng (CBOs), tổ chức tín
ngưỡng, tổ chức nhân dân, phong trào xã hội và công đoàn [10].
1.1.3. Đặc trưng của các tổ chức xã hội dân sự
Các tổ chức xã hội dân sự trên thế giới nói chung có 5 đặc trưng cơ bản sau:
- Là tổ chức “phi nhà nước”, không phải là đảng chính trị, bao gồm các quan hệ và
tổ chức không mang dấu hiệu quyền lực công.
- Là liên kết xã hội hoàn toàn mang tính tự nguyện của các thành viên (công dân).
- Hoạt động không nhằm mục tiêu lợi nhuận (phi lợi ích kinh tế), theo đuổi mục tiêu
phúc lợi cộng đồng và dịch vụ xã hội, trong đó chứa đựng lợi ích của từng người.
- Được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự quản (bao gồm tự quản lý, điều
hành, độc lập về tài chính, không lệ thuộc vào ngân sách của chính phủ hay bất cứ
đảng phái chính trị nào,...).
- Đa dạng về cách thức và hình thức tổ chức, phong phú về nhu cầu và lợi ích, mục
tiêu cụ thể; quan hệ với các cơ quan, tổ chức khác theo chiều ngang, không mang
tính hệ thống theo chiều dọc.
Sự khác nhau trong việc xác định và cách hiểu về tổ chức XHDS ở mỗi quốc
gia đôi khi phụ thuộc vào mức độ biểu hiện của những đặc trưng trên. Chẳng hạn ở
những quốc gia phát triển có truyền thống dân chủ lâu đời như Bắc Âu, một số nước
Tây Âu và Bắc Mỹ, đặc trưng về tính độc lập luôn được tôn trọng, bảo đảm thực thi

9


hiệu quả. Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia đang phát triển, đặc trưng này còn tương đối
hạn chế [20].
Trên thực tế, do lịch sử hình thành và phát triển nên nhiều tổ chức XHDS ở
Việt Nam khó đạt được đầy đủ cả 5 tiêu chí này. Ngoài đặc tính chung của tổ chức
XHDS trên thế giới, nhiều tổ chức XHDS ở Việt Nam còn có những đặc điểm riêng
đó là:
- Phần lớn tổ chức XHDS ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm
quyền và tích cực phối hợp hoạt động với Nhà nước.
Trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, nhiều tổ chức được Đảng
Cộng sản vận động, giúp đỡ thành lập và trở thành những tổ chức quần chúng của
Đảng. Ngày nay, khi Đảng trở thành Đảng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, xã hội và là
đảng cầm quyền, các tổ chức XHDS ở Việt Nam hoạt động theo đường lối chính trị
do Đảng Cộng sản đề ra, chịu sự lãnh đạo của Đảng và gắn bó mật thiết với Nhà
nước. Nhiều tổ chức được Nhà nước hỗ trợ về ngân sách, cơ sở vật chất. Vì vậy, tuy
các tổ chức XHDS ra đời nhằm thực hiện yêu cầu lợi ích của các thành viên, hội
viên, song ở Việt Nam những yêu cầu lợi ích đó chỉ có thể được thực hiện khi
chúng được phản ánh trong đường lối chính trị của Đảng, chính sách của Nhà nước,
tức là có sự thống nhất cao giữa lợi ích của Đảng, Nhà nước và lợi ích của các thành
viên, hội viên trong tổ chức. Người dân tự nguyện tham gia tổ chức XHDS vì họ
thừa nhận tôn chỉ, mục đích của tổ chức đó, cũng đồng thời thừa nhận mục tiêu
chính trị của Đảng lãnh đạo.
- Phần lớn các tổ chức XHDS ở Việt Nam đều tham gia Mặt trận tổ quốc Việt Nam,
một liên minh chính trị - xã hội rộng lớn có hệ thống tổ chức từ Trung ương đến cấp
cơ sở, hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, thống nhất và phối hợp hành
động.
- Một số tổ chức XHDS được Nhà nước hỗ trợ gần như hoàn toàn kinh phí hoạt
động, trụ sở làm việc, biên chế cán bộ chuyên trách.

10


Những đặc điểm mang tính lịch sử nói trên của các tổ chức XHDS ở Việt
Nam, một mặt tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, đồng thuận xã hội,
góp phần tạo nên những thắng lợi trong kháng chiến giải phóng dân tộc và là động
lực phát triển đất nước. Tuy nhiên, trong những bối cảnh nhất định, các đặc điểm
này làm phát sinh một số vấn đề sau:
- Tính độc lập của các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam chưa cao.
Chính do đặc điểm ra đời như đã nêu trên, các tổ chức XHDS ở Việt Nam
còn thiếu chủ động, lúng túng trong tìm kiếm các nội dung và phương thức hoạt
động, còn chưa chú ý đúng mức các hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng
của hội viên, còn xem nhẹ chức năng giám sát, phản biện xã hội đối với các chủ
trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy tầm ảnh hưởng của
các tổ chức XHDS trong cộng đồng, giới, nhóm hoặc nghề nghiệp chuyên môn của
mình còn hạn hẹp.
- Tính hành chính hóa trong mô hình tổ chức và hoạt động thể hiện khá rõ và chậm
được khắc phục. Tổ chức hệ thống các cấp và tổ chức bộ máy lãnh đạo, điều hành
rập khuôn theo tổ chức hành chính nhà nước; nội dung hoạt động thường trông chờ
vào chỉ đạo, giao việc của các cơ quan nhà nước, hoặc chỉ thị của cấp trên, thiếu
năng động, sáng tạo; kinh phí hoạt động dựa nhiều vào sự hỗ trợ kinh phí từ phía
nhà nước; đội ngũ cán bộ chủ chốt của các tổ chức XHDS thường là các cán bộ,
công chức nhà nước nghỉ hưu trong cơ quan đảng, nhà nước. Do đó trong phong
cách hoạt động chưa chú trọng sử dụng phương thức vận động, thuyết phục hội viên
là phương thức hoạt động chủ yếu phổ biến của các tổ chức XHDS [20].
1.1.4. Các loại hình tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay
Hiện nay, các tổ chức XHDS ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng. Chúng
khác nhau về quy mô, cơ cấu tổ chức và được gọi với nhiều tên khác nhau như Liên
hiệp hội, Hiệp hội, Câu lạc bộ, Quỹ, Viện, Trung tâm, Ủy ban và cả Nhóm tình
nguyện [20].

11


Mặc dù tổ chức XHDS mới thu hút được sự quan tâm của xã hội trong những
năm gần đây, nhưng đã có minh chứng cho rằng các tổ chức XHDS ở Việt Nam bắt
nguồn sâu xa trong cấu trúc làng xã của xã hội truyền thống. Do vậy, khu vực
XHDS ở Việt Nam không chỉ bao gồm các NGO, mà còn có cả các tổ chức quần
chúng, các tổ chức nghề nghiệp, các tổ chức tại cộng đồng, quỹ từ thiện và trung
tâm hỗ trợ.
Một trong số những nỗ lực mang tính hệ thống nhằm phác họa XHDS tại
Việt Nam do Liên minh toàn cầu vì sự tham gia của công dân (CIVICUS) thiết lập
vào năm 2005-2006 [2]. Với cách tiếp cận bao rộng và toàn diện, bao gồm cả các tổ
chức quần chúng có quan hệ với Đảng - Nhà nước, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức
bảo trợ, nhóm nghiên cứu Chỉ số Xã hội Dân sự Việt Nam đã đưa ra một cách phân
loại dành cho các tổ chức XHDS ở Việt Nam như sau:
Bảng 1.1. Các tổ chức xã hội dân sự chính ở Việt Nam [2]
Nhóm

Các tổ chức trong Quan hệ
nhóm
Nhà nước

Tổ chức quần

• Hội Phụ nữ

chúng

• Hội Nông dân

với Định nghĩa của
Việt Nam

Mặt trận Tổ quốc Các tổ chức
chính trị-xã hội

• Đoàn Thanh niên
• Hội Cựu chiến binh
• Tổ chức của người lao
động (Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam)
Các hiệp hội nghề
nghiệp và tổ chức
bảo trợ

• Các tổ chức bảo trợ
như Chữ Thập đỏ,
VUSTA, VUAL, Liên
minh các Hợp tác xã,…

• Mặt trận Tổ • Các hiệp hội
quốc
nghề nghiệp xã
• Đăng ký với hội

một tổ chức bảo • Các hiệp hội
• Các hiệp hội nghề trợ, các tổ chức xã hội và nghề
cấp trung ương nghiệp; đôi khi

12


Các NGO Việt
Nam

nghiệp

hoặc tỉnh/ thành trực thuộc các
phố
NGO.

• Từ thiện

VUSTA, các bộ
ngành, Ủy ban
nhân dân tỉnh/
thành phố hoặc
quận/huyện

Các tổ chức xã
hội, NGO

• Quan hệ gián
tiếp với các tổ
chức khác hoặc
Bộ luật Dân sự

• Các nhóm hợp
tác nông thôn

• Nghiên cứu
• Tư vấn
• Giáo dục
• Y tế

Các tổ chức dựa
vào cộng đồng
(CBO)

• Các tổ chức cung cấp
dịch vụ và làm dự án
phát triển hoặc hướng
đến sinh kế

• Các tổ chức
dựa trên tín
• Các tổ chức dựa vào • Nhiều tổ chức ngưỡng
tín ngưỡng
không đăng ký
• Các nhóm dân
• Các nhóm dân cư



• Các gia tộc

• Các gia tộc

• Các nhóm nghỉ ngơi
giải trí
• Các nhóm sáng kiến
Định nghĩa của CIVICUS tương đối khác với các định nghĩa trước đó khi
đưa tổ chức quần chúng là một trong những thành phần của XHDS ở Việt Nam.
Hiện tượng trên xuất phát từ quan điểm cho rằng các tổ chức quần chúng là một
phần của tổ chức Đảng, do lãnh đạo của các tổ chức này thường là nhân sự của
Đảng hoặc các cơ quan nhà nước [26]. Thậm chí trong giai đoạn giữa những năm
90 của thế kỷ trước, có ý kiến cho rằng Việt Nam không có XHDS, cho dù có một
vài tổ chức có tiềm năng là tổ chức XHDS [31]. Trong Luận văn này sử dụng cách
phân loại, định nghĩa của CIVICUS như là phương tiện cho những lập luận và phân
tích khác.

13


1.2. Sự hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh
vực BVMT ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
1.2.1. Sự hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh
vực BVMT ở Việt Nam
Những năm gần đây, các tổ chức XHDS tại Việt Nam đang ngày càng có
nhiều đóng góp tích cực hơn trong lĩnh vực BVMT, góp phần giúp đất nước thực
hiện những mục tiêu quốc gia hướng tới sự phát triển bền vững. Vai trò của các tổ
chức XHDS trong lĩnh vực BVMT dần được Chính phủ và xã hội công nhận.
Quá trình hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh
vực BVMT ở Việt Nam gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của các tổ chức
XHDS nói chung. Có thể chia làm 3 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1: Gắn liền với xã hội truyền thống
Lịch sử hàng nghìn năm của Việt Nam đã tồn tại các tổ chức liên kết, tự
nguyện có tính chất tự quản cộng đồng của người dân nhằm mục đích giúp đỡ lẫn
nhau, trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ tâm tư, tình cảm, bảo vệ lợi ích của người dân,
đáp ứng các yêu cầu khác nhau của đời sống xã hội. Hiện nay, hình thức tổ chức xã
hội truyền thống này vẫn còn tồn tại ở một số vùng nông thôn, làng xã như: loại
hình tổ chức dựa trên huyết thống (gia tộc), theo nguồn gốc và địa bàn cư trú (đồng
hương, xóm, làng), theo nghề nghiệp (phường, hội, chẳng hạn: phường gốm,
phường mộc, phường chèo, phường tuồng, phường Quan họ,...) theo sở thích, thú
vui, như: hội văn phả (các nhà Nho trong làng không ra làm quan), hội bô lão (các
cụ ở trong làng), hội đồng môn (cùng học), hội đồng niên (cùng tuổi), hội tổ tôm,...
Các tổ chức nói trên chính là những hình thức sơ khai của các tổ chức XHDS
ở Việt Nam. Chúng có 2 đặc điểm nổi bật sau: (1) Mang tính tự nguyện, tự giác:
Các phường, hội do từng nhóm người lập ra, tự giác thực hiện vì mục đích chung
của nhóm người đó; (2) Mang tính ràng buộc: Tuy không có hình thức pháp luật
hay cơ quan hành chính, tổ chức nào kiểm tra, giám sát, nhưng các tổ chức xã hội

14


mang tính ràng buộc cao. Nguyên nhân không chỉ vì tính tự nguyện mà còn do
người dân thân quen nhau, tin nhau từ tấm bé, sống trong hàng loạt mối quan hệ của
cộng đồng làng xã. Mọi hành vi bỏ hay phản lại phường, hội đều bị lên án gay gắt
và người vi phạm sẽ bị cộng đồng tẩy chay bằng nhiều biện pháp. Ở giai đoạn này
chưa xuất hiện các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực BVMT.
- Giai đoạn 2: Thời kỳ trước đổi mới
Trước năm 1986, các tổ chức XHDS ở Việt Nam chủ yếu bao gồm các tổ
chức quần chúng có liên kết ở cấp cơ sở rất mạnh và đông hội viên, thường được
gọi là tổ chức chính trị - xã hội như: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ và Đoàn thanh niên.
Đây là những tổ chức được thành lập vào những năm 1930, gắn bó mật thiết với
Đảng, kết nối với Nhà nước từ trung ương đến cấp làng xã.
Đầu thập niên 80, có 3 hiệp hội nghề nghiệp đã được thành lập để thúc đẩy
sự giao lưu giữa những người quan tâm tới các lĩnh vực khoa học, văn hóa và đoàn
kết bao gồm: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA); Liên
hiệp Văn học và Nghệ thuật Việt Nam (VWAA) và Liên hiệp các Hiệp hội Hòa
bình, Hữu nghị và Đoàn kết Việt Nam (VUPSFO và sau này gọi là VUFO). Hiện
nay, VUSTA và rất nhiều tổ chức thành viên đã tư vấn, đóng góp nhiều ý kiến cho
các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực BVMT; tham gia
các hoạt động góp phần sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, cải thiện môi
trường; giáo dục, tuyên tryền nâng cao nhận thức của người dân, xây dựng phong
trào quần chúng bảo vệ thiên nhiên và môi trường.
Trong cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp trước thời kỳ đổi mới, các quan hệ
kinh tế - xã hội mang nặng tính hành chính và nhà nước hóa, quyền tự do kinh
doanh, sự đa đạng của các hình thức sở hữu và quan hệ thị trường bị hạn chế; quyền
dân chủ của người dân chưa được đảm bảo; các tổ chức XHDS nói chung và các tổ
chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực BVMT nói riêng chưa có điều kiện hình
thành và phát triển.
- Giai đoạn 3: Thời kỳ sau khi đổi mới đến nay

15


Công cuộc đổi mới ở Việt Nam chính thức được thực hiện vào năm 1986,
khi đất nước bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, khuyến khích kinh tế
hộ gia đình, mở cửa cho thành phần tư nhân, đầu tư nước ngoài.
Nhận thức được vị trí, vai trò của các tổ chức quần chúng, các hội trong sự
nghiệp đổi mới, Nghị quyết số 8B-NQ/HNTW (khóa VI) của Đảng đã nêu ra chủ
trương: “Trong giai đoạn mới cần thành lập các hội đáp ứng nhu cầu chính đáng về
nghề nghiệp và đời sống nhân dân hoạt động theo hướng ích nước, lợi nhà, tương
thân, tương ái. Các tổ chức hội quần chúng được thành lập theo nguyên tắc tự
nguyện, tự quản và tự trang trải về tài chính trong khuôn khổ pháp luật”. Nghị định
35/HDBT ban hành ngày 28/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng, về việc thành lập các
tổ chức khoa học và công nghệ phi lợi nhuận là văn bản pháp lý đầu tiên xác định
quyền của cá nhân, tổ chức XHDS và tổ chức kinh tế trong việc tổ chức và thực
hiện các hoạt động khoa học công nghệ kể từ sau thời kỳ đổi mới.
Do đó, các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực BVMT bắt đầu hình
thành và phát triển từ nửa đầu thập niên 1990 và phát triển mạnh mẽ nhất từ năm
2000 đến nay, bao gồm chủ yếu là các hiệp hội, hội, NGOs, tổ chức tự nguyện,….
Những tổ chức này thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự trang trải về tài
chính, phi lợi nhuận; trình độ chuyên môn và tính chuyên nghiệp ngày càng tăng
lên.
Căn cứ vào cuốn “Danh tập một số tổ chức hội, liên hiệp hội, và phi chính
phủ Việt Nam” do Quỹ Châu Á và Viện Nghiên cứu Xã hội xuất bản năm 2011 và
lĩnh vực hoạt động của các tổ chức nói trên [16], có thể thống kê được một số tổ
chức XHDS tham gia hoạt động trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam trong phần Phụ
lục 2. Các tổ chức XHDS này có phạm vi hoạt động rộng khắp cả nước; tham gia
nhiều dự án, đóng góp tích cực vào hoạt động BVMT. Đa số các tổ chức đều tham
gia hoạt động trong mạng lưới của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
(VUSTA).

16


Bảng 1.2. Năm thành lập của một số tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường giai đoạn 1980-2010 (dựa trên 75 tổ chức trong Phụ lục 2)
Giai đoạn

19811985

19861990

19911995

19962000

20012005

20062010

2

2

11

9

24

27

Số lượng tổ
chức thành
lập

Theo thống kê của Ban Điều phối vận động nhân dân (PACCOM), năm 2009
các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước giải ngân viện trợ trị giá 271,5 triệu
USD, trong đó có 14% để giải quyết các vấn đề về tài nguyên và môi trường.


Bối cảnh và vấn đề đặt ra cho các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực

BVMT tại Việt Nam giai đoạn hiện nay
Việt Nam đang trong thời kỳ đổi mới, nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạch
hóa tập trung sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thu hút các dự án đầu tư, đã tạo ra ngày
càng nhiều việc làm cho người lao động, nhờ đó kinh tế tăng trưởng, đời sống vật
chất và tinh thần của người dân được nâng cao, nhưng cũng kéo theo đó là sự xuống
cấp nghiêm trọng của môi trường. Vì vậy, vấn đề BVMT không chỉ thách thức đối
với Việt Nam mà còn đối với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, nhất là
những nước đang phát triển.
Yêu cầu đặt ra là Nhà nước cần phải huy động được mọi nguồn lực của xã
hội cho quá trình phát triển bền vững. Chính vì vậy, Nhà nước đã đề ra chủ trương
“xã hội hoá” bao gồm cả lĩnh vực BVMT nhằm huy động các nguồn lực từ các
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, các tổ chức XHDS và cộng đồng tham gia các
hoạt động BVMT.
Chủ trương xã hội hóa trong BVMT được cụ thể hóa thông qua một số văn
bản pháp luật như: Nghị quyết 41/NQ-TW (ngày 15/11/2004) của Bộ Chính trị đã
nêu cần xác định rõ trách nhiệm BVMT của Nhà nước, cá nhân, tổ chức và cộng

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×