Tải bản đầy đủ

giaotrinhsinhlybenhthuyp1 286

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PGS. TS. NGUYỄN QUANG TUYÊN - ThS. TRẦN VĂN THĂNG

GIÁO TRÌNH

SINH LÝ BỆNH THÚ Y
(Giáo trình dùng cho hệ Đại học)
NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP
Hà Nội - 2007
2
LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình Sinh lý bệnh thú y được biên soạn để đáp ứng với nhu cầu cấp thiết về
tài liệu học tập của sinh viên ngành Thú y trong các trường Đại học thuộc khôi Nông
nghiệp, cũng như để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập khi áp dụng phương
pháp giảng dạy mới.
Sinh lý bệnh học là môn học nghiên cứu về những thay đổi chức năng của cơ
quan, mô và tế bào khi cơ thêm bệnh, đồng thời là môn học tiền tâm sàng của ngành
Thú y và cầu nối giữa các môn học cơ sở như sinh lý học, sinh hóa học, vi sinh vật học

và các môn học lâm sàng như bệnh nội khoa, bệnh ký sinh trùng, bệnh truyền nhiễm,
bệnh sản khoa...
Cùng với môn Giải phẫu bệnh học, môn Sinh lý bệnh học hệ thống hoa kiên thức
cho các sinh viên ngành Thú y và cán bộ nghiên cứu thú y về các quy luật chung của
quá trình sinh bệnh ở động vật, các biên đổi bệnh lý của quá trình sinh bệnh trong cơ
thể, sự thay đổi của các mô bào, tê bào, cơ quan, hệ thống do rối loạn chức năng... để
ứng dụng trong công tác chẩn đoán, phòng chống bệnh cho vật nuôi, góp phần nâng
cao hiệu quả chăn nuôi và thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển.
Biên soạn giáo trình này, chúng tôi cố gắng thể hiện tính cơ bản, tính khoa học,
tính hiện đại và tính hệ thống của chương trình môn học, đồng thời có liên hệ thực tiễn
nhưng do trình độ và khả năng có hạn nên khó tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi
rất mong nhận được những đóng góp ý kiên của đồng nghiệp và bạn đọc trong quá
trình sử dụng tài liệu này.
Xin chân thành cảm ơn!
Tập thể tác giả
3
Bài mở đầu
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN SINH LÝ BỆNH THÚ Y
1. ĐỊNH NGHĨA MÔN HỌC
Sinh lý bệnh (PHthophysiology) theo nghĩa tổng quát nhất là môn học về những
thay đổi chức năng của cơ thể, cơ quan, mô và tế bào khi chúng bị bệnh. Sinh lý bệnh
học là một môn khoa học nghiên cứu những hoạt động của sự sống trong cơ thể bệnh,
cụ thể là nghiên cứu những biến đổi bệnh lý về cơ năng các cơ quan, hệ thống và mô
bào, đồng thời nghiên cứu những nguyên nhân, điều kiện gây bệnh và tìm ra quy luật
chung của sự phát sinh, phát triển và kết thúc của quá trình bệnh lý.
Môn sinh lý gia súc nghiên cứu tất cả cơ năng, hệ thống trong cơ thể gia súc (động
vật) bình thường và tìm ra được quy luật nhất định, cũng như vậy trên cơ thể bệnh


chúng ta cũng nghiên cứu tuần tự và so sánh lại với quy luật bình thường để thấy được
những thay đổi như thế nào và từ đó rút ra kết luận với từng trường hợp. Chính vì vậy
người ta thấy mỗi một bệnh có một quy luật riêng và nó cũng có những biểu hiện bệnh
lý chung.
Ví dụ: Trong tất cả các loại nhiễm khuẩn chúng ta đều thấy các quá trình bệnh lý
như viêm, sốt, khi kiểm tra máu thấy bạch cầu tăng và đó là những quy luật chung.
Trong khi đó ở bệnh dịch tả lợn chúng ta thấy cơ thể lợn sốt, viêm nhưng bạch cầu hạ;
ở bệnh lao phổi chúng ta lại thấy cơ thể vật bệnh sốt liên miên, thường hay sốt vào
buổi chiều, ra mồi hôi nhiều và đó là những quy luật riêng.
Những quy luật riêng tạo nên những biến đổi trên cơ quan, tổ chức gọi là quá trình
bệnh lý điển hình và các quá trình này tạo nên bệnh tích điển hình.

Từ những quy luật đó khái quát lại và nêu lên quy luật hoạt động của từng bệnh,
tạo cơ sở lý luận cho các môn học lâm sàng tìm biện pháp khống chế.
2. NỘI DUNG MÔN HỌC
Nội dung của môn sinh lý bệnh học được chia làm ba chương:
Chương 1 : Các khái niệm và quy luật chung về bệnh
Bao gồm: khái niệm về bệnh, nguyên nhân gây bệnh, sinh bệnh học, đặc tính của
cơ thể đối với sự phát bệnh (bệnh lý của quá trình miễn địch).
Chương 2: Sinh lý bệnh các quá trình bệnh lý chung
Bao gồm: rối loạn tuần hoàn cục bộ, rối loạn chuyển hóa các chất, viêm, rối loạn
điều hoà thân nhiệt, quá trình bệnh lý của sự phát triển mô bào.
Chương 3: Sinh lý bệnh các cơ quan, hệ thống
Nghiên cứu rối loạn chức năng của các cơ quan, hệ thống: hệ thống máu và cơ
4
quan tạo máu, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ tiết niệu và hệ thống thần kinh.
Với những nội dung trên môn sinh lý bệnh học là môn học cơ sở của ngành thú y,
có liên quan chặt chẽ với nhiều môn học khác như: sinh lý gia súc, sinh hóa học, dược
lý học, vi sinh vật học và các môn lâm sàng thú y như: bệnh nội khoa, chẩn đoán bệnh,
bệnh ký sinh trùng, bệnh truyền nhiễm, bệnh sản khoa...
Đặc biệt sinh lý bệnh và giải phẫu bệnh là hai cấu thành của môn Bệnh lý học, là
hai môn học có cùng chung một đối tượng nghiên cứu nhưng sinh lý bệnh chủ yếu
nghiên cứu những biến đổi về cơ năng, còn giải phẫu bệnh thì nghiên cứu những biến
đổi về hình thái trên cơ thể bệnh.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN SINH LÝ BỆNH THÚ Y
Phương pháp nghiên cứu của môn sinh lý bệnh học là phương pháp thực nghiệm,
một phương pháp rất khách quan và khoa học. Phương pháp này tiến hành gây bệnh
nhân tạo trên cơ thể động vật, sau đó quan sát toàn bộ quá trình diễn biến của bệnh,
cuối cùng phân tích và rút ra quy luật chung của quá trình bệnh lý. Trong phương pháp
thực nghiệm, thường sử dụng hai phương pháp là phương pháp thực nghiệm cấp tính
hay còn gọi là cấp diễn và phương pháp thực nghiệm mãn tính hay còn gọi là trường
diễn.
3.1. Phương pháp thực nghiệm cấp tính (cấp diễn)
Phương pháp này thường phân tích các chức năng của các cơ quan riêng biệt, có
khi cô lập ra khỏi cơ thể để nghiên cứu, tức là làm nhanh có kết quả ngay để có thể
nắm được các quy luật Người ta thường sử dụng phương pháp này trong một số trường
hợp chẩn đoán nhanh và dùng để giảng dạy cho sinh viên.
Ví dụ: Người ta thường cô lập tim ếch hoặc cô lập một đoạn ruột để nghiên cứu.


Ưu điểm: phương pháp này tương đối đơn giản, quan sát biến đổi về cơ năng
trong một thời gian ngắn.
Nhược điểm: Gây tổn thương trên cơ thể bệnh, kích thích từng cơ quan riêng biệt
một cách nhân tạo, thậm chí còn tách rời một số cơ quan khỏi cơ thể hoặc tiến hành
nghiên cứu dưới điều kiện gây mê. Trong những điều kiện thực nghiệm như vậy thì
không thể biểu hiện được bản chất của bệnh một cách đầy đủ, kết quả thu được không
sát so với khi con vật hoạt động bình thường.
3.2. Phương pháp thực nghiệm mãn tính (trường diễn)
Phương pháp thực nghiệm mãn tính do Páp-lốp đề ra. Phương pháp này tiến hành
trên con vật sau khi đã được phẫu thuật và hoàn toàn hồi phục, cơ thể con vật ở trạng
thái tỉnh táo gần như bình thường.
Ví dụ: người ta làm một ống để hứng dịch vị dạ dầy, làm một ống để hứng nước
bọt.
5
- Ưu điểm: Làm thí nghiệm trên con vật ở trạng thái bình thường nghiên cứu được
lâu dài, chính xác hơn, có thể rút ra những quy luật biến đổi ở cơ thể bệnh một cách
toàn diện trong suất quá trình bệnh lý, tốn ít động vật thí nghiệm.
- Nhược điểm: Chỉ áp dụng nghiên cứu trong một số trường hợp có thời gian
nghiên cứu lâu dài.
Nhưng người ta thường kết hợp cả hai phương pháp trên để nghiên cứu quá trình
bệnh một cách toàn diện hơn.
Ngày nay có nhiều phương pháp nghiên cứu tiên tiến như: phương pháp nội soi,
hoặc phương pháp cắt lát bộ óc để xem có u não không, phương pháp dùng máy siêu
âm để kiểm tra hoạt động của thai... cũng được áp dụng trong nghiên cứu sinh lý bệnh.
Ngoài ra sinh lý bệnh học còn ứng dụng những thành tựu và phương pháp mới nhất
của khoa học như: miễn dịch học, sinh hóa học, phân tử học (nuôi cấy đen, cắt đen) để
nghiên cứu các quá trình bệnh lý.
6
Chương 1
CÁC KHÁI NIỆM VÀ QUY LUẬT CHUNG VỀ BỆNH
1. KHÁI NIỆM VỀ BỆNH
Kể từ thời nguyên thuỷ tới nay, qua bao ngàn năm, khái niệm về bệnh là bất biến.
Điều đó không đúng mà nó thay đổi theo thời gian. Nói chung, sự thay đổi này
phụ thuộc chủ yếu vào hai yếu tố:
- Trình độ văn minh của xã hội đương thời.
- Thế giới quan (bao gồm cả triết học) của mỗi thời đại.
Trong một xã hội, có thể đồng thời xuất hiện nhiều khái niệm về bệnh, kể cả
những khái niệm đối lập nhau. Đó là điều bình thường nói lên những quan điểm học
thuật khác nhau có thể cùng tồn tại trong khi chờ đợi sự ngã ngũ. Tuy nhiên, trong lịch
sử đã có những trường hợp quan điểm chính thống tìm cách đàn áp các quan điểm
khác.
Một quan niệm về bệnh bao giờ cũng chi phối chặt chẽ các nguyên tắc chữa bệnh,
phòng bệnh. Do vậy nó có vai trò rất lớn trong thực tiễn.
1.1. Một số khái niệm trong lịch sử
1.1.1 Thời nguyên thuỷ
Người nguyên thuỷ khi biết tư duy cho rằng bệnh là sự trừng phạt của các đấng siêu
linh đối với con người và trần thế. Ở đây có sự lẫn lộn giữa bản chất của bệnh với nguyên


nhân gây ra bệnh (trả lời câu hỏi "bệnh là gì" cũng giống câu hỏi "bệnh do đâu"). Không
thể đòi hỏi một quan niệm tích cực hơn khi trình độ con người còn quá thấp kém, với thế
giới quan coi bất cứ vật gì và hiện tượng nào cũng có các lực lượng siêu linh can thiệp
vào. Đáng chú ý là quan niệm này bước sang thế kỷ 21 vẫn còn tồn tại ở những bộ tộc lạc
hậu hoặc một số bộ phận dân cư trong các xã hội văn minh. Với quan niệm như vậy thì
người xưa chữa bệnh chủ yếu bằng dùng lễ vật để cầu xin, có thể cầu xin trực tiếp, hoặc
thông qua những người làm nghề mê tín dị đoan. Bao giờ cũng vậy, giá trị của vật lễ luôn
luôn nhỏ hơn giá trị của điều cầu xin. Tuy nhiên, trên thực tế người nguyên thuỷ đã bắt
đầu biết dùng thuốc, không phải chỉ phó mặc số phận cho thần linh.
1.1.2. Thời các nền văn minh cổ đại
Trước công nguyên nhiều ngàn năm, một số vùng trên thế giới đã đạt trình độ văn
minh rất cao so với mặt bằng chung. Ví dụ: Trung Quốc, Hy Lạp, La Mã, Ai Cập hay
Ấn Độ. Trong xã hội hồi đó đã xuất hiện tôn giáo, tín ngưỡng, văn học nghệ thuật,
khoa học (gồm cả y học và triết học). Nền y học lúc đó ở một số nơi đã đạt được
những thành tựu lớn về y lý cũng như về phương pháp chữa bệnh và đã đưa những
quan niệm về bệnh của mình.
7
1.1.2.1. Trung Quốc cổ đại
Khoảng hai hay ba ngàn năm trước công nguyên, y học chính thống Trung Quốc
chịu ảnh hưởng lớn của triết học đương thời cho rằng vạn vật được cấu tạo từ năm
nguyên tố (Ngũ hành: Kali, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ) tồn tại dưới hai mặt đối lập (âm và
dương) trong quan hệ hỗ trợ hoặc át chế lẫn nhau (tương sinh hoặc tương khắc).
Các nhà y học cổ đại Trung Quốc cho rằng bệnh là sự mất cân bằng âm dương và
sự rối loạn quan hệ tương sinh tương khắc của Ngũ hành trong cơ thể. Từ đó nguyên
tắc chữa bệnh là điều chỉnh lại, kích thích mặt yếu (bổ), chế át mặt mạnh (tả).
Trong thời kỳ này quan niệm về bệnh ở đây là duy vật, các thế lực siêu linh bắt
đầu bị loại trừ khỏi vai trò gây bệnh. Cố nhiên, đây mới chỉ là trình độ duy vật hết sức
thô sơ (cho rằng vật chất chỉ gồm năm nguyên tố) và trong nhiều ngàn năm, quan niệm
này tỏ ra bất biến, không hề vận dụng được các thành tựu vĩ đại của các ngành khoa
học tự nhiên khác vào y học.
Y lý Trung Quốc cổ đại khá phong phú và chặt chẽ, thực sự có vai trò hướng dẫn
cho thực hành, đồng thời có thể tự hào về tính biện chứng sâu sắc. Tuy nhiên, trình độ
biện chứng ở đây chỉ là rất chung chung, trừu tượng. Do vậy, y lý chỉ dừng lại ở mức
độ lý thuyết (do quan sát và suy luận mà có) chưa thể gọi là đạt mức lý luận (dùng
thực nghiệm kiểm tra và chứng minh mà có).
Y học và y lý Trung Quốc cổ đại có những đóng góp rất lớn cho chẩn đoán và
chữa bệnh. ảnh hưởng của nó lan cả sang phương Tây, xâm nhập cả vào y lý của một
nền y học cổ ở châu âu. Người ta cho rằng chính lý thuyết về "bốn nguyên tố" của
Pythagore và "bốn chất dịch" của Hippocrat cũng chịu ảnh hưởng rõ rệt của y lý Trung
Quốc cổ đại.
Trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển, nền y học này đã có những đóng góp
hết sức to lớn, với vô số bài thuốc phong phú và công hiệu. Tuy nhiên, cho đến khi chủ
nghĩa tư bản châu âu bành trướng sang phương Đông để tìm thuộc địa đồng thời mang
theo y học hiện đại sang châu Á - nó chỉ vẫn dừng ở mức y học cổ truyền mà chưa hề
có yếu tố hiện đại nào.
Nguyên nhân do chế độ phong kiến Trung Quốc tồn tại quá lâu, với quan niệm
"chết mà không toàn vẹn cơ thể" là điều hết sức đau khổ, nhục nhã cho cả người chết


và thân nhân họ. Do vậy, môn giải phẫu không thể ra đời. Các nhà y học chỉ có thể
dùng tưởng tượng và suy luận để mô tả cấu trúc cơ thể. Tiếp sau là một chuỗi dài
những suy luận và suy diễn, mặc dù ít nhiều có đối chiếu với quan sát thực tiễn nhưng
không sao tránh khỏi sai lầm (vì không có thực nghiệm chứng minh). Tuy nhiên, đây
vẫn chỉ là những quan sát trực tiếp bằng các giác quan (dù rất tỉ mỉ) mà không có trang
thiết bị hỗ trợ nên chỉ có thể dừng lại ở hiện tượng và sau đó lại tiếp tục dùng suy luận
để mong hiểu được bản chất.
8
1.1.2.2. Thời văn minh Hy Lạp và La Mã cổ đại
Muộn hơn ở Trung Quốc hàng ngàn năm. Y học cổ đại của nhiều nước châu âu
cũng chịu ảnh hưởng khá rõ của Trung Quốc, nổi bật nhất là ở Hy Lạp -La Mã cổ đại.
Gồm hai trường phái lớn:
- Trường phái Pythagore (600 năm trước công nguyên): dựa vào triết học đương
thời cho rằng vạn vật do bốn nguyên tố tạo thành với bốn tính chất khác nhau: thổ
(khô), khí (ẩm), hỏa (nóng), thuỷ (lạnh). Trong cơ thể, nếu bốn yếu tố đó phù hợp về
tỷ lệ, tính chất và sự cân bằng sẽ tạo ra sức khoẻ; nếu ngược lại, sẽ sinh bệnh. Cách
chữa bệnh cũng là điều chỉnh lại, bổ sung cái thiếu và yếu, loại bỏ cái mạnh và thừa.
- Trường phái Hippocrat (500 năm trước công nguyên): không chỉ thuần tuý tiếp
thu và vận dụng triết học như trường phái Pythagore mà tiến bộ và cụ thể hơn, đã quan
sát trực tiếp trên cơ thể sống. Hippocrat cho rằng cơ thể có bốn dịch, tồn tại theo tỷ lệ
riêng, có quan hệ cân bằng với nhau để tạo ra sức khoẻ, đó là:
+ Máu đỏ: do tim sản xuất, mang tính nóng; ông nhận xét rằng khi cơ thể lâm vào
hoàn cảnh nóng (sốt) thì tim đập nhanh và mặt, da đều đỏ bừng. Đó là do tim tăng
cường sản xuất máu đỏ.
+ Dịch nhầy: không màu, do não sản xuất, thể hiện tính lạnh; xuất phát từ nhận
xét khi cơ thể bị lạnh thì dịch mũi chảy ra rất nhiều, ngược lại khi niêm dịch xuất tiết
nhiều cũng là lúc cơ thể nhiễm lạnh.
+ Máu đen: do lách sản xuất, mang tính ẩm.
+ Mật vàng: do gan sản xuất, mang tính khô.
Bệnh là sự mất cân bằng về tỷ lệ và quan hệ giữa bốn dịch đó. Lý thuyết của
Hippocrat có ảnh hưởng rất lớn đối với y học châu âu thời cổ đại. Bản thân Hippocrat
là nhà y học cổ truyền vĩ đại, có công lao tất lớn; đã tách y học khỏi ảnh hưởng của tôn
giáo, chủ trương chẩn đoán bằng phát hiện triệu chứng khách quan, đề cao đạo đức y
học.
Ở thời kỳ này quan niệm về bệnh khá duy vật và biện chứng, tuy còn thô thiển. Có
thể nói đây là đặc điểm dễ đạt được khi lý thuyết còn sơ sài, dừng lại ở trình độ chung
chung và trừu tượng. Tuy nhiên, những quan sát trực tiếp của Hippocrat lại khá cụ thể
như bốn chất dịch là có thật và cho phép kiểm chứng được. Nhờ vậy, các thế hệ sau có
điều kiện kiểm tra, sửa đổi và phát triển nó, nhất là khi phương pháp thực nghiệm
được áp dụng vào y học, đưa y học cổ truyền tiến lên hiện đại. Chính vì vậy, Hippocrat
được thừa nhận là ông tổ của y học nói chung cả y học cổ truyền và hiện đại.
1.1.2.3. Các nền văn minh khác
- Cổ Ai Cập: Dựa vào thuyết Pneuma (sinh khí) cho rằng khí đem lại sinh lực cho
cơ thể. Cơ thể phải thường xuyên hô hấp để đưa sinh khí vào. Bệnh là do hít phải khí
xấu không trong sạch. Từ đó, các nhà y học đề ra những nguyên tắc chữa bệnh.
9
- Cổ Ấn Độ: Y học chính thống chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết học đạo Phật cho


rằng cuộc sống là một vòng luân hồi (gồm nhiều kiếp), mỗi kiếp trải qua bốn giai
đoạn: sinh, lão, bệnh, tử. Như vậy, bệnh là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, các
nhà y học cổ đại ấn Độ vẫn sáng tạo được rất nhiều phương thuốc công hiệu để chữa
bệnh. Đạo Phật còn cho rằng con người có linh hồn vĩnh viễn tồn tại, nếu nó còn ngự
trị trong thể xác tồn tại tạm thời là sống, đe doạ thoát khỏi xác là bệnh, thoát hẳn khỏi
thể xác là chết.
1.1.3. Thời kỳ Trung cổ
Ở Châu âu thời kỳ Trung cổ (thế kỷ 4-12) được coi là "đêm dài" vì diễn ra suốt 8
thế kỷ dưới sự thống trị tàn bạo và hà khắc của nhà thờ, tôn giáo và chế độ phong kiến.
Nguyên nhân do sự cuồng tín vào những lý thuyết mang tính tôn giáo khiến các giáo sĩ
dựa vào cường quyền sẵn sàng đàn áp khốc liệt các ý kiến đối lập. Tuy nhiên, nguyên
nhân sâu xa hơn là tầng lớp giáo sĩ và phong kiến muốn bảo vệ lâu đài đặc quyền
thống trị của họ.
- Các quan niệm tiến bộ bị đàn áp nếu trái với những tín điều trong kinh thánh,
khoa học lâm vào tình trạng trì trệ và thụt lùi. Các nhà khoa học tiến bộ bị khủng bố.
- Quan niệm chính thống về bệnh tỏ ra rất mê muội, không coi trọng chữa bằng
thuốc, thay bằng cầu xin, y lý phải tuân theo các giáo lý của nhà thờ, mỗi vị thánh trấn
giữ một bộ phận trong cơ thể, một số giáo sĩ cấm đọc sách thuốc... Những nhà y học
có quan điểm tiến bộ bị ngược đãi.
Tuy vậy, cuối thời Trung cổ vẫn lác đác có vài quan niệm duy vật nhưng rất sơ
sài, PHracelsus (1493-1541) cho rằng lưu huỳnh có vai trò biểu hiện sức mạnh của
linh hồn, trí tuệ, còn thuỷ ngân và muối có vai trò trong duy trì sức mạnh thể chất. Tuy
vậy, các quan điểm này không được coi là chính thống nên ít ảnh hưởng trong giới y
học.
1.1.4. Thời kỳ Phục hưng
Thế kỷ 16-17, xã hội thoát khỏi thần quyền, văn học nghệ thuật và khoa học phục
hưng lại nở rộ với nhiều tên tuổi như Newton, Descarte, Toricelli, Vesali, Harvey...
Giải phẫu học (Vesali, 1414-1564) và Sinh lý học (Harvey, 1578-1657) ra đời đặt nền
móng vững chắc để y học từ cổ truyền tiến vào thời kỳ hiện đại. Nhiều thuyết tiến bộ
về y học liên tiếp xuất hiện. Tính duy vật tuy còn thô sơ, tính biện chứng vẫn còn máy
móc nhưng so với thời kỳ y học cổ truyền thì đã có những bước tiến nhảy vọt về chất.
Ở thời kỳ này có đặc điểm là:
- Mỗi thuyết đều cụ thể hơn trước, giảm mức độ trừu tượng, khiến có thể dùng
thực nghiệm kiểm tra dễ dàng để thừa nhận hoặc bác bỏ; đồng thời có tác dụng giảm
bớt tính nghệ thuật tăng thêm tính khoa học và tính chính xác trong hành nghề của
người thầy thuốc.
10
- Các thuyết đều cố vận dụng các thành tựu mới nhất của các khoa học khác như
co học, lý học, hóa học, sinh học, sinh lý, giải phẫu. Ví dụ:
+ Thuyết cơ học (Descarte): Coi cơ thể như một cỗ máy, ví tim như cái máy bơm,
mạch máu là các ống dẫn; các xương như những đòn bẩy và hệ cơ như các lực. Bệnh
được ví như trục trặc của máy móc...
+ Thuyết hóa học (Sylvius, 1614-1672): coi bệnh tật là do sự thay đổi tỷ lệ các
hóa chất trong cơ thể, hoặc sự rối loạn của các phản ứng hóa học.
+ Thuyết lực sống (Stalil, 1660-1734): Các nhà sinh học hồi đó cho rằng các sinh
vật có những hoạt động sống và không bị thối rữa là nhờ trong chúng có cái gọi là lực
sống. Lực sống cũng chi phối sức khoẻ và bệnh tật của cơ thể bằng lượng và chất của


nó.
1.1.5. Thời kỳ thế kỷ 18 -19
Đây là thời kỳ phát triển của y học hiện đại với sự vững mạnh của hai môn Giải
phẫu học và Sinh lý học. Nhiều môn y học và sinh học đã ra đời. Ở các nước phương
Tây, y học cổ truyền hoàn toàn tiến sang thời y học hiện đại. Phương pháp thực
nghiệm từ vật lý học được ứng dụng một cách phổ biến và có hệ thống vào y học đã
mang lại rất nhiều thành tựu. Rất nhiều quan điểm về bệnh ra đời, với đặc điểm nổi bật
dựa trên những kết quả đã được thực nghiệm kiểm tra và khẳng định.
Một số quan niệm chủ yếu về bệnh trong thời kỳ này là:
- Thuyết bệnh lý tế bào: Wirchow là người sáng lập môn Giải phẫu bệnh cho rằng
bệnh là do các tế bào bị tổn thương, hoặc các tế bào tuy lành mạnh nhưng thay đổi về
số lượng, vị trí và thời điểm xuất hiện.
- Thuyết rối loạn hằng định nội môi: Claud Benard - nhà Sinh lý học thiên tài,
người sáng lập môn y học thực nghiệm, tiền thân của môn Sinh lý bệnh - đã đưa thực
nghiệm vào y học một cách hệ thống và sáng tạo, đã đề ra khái niệm "hằng định nội
môi" cho rằng bệnh xuất hiện khi có rối loạn cân bằng này trong cơ thể.
- Muộn hơn, sang thế kỷ 19-20, Frend (1856-1939) và môn đệ cho rằng bệnh là do
rối loạn và mất cân bằng giữa ý thức, tiềm thức, bản năng. Môn đệ Páp-lốp đã lạm
dụng quá mức các công trình của ông thì cho rằng bệnh là kết quả của sự rối loạn hoạt
động phản xạ của thần kinh cao cấp. Các khái niệm này đã có đóng góp nhất định
trong một phạm vi nào đó, đồng thời cũng biểu hiện những thiên lệch hiểu biết về
bệnh.
1.1.6. Thời kỳ hiện đại (Thế kỷ 20)
Thế kỷ này là thời kỳ của điện tử, của các chất cao phân tử và cũng là thời kỳ của
sinh học. Một số ngành sinh học phát triển mạnh như: di truyền học, miễn dịch học,
sinh học phân tử... có ảnh hưởng lớn tới y học, do đó cũng có nhiều khái niệm khác
nhau về bệnh.
11
Riêng ở Nga, tiếp thu các công trình của các nhà khoa học như Sechenov, Botkin,
Páp-lốp đã đề ra học thuyết thần kinh của bệnh. Theo thuyết này nội môi và ngoại
cảnh là một khối thống nhất, trong đó hoạt động của thần kinh cao cấp đóng vai trò
quyết định đối với khả năng thích ứng của cơ thể (tức nội môi) với những thay đổi bên
ngoài. Sự kết hợp chặt chẽ giữa vỏ não và những đoạn dưới của hệ thần kinh, giữa hệ
thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai của người, giữa thần kinh và nội tiết có tác động
điều hoà chính xác và kịp thời mọi hoạt động của cơ thể, đảm bảo mối tương quan
chính xác giữa nội môi và ngoại cảnh. Bệnh tật là do rối loạn hoạt động phản xạ của hệ
thần kinh, rối loạn tương quan giữa các khu vực khác nhau của hệ thần kinh. Páp-lốp
chỉ rõ: "trong người bệnh có hai quá trình tồn tại song song: quá trình bảo vệ sinh lý
và quá trình huỷ hoại bệnh lý".
Qua các lý luận trên các nhà khoa học Nga đã nhìn nhận vấn đề bệnh tật một cách
toàn diện hơn. Tuy nhiên vẫn chưa giải thích một cách hoàn hảo khái niệm về bệnh.
Trong thời kỳ này, ngành hóa chất, nhất là sinh hóa phát triển mạnh mẽ, người ta đã
nhận thấy tính chất tương đối ổn định của các thành phần hóa học trong cơ thể. Dựa
vào đó Hens Selye đưa ra ý kiến "Bệnh là sự rối loạn các khả năng thích nghi". Nghiên
cứu các tác động mạnh của ngoại cảnh (stress) thì Selye cho rằng bao giờ cơ thể cũng
đáp lại bằng những thay đổi của hoạt động nội tiết và thần kinh. Theo Selye sự mất cân
bằng và hiệp đồng giữa hạ não và thượng thận thì sinh ra bệnh gọi là bệnh thích nghi.


Theo tiến hóa luận khoa học thì mọi sinh vật đều bắt nguồn từ một đơn bào, sau
đó phức tạp dần thành cơ quan, tổ chức khác nhau, có các hoạt động riêng nhưng nhằm
mục đích chung là duy trì sự sống. Do đó, sự ngăn cách giữa các bộ phận (tế bào, cơ
quan), giữa cơ thể trong cộng đồng, giữa cơ thể với thiên nhiên chỉ các tính chất tương
đối, mà về thực chất có sự liên quan trao đổi mật thiết qua lại với nhau, ảnh hưởng lẫn
nhau. Giữa ngoại cảnh và cơ thể có sự thống nhất và có sự mâu thuẫn, ngoại cảnh thì
luôn luôn thay đổi và cơ thể nhờ khả năng thích nghi của mình để mà duy trì hằng định
nội môi một cách tương đối, để duy trì sự sống.
1.2. Quan niệm về bệnh hiện nay
1.2.1. Hiểu về bệnh qua quan niệm sức khoẻ
- Tổ chức Y tế thế giới (WHO - 1946) đưa ra định nghĩa: "Sức khoẻ là một tình
trạng thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là
không có bệnh hay tật". Đây là định nghĩa mang tính mục tiêu xã hội, để phấn đâu,
được chấp nhận rộng rãi.
- Tuy nhiên dưới góc độ y học, cần có những định nghĩa phù hợp và chặt chẽ hơn.
Các nhà y học cho rằng: "Sức khoẻ là tình trạng lành lặn của cơ thể về cấu trúc,
chức năng, cũng như khả năng điều hoà giữ cân bằng nội môi, phù hợp và thích nghi
với sự thay đổi của hoàn cảnh".
1.2.2. Những yếu tố để định nghĩa về bệnh
12
Đa số các tác giả đều đưa vào khái niệm bệnh những yếu tố sau:
- Sự tổn thương, lệch lạc, rối loạn trong câu trúc và chức năng (từ mức phân tử, tế
bào, mô, cơ quan đến mức toàn cơ thể). ,
- Do những nguyên nhân cụ thể, có hại; đã tìm ra hay chưa tìm ra.
- Cơ thể __________có quá truất phản ứng nhằm loại trừ các tác nhân gây bệnh, lập lại cân
bằng, sửa chữa tổn thương. Trong cơ thể bị bệnh vẫn có sự duy trì cân bằng nào đó,
mặc dù nó đã lệch ra khỏi giới hạn sinh lý. Hậu quả của bệnh tuỳ thuộc vào tương
quan giữa quá trình rối loạn, tổn thương và quá trình phục hồi, sửa chữa.
Bệnh làm giảm khả năng thích nghi với ngoại cảnh.
- Với người, có tác giả đề nghị thêm: bệnh làm giảm khả năng lao động và khả
năng hoà nhập xã hội.
1.2.3. Một số định nghĩa về bệnh
"Bệnh là tình trạng tổn thương hoặc rối loạn về cấu trúc và chức năng, dẫn tới mất
cân bằng nội môi và giảm khả năng thích nghi với ngoại cảnh".
- "Bệnh là sử rối loạn các hoạt động sống của cơ thể và mối tương quan với ngoại
cảnh, dẫn đến giảm khả năng lao động".
"Bệnh là sự thay đổi về lượng và chất các hoạt động sống của cơ thể do tổn
thương cấu trúc và rối loạn chức năng, gây ra do tác hại từ môi trường hoặc từ bên
trong cơ thể".
- "Bệnh là sự rối loạn đời sống bình thường của cơ thể sinh vật, do tác động của
các yếu tố gây bệnh khác nhau, gây ra một quá trình đấu tranh phức tạp giữa hiện
tượng tổn thương bệnh lý và hiện tượng phòng vệ sinh lý, làm hạn chế khả năng thích
nghi của cơ thể đối với ngoại cảnh, làm cho khả năng sản xuất và giá trị kinh tế bị
giảm sút".
- "Bệnh là một điều kiện mà ở đó một cá thể chỉ ra sự sai khác về giải phẫu, hóa
học, sinh lý so với bình thường".
- Định nghĩa "thế nào là một bệnh" hiện nay đang được sử dụng phổ biến là:


"Bệnh là bất kỳ sự sai lệch hoặc tổn thương nào về cấu trúc và chức năng của bất kỳ
bộ phận, cơ quan, hệ thống nào của cơ thể biểu hiện bằng các triệu chứng đặc trưng
giúp cho thầy thuốc có thể chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt, mặc dù nhiều
khi ta chưa rõ về nguyên nhân, về bệnh học và tiên lượng" (Từ điển y học Dorlands,
2000).
2. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH NGUYÊN HỌC
2.1. Định nghĩa
Bệnh nguyên học (Etiology) hay nguyên nhân bệnh học là môn học nghiên cứu về
13
nguyên nhân gây bệnh, bản chất của chúng, cơ chế mà chúng tác động, đồng thời
nghiên cứu các điều kiện thuận lợi hay không thuận lợi để nguyên nhân trên phát huy
tác dụng. Việc nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh có ý nghĩa rất to lớn trong lý luận
cũng như trong thực hành. Về lý luận nó biểu hiện một lập trường rõ rệt; về thực hành
nó giúp cho việc phòng trị có hiệu quả. Páp-lốp đã nói: "Vấn đề phát hiện ra nguyên
nhân gây bệnh là một vấn đề cơ bản của y học và chỉ khi nào biết rõ những nguyên
nhân gây ra bệnh thì mới tiến hành điều trị được chính xác, hơn nữa mới ngăn chặn
chúng đột nhập vào cơ thể và điều này là quan trọng bậc nhất".
2.2. Một số quan niệm sai lầm về bệnh nguyên học
Để có được những quan điểm và khái niệm khoa học đúng đắn như hiện nay, bệnh
nguyên học đã trải qua một quá trình nghiên cứu lâu dài và đấu tranh gay gắt giữa các
học thuyết khác nhau. Trong đó có một số học thuyết sai lầm về nguyên nhân bệnh học
như:
- Thuyết "nguyên nhân đơn thuần" (Pure Etiology) cho rằng vi khuẩn là nguyên
nhân của mọi bệnh, hễ có vi khuẩn là có bệnh (tức là mọi bệnh đều do một nguyên
nhân và chỉ khi nào có nguyên nhân thì mới có bệnh).
Với thái độ cực đoan, quá nhấn mạnh đến vai trò của một nguyên nhân gây ra
bệnh là vi khuẩn, thuyết này đã bỏ qua vai trò và ảnh hưởng của những điều kiện khác
thuận lợi cho sự phát sinh của bệnh, cũng không chú ý đến cơ chế bảo vệ của cơ thể
chống lại sự đột nhập của các yếu tố gây bệnh và nó cũng không xét đến các ảnh
hưởng khác trong bệnh nguyên học.
Thực tế cho thấy rằng, trong nhiều bệnh không phát hiện thấy vi khuẩn như bệnh
cao huyết áp, các bệnh đo tác động của các yếu tố lý, hóa học gây nên và ngược lại,
trong nhiều trường hợp có vi khuẩn nhưng lại không thấy bệnh xuất hiện, ví dụ: có tới
80-90% gà mang vi khuẩn PHsteurella ở trong đường hô hấp trên mà không gây bệnh
tụ huyết trùng hoặc có tới gần 100% vi khuẩn E, còn sống trong ruột già của động vật
và người mà không gây bệnh.
Một quan niệm sai lầm, phiến diện về bệnh nguyên học như trên, chỉ chú ý đến
một nguyên nhân gây bệnh, tất nhiên cũng sẽ dẫn đến sai lầm trong công tác phòng
bệnh và điều trị bệnh. Như ta đã biết việc chống lại yếu tố gây bệnh, nhất là vi khuẩn
một cách tích cực cũng mới chỉ là một mặt trong công tác phòng bệnh và điều trị. Còn
có những mặt khác cũng không kém phần quan trọng là tạo ra những điều kiện, những
hoàn cảnh để yếu tố gây bệnh không phát huy được tác dụng như tăng cường sức đề
kháng của cơ thể, v.v… Thuyết "điều kiện đơn thuần" (Pure Condition) cho rằng bệnh
tật là do kết quả tác động tổng hợp của một số điều kiện và các điều kiện đó có thể gây
bệnh mà không cán có nguyên nhân đặc hiệu. Quan niệm này là hoàn toàn sai lầm, bởi
vì từng điều kiện tách riêng ra, cũng như nhiều điều kiện kết hợp lại không thể quyết
định được sự phát sinh ra bệnh và tính đặc hiệu của bệnh, ví dụ: nếu không có vi


14
khuẩn lao thì không có bệnh lao. Các điều kiện chỉ có tác dụng tạo nên cơ sở dễ dàng
cho bệnh phát sinh khi có nguyên nhân gây bệnh tác động.
Học thuyết này mang tính chất tiêu cực: cùng một lúc đưa ra nhiều điều kiện đòi
hỏi phải thoả mãn thì mới có thể giải quyết được vấn đề bệnh tật. Vì vậy nó gây trở
ngại cho công tác phòng bệnh và trị bệnh. Nó đã không phân biệt nguyên nhân và điều
kiện và cũng không chỉ rõ được vai trò của mỗi yếu tố trong quá trình gây bệnh.
Thuyết "thể tạng" (Constitution) cho rằng nguyên nhân gây bệnh không phải từ
bên ngoài tới mà chính là do đặc điểm của cơ thể, do thể tạng của con vật mà ra. Đây
là quan niệm của thuyết di truyền máy móc, nó không kể đến các yếu tố ngoại cảnh tác
động đến quá trình phát triển và di truyền của sinh vật. Như vậy nó chống lại việc vệ
sinh phòng dịch, bảo vệ sức khoẻ cho gia súc ngăn ngừa bệnh tật.
2.3. Quan niệm khoa học về bệnh nguyên học
Một số quan niệm đúng đắn về bệnh nguyên học là phải dựa vào phương pháp duy vật
biện chứng để nêu lên được mối quan hệ đúng đắn giữa nguyên nhân và điều kiện gây bệnh.
2.3.1. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện gây bệnh
- Nguyên nhân có vai trò quyết định và điều kiện thì phát huy vai trò tác dụng của
nguyên nhân. Nguyên nhân gây bệnh là yếu tố có hại, khi tác động lên cơ thể sẽ quyết
định bệnh phát sinh và các đặc điểm của bệnh, ví dụ: Bốn bệnh đỏ của lợn (là bệnh
phó thương hàn, tụ huyết trùng, đóng dấu, dịch tả) do bốn nguyên nhân khác nhau gây
ra và phát sinh ra bệnh có biểu hiện riêng.
Những yếu tố gây bệnh đó khi vào cơ thể phải đạt cường độ nhất định (độc lực,
liều lượng cao...). Đặc điểm của bệnh chính là do nguyên nhân quyết định và chính
dựa vào những đặc điểm của bệnh mà ta có thể khám phá ra nguyên nhân để từ đó mà
xác định phương pháp cần thiết để điều trị.
Song nguyên nhân gây bệnh chỉ có thể phát huy tác dụng trong những điều kiện
cơ thể nhất định, ví dụ: Bệnh tụ huyết trùng gà phát triển dưới tác dụng của vi khuẩn
PHsteurella nhưng phải ở cơ thể yếu, dinh dưỡng kém và đặc biệt là khi thời tiết thay
đổi đột ngột. Ngược lại, khi có đầy đủ các điều kiện thuận lợi nhưng không có nguyên
nhân thì bệnh không thể phát sinh và xảy ra được, nó chỉ phát sinh ra bệnh khác như
suy dinh dưỡng, còi xương. Nguyên nhân và những điều kiện nhất định gây nên một
bệnh được gọi chúng là những yếu tố bệnh nguyên.
- Trong những điều kiện nhất định, nguyên nhân có thể trở thành điều kiện, nghĩa
là trong những hoàn cảnh nào đó, một số yếu tố có thể là nguyên nhân nhưng trong
hoàn cảnh khác nó có thể trở thành điều kiện. Ví dụ: nuôi dưỡng kém là nguyên nhân
của suy dinh dưỡng, thiếu vitamin là nguyên nhân của bệnh thiếu vitamin, song có thể
lại là điều kiện cho các bệnh nhiễm khuẩn phát triển. Hoặc bệnh ghép tụ huyết trùngdịch
tả lợn, dịch tả-tụ huyết trùng lợn.
15
Ví dụ: Khi khẩu phần ăn thiếu protein sẽ gây nên phù do protein trong huyết thanh
giảm mà áp lực keo dựa vào nồng độ protein huyết thanh. Nếu protein huyết thanh
giảm làm cho áp lực keo trong máu giảm từ đó làm cho nước bị đẩy từ động mạch ra
ngoài gian bào gây ra hiện tượng phù (bệnh thận), hoặc khi thiếu vitamin B1 thì cũng
gây ra phù.
2.3.2. Quy luật nhân quả trong bệnh nguyên học
- Mỗi bệnh (tức là hậu quả) đều có nguyên nhân nhất định gây ra và nguyên nhân
bao giờ cũng có trước hậu quả. Nguyên nhân gây bệnh dù từ ngoài vào hay từ trong ra


đều tác động lên cơ thể sinh ra hậu quả là bệnh. Bất cứ một bệnh nào cũng đều có
nguyên nhân nhất định gây nên. Mặc dù hiện nay rất nhiều bệnh chưa tìm được
nguyên nhân nhưng ai cũng tin rằng bất cứ bệnh nào cũng phải có nguyên nhân.
- Có nguyên nhân nhưng không nhất thiết phát sinh ra hậu quả (tức bệnh) nếu
không có điều kiện thuận lợi.
Như trên ta đã nói về mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện, trong đó điều
kiện phát huy tác dụng quyết định của nguyên nhân. Song cũng cần phải hiểu rõ rằng,
trong sinh học nói chung cũng như trong y học nói riêng, vì tính chất phức tạp của hiện
tượng sống, phản ứng của sinh vật còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà trình độ khoa
học, kỹ thuật hiện nay còn chưa phát hiện và kiểm soát được. Cho nên đáp ứng của
sinh vật đối với yếu tố gây bệnh có thể thay đổi tuỳ theo điều kiện bên ngoài cũng như
bên trong. Điều kiện bên ngoài thì muôn hình muôn vẻ, còn điều kiện bên trong thì vô
cùng phức tạp cho nên tính phản ứng thường thay đổi theo từng cơ thể. Do vậy, cùng
một nguyên nhân trong những điều kiện nhất định thì tác động gây nên bệnh nhưng ở
những điều kiện khác thì lại không gây ra bệnh.
Cùng một nguyên nhân, có thể có những hậu quả khác nhau tuỳ theo điều kiện, ví
dụ: bệnh cúm ở người, khỉ điều kiện sống như nhau nhưng tuỳ thuộc vào từng cá thể
mà có người bị nặng, có người bị nhẹ, có người không mắc bệnh. Cùng một nguyên
nhân tuỳ nơi tác động và tuỳ theo đáp ứng của cơ thể mà hậu quả (là bệnh) có thể khác
nhau, ví dụ: Tụ cầu khuẩn có thể gây nên áp xe khi vào da, gây nên ỉa lỏng khi vào
ruột và gây nhiễm khuẩn huyết khi vào máu.
- Một hậu quả (triệu chứng bệnh) có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra
như viêm, sốt là những quá trình bệnh lý điển hình, trong đó các triệu chứng rất dễ
dàng được xác định song lại do rất nhiều nguyên nhân gây nên: cảm lạnh cũng dẫn đến
sốt; chấn thương cũng gây nên sốt. Chính đây là khó khăn thường gặp khi đi từ những
triệu chứng tới xác định được bệnh và nguyên nhân gây bệnh, đời hỏi phải có phương
pháp suy luận đúng đắn và logic để phân biệt giữa hiện tượng và bản chất.
Như vậy một quan niệm khoa học về bệnh nguyên học phải có tính chất toàn diện,
nhìn nhận cả vai trò của nguyên nhân, điều kiện cũng như thề tạng. Song mỗi một yếu
tố có tầm quan trọng và vị trí nhất định trong quá trình gây bệnh. Ngăn ngừa nguyên
16
nhân, hạn chế tác dụng của điều kiện gây bệnh, tăng cường hoạt động tết của thể tạng,
đó là những mặt hoạt động tích cực, là điều kiện quan trọng trong công tác điều trị và
phòng bệnh. Điều trị không chỉ tìm ra được nguyên nhân mà còn phải thấy được cả
những điều kiện trong đó bệnh cảnh diễn ra.
2.4. Phân loại các yếu tố bệnh nguyên
2.4.1. Yếu tố bệnh nguyên bên ngoài
2.4.1.1. Yếu tố cơ học
Chủ yếu là chấn thương cho các mô bào và các cơ quan, hệ thống của cơ thể.
Hậu quả tại chỗ bị tổn thương, mất máu, nhiễm khuẩn thứ phát...và hậu quả toàn
thân là cơ thể bị sốc.
2.4.1.2. Yếu tố lý học
- Nhiệt độ:
+ Nếu nhiệt độ quá 500C có thể gây biến tính các protein và men trong tế bào, ảnh
hưởng xấu tới chức năng hoặc gây chết tế bào.
+ Nếu nhiệt độ quá cao: gây viêm, bỏng hoặc cháy tại chỗ tiếp xúc;
+ Nếu nhiệt độ đủ cao và tác đụng lên toàn thân: gây nhiễm nóng;


+ Nhiệt độ quá lạnh gây tê cóng, hoại tử tại chỗ tiếp xúc hoặc gây nhiễm lạnh khi
tác động lên toàn thân.
- Tia phóng xạ:
Gây huỷ hoại các men tế bào, tác hại tương tự nhiệt độ trên 500C nhưng chủ yếu là
tác hại lên ADN, nhất là khi tế bào đang phân chia (như tế bào non ở tuỷ xương). Cơ
chế tác động: tia.xạ với năng lượng mang theo chúng tạo ra các sản phẩm ton hóa và
các gốc tự do, gây rối loạn chuyển hóa cho tế bào, kể cả gây chết tế bào.
- Dòng điện: tuỳ thuộc diện tiếp xúc rộng hay hẹp và điện trở thấp hay cao.
+ Tuỳ thuộc vào điện áp: điện áp càng cao thì càng nguy hiểm, nhất là từ 220V trở lên.
+ Tuỳ thuộc vào dòng điện: dòng một chiều tác dụng rất nhanh; dòng xoay chiều:
tần số 25-50 rất nguy hiểm.
+ Có thể gây bệnh tại chỗ (bỏng) hay toàn thân.
+ Tuỳ thuộc cơ quan (nếu dòng điện qua tim, não gây nguy hiểm; qua cơ gây co
cứng).
+ Tuỳ thuộc vào khả năng điện ly của các dịch trong cơ thể.
2.4.1.3. Yếu tố hóa học và độc chất
Tuỳ bản chất hóa học và liều lượng của hóa chất mà có thể gây bệnh tại chỗ (nơi
17
tiếp xúc) hay toàn thân (khi xâm nhập vào cơ thể) với các cơ chế rất khác nhau.
- Hai cách tác động chủ yếu là gây tổn thương, phá huỷ (hoại tử, tan huyết...),
hoặc gây rối loạn chuyển hóa, suy giảm hay kích thích quá mức chức năng cơ quan
(ngộ độc, suy thận, suy gan, hôn mê, co giật...).
Các axit mạnh, kiềm mạnh và một số chất khác có thể gây bỏng, cháy, hoại tử da
và niêm mạc khi tiếp xúc.
- Nhiều chất có tác dụng huỷ men trong tế bào, hoặc gây ngộ độc toàn thân do làm
rối loạn chuyển hóa (với các cơ quan đích khác nhau nhất là các cơ quan tích luỹ và
đào thải chúng như gan, thận) với mức độ, hậu quả khác nhau.
- Các chất hóa học bao gồm:
+ Chất vô cơ (chì, hợp chất thuỷ ngân, arsenic...);
+ Các chất hữu cơ (benzen, phenylhydrazin, một số dược chất nếu quá liều...); +
Một số sản phẩm của động vật hay thực vật (nọc rắn, nọc bò cạp, chất độc trong mật cá
trắm, gan cóc, trong một số nấm độc, lá ngón, lá han...).
2.4.1.4. Yếu tố sinh học
Bao gồm các loại sinh vật, vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng, côn trùng. Tuỳ theo
nguyên nhân gây bệnh mà người ta xếp vào hai loại bệnh đó là:
- Bệnh truyền nhiễm
- Bệnh ký sinh trùng
2.4.2. Yếu tố bệnh nguyên bên trong
2.4.2.1. Yếu tố di truyền
Đó là những biến đổi bệnh lý thông qua cơ chế di truyền từ thế hệ trước sang thế
hệ sau qua tế bào sinh dục mang đến bệnh. Qua nghiên cứu người ta đã thấy, một số
bệnh phát sinh là do thiếu một số tiền chỉ huy tổng hợp nên các loại men, mà thiếu các
men ấy sẽ phát sinh ra bệnh. Ví dụ: Bệnh phenylxeton niệu là do thiếu men
pHrahyđroxylaza nên phenylalanin không chuyển thành tyrôxin được mà phân huỷ
thành phenylxeton và được đào thải ra ngoài qua nước tiểu.
Yếu tố di truyền có thể cũng là điều kiện để cho bệnh phát sinh.
Ở một số con giả súc cái ấy không biểu hiện ra bệnh nhưng mang gen lặn trong


nhiễm sắc thể. Ví dụ trên lặn mang bệnh có ký hiệu là x+, đen không bệnh ký hiệu là x,
con cái có ký. hiệu là Xx+, con đực không có bệnh có ký hiệu là XY. Ta có sơ đồ sau:
18
Như vậy 1/2 số con đực (x+Y) sinh ra mắc bệnh
1/2 số con cái (x+X) sinh ra mang gen bệnh
Nếu cả con đực và cái mang đến bệnh thì khi chúng giao phối ta có sơ đồ sau:
Như vậy ta thấy: 1/2 số con đực sinh ra mắc bệnh (x+Y)
112 số con cái sinh ra mắc bệnh (x+x+)
1/2 số con cái sinh ra mang đến bệnh (x+X)
Tóm lại chỉ có 1/4 số con sinh ra là khoẻ mạnh và 3/4 số con khác là mắc bệnh
hoặc mang đến bệnh.
Lưu ý: Có một số trường hợp trước không bị bệnh nhưng do bị đột biến trên sau
khi bị chất phóng xạ hoặc bị nhiễm độc hóa học đã trở thành người mang đến bệnh và
di truyền được.
2.4.2.2. Yếu tố thể tạng
Thể tạng có thể định nghĩa như là tổng hợp các đặc điểm chức năng và hình thái
của cơ thệ. Những đặc điểm này khá bền vững, được hình thành trên cơ sở tính di
truyền và quyết định những.phản ứng của cơ thể đối với tác nhân bên ngoài trong quá
trình sống. Như vậy thể tạng có tính chất rất phức tạp trong đó yếu tố di truyền đóng
vai trò chủ chốt, quyết định. Trước một yếu tố gây bệnh, những cơ thể có thể tạng khác
nhau sẽ có đáp ứng khác nhau hay nói cách khác thể tạng là cơ sở vật chất của tính
phản ứng và chịu ảnh hưởng của một số yếu tố nhất định như chủng loại, giới tính,
tuổi tác, hoạt động của hệ thần kinh, nội tiết và môi trường mà trong đó con vật sinh
sống. Cho nên thay đổi môi trường sống có thể làm thay đổi phản ứng tính của cơ thể
và do đó làm thay đổi phần nào thể tạng.
Ví dụ: Bệnh chậm thể tạng giống như bệnh Eczema do cơ thể thích hợp với một
loại nấm nào đó, cho nên không thể chữa được nhưng không lây lan sang người khác,
mà nó được di truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
3. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH SINH HỌC
3.1. Định nghĩa
19
Bệnh sinh học hay sinh bệnh học (Pathogenesis) là môn khoa học nghiên cứu
những quy luật cơ bản của sự phát sinh, phát triển, diễn biến và kết thúc của một quá
trình bệnh lý hay cơ chế sinh bệnh.
Đối với mỗi một bệnh như ta đã biết đều có một nguyên nhân nhất định tác động
và sau đó là sự phát sinh diễn biến của bệnh. Vì vậy nắm được cơ chế sinh bệnh là yêu
cầu cơ bản trong công tác phòng trị bệnh, trên cơ sở đó có thể ngăn chặn sớm được
những diễn biến xấu của bệnh, hạn chế được tác hại, đồng thời xác định những biện
pháp tích cực để bảo vệ đàn vật nuôi.
3.2. Ảnh hưởng của bệnh nguyên tới quá trình bệnh sinh
Cùng một yếu tố bệnh nguyên nhưng bệnh sinh có thể thay đổi tuỳ theo cường độ,
liều lượng, thời gian tác dụng và vị trí tác dụng của bệnh nguyên.
3.2.1. Ảnh hưởng của cường độ và đều lượng bệnh nguyên
Có rất nhiều bằng chứng và ví dụ trong thực tiễn nói lên hai yếu tố này của bệnh
nguyên ảnh hưởng lớn tới quá trình bệnh sinh.
Cùng tác động vào một vị trí trên cơ thể nhưng cường độ dòng điện hoặc các tác
nhân vật lý khác như nhiệt độ, tia xạ, ánh sáng, lực cơ học... mạnh hay yếu sẽ làm


bệnh diễn ra rất khác nhau.
- Cùng một chất độc, cùng một đường xâm nhập nhưng liều lượng khác nhau (lớn
hay nhỏ) sẽ gây ra những bệnh có diễn biến khác nhau.
- Cùng một loại vi khuẩn, nếu độc lực hay số lượng khác nhau cũng làm bệnh sinh
diễn ra không giống nhau.
Các tác nhân hóa học và sinh học khác cũng có ảnh hưởng tương tự.
- Những yếu tố vốn không gây bệnh lại có thể gây bệnh nếu cường độ và số lượng
đạt một ngưỡng nào đó. âm thanh có cường độ cao, hoặc không khí có áp lực quá
ngưỡng đều trở thành những yếu tố bệnh nguyên rất hiệu quả.
3.2.2. Thời gian tác dụng của bệnh nguyên
Những yếu tố bệnh nguyên có cường độ cao hay liều lượng lớn thường chỉ cần
thời gian ngắn cũng đủ làm bệnh phát sinh. Nếu cường độ thấp hơn hoặc liều lượng
nhỏ hơn thì thường cần thời gian tác động dài hơn. Nhưng điều đáng lưu ý là diễn biến
của bệnh cũng thường thay đổi.
Ví dụ: khi ăn lạc bị mốc trong thời gian dài có thể dẫn tới mắc bệnh ung thư; tiếng
ồn dù cường độ không cao nhưng nếu cứ tác động liên tục ngày đêm lên cơ quan thính
giác sẽ gây bệnh và diễn biến của bệnh khác hẳn trường hợp cơ thể chịu một âm thanh
cường độ quá cao (tiếng nổ).
Tương tự như vậy, tác dụng lặp đi lặp lại nhiều lần của một yếu tố bệnh nguyên dù
chưa đạt ngưỡng cũng có thể sinh bệnh (lượn, mất ngủ).
20
3.2.3. Vị trí tác dụng của bệnh nguyên
Mỗi cơ quan của cơ thể phản ứng khác nhau với cùng một bệnh nguyên. Mặt
khác, tầm quan trọng sinh học của mỗi cơ quan cũng không giống nhau. Do vậy, vị trí
tác động của bệnh nguyên trên cơ thể ảnh hưởng rất rõ tới bệnh sinh.
Bệnh cảnh, diễn biến của bệnh lao rất khác nhau, tuỳ theo đó là lao phổi, lao
xương, lao thận hay lao màng não tuy bệnh nguyên là một.
- Bệnh nguyên dù cùng một cường độ và liều lượng nhưng gây được bệnh hay
không, nặng hay nhẹ, cấp tính hay mãn tính còn tuỳ thuộc vị trí tác động. ánh sáng
chói chỉ gây được bệnh nếu chiếu vào võng mạc mà không phải vào đâu khác. Chấn
thương vào đầu có bệnh cảnh khác hẳn vào cơ bắp hay vào xương. Dòng điện chạy
qua tim hoặc qua não gây hậu quả khác hẳn qua các chi.
Ví dụ: Bệnh lậu ở người: khi cầu khuẩn lậu tác dụng ở đường sinh dục gây viêm
mãn tính, còn khi cầu khuẩn lậu ở giác mạc mắt gây viêm cấp tính.
3.2.4. Đường lây lan của nguyên nhân bệnh trong cơ thể
Đường lây lan thường phụ thuộc vào tính chất của nguyên nhân bệnh và vị trí sinh
bệnh. Thông thường bệnh nguyên lan theo ba đường chính: ,
- Lan theo tổ chức: từ nơi phát bệnh lan rộng ra vùng lân cận tiếp giáp.
- Lan theo dịch thể: thường các yếu tố bệnh nguyên là độc tố, vi khuẩn, vi rút lan
theo dịch lâm ba, máu đến toàn thân.
- Lan theo thần kinh: các yếu tố bệnh nguyên còn là những xung động đau. Các
loại vi rút như vi rút bệnh dại, độc tố uốn ván lan theo thần kinh.
Trong thực tế khi bệnh phát sinh thì yếu tố bệnh nguyên có thể lan theo nhiều
đường chứ không phải lan theo một đường riêng biệt, vì trong kết cấu tổ chức của cơ
thể sinh vật nơi nào cũng có mặt các hệ thống mạch quản, thần kinh và mạch lâm ba.
Vì vậy, chúng ta phải xem xét những bệnh nào lan theo đường nào là chủ yếu để biết
và kịp thời ngăn chặn.


3.3. Quan hệ giữa cục bộ và toàn thân trong quá trình bệnh sinh
Theo thuyết thần kinh của Páp-lốp thì cơ thể là một khối thống nhất, các cơ quan,
mô bào đều có sự liên hệ chặt chẽ với nhau và chịu sự điều tiết chung của thần kinh.
Bất cứ một cơ thể nào, hoạt động nào cũng đều chịu sự điều tiết chung của vỏ não. Vì
vậy các quá trình bệnh lý dù xảy ra ở bộ phận cục bộ nào cũng phụ thuộc vào trạng
thái chung của cơ thể và ngược lại thông qua cung phản xạ nó ảnh hưởng tới toàn thân.
3.3.1. Mối Liên hệ giữa toàn thân và cục bộ
Toàn thân khoẻ mạnh thì sức đề kháng tại chỗ cũng sẽ tốt hơn, do đó yếu tố gây
bệnh khó xâm nhập hoặc nếu có vào được thì cũng nhanh chóng bị tiêu diệt hoặc bị
đào thải ra ngoài. Ngoài ra, ta thấy tuổi có liên quan đến sức đề kháng. Tuổi trưởng
21
thành cơ thể khoẻ mạnh, vết thương mau lành, phản ứng nhanh, tuổi già dễ mắc bệnh,
phản ứng kém, vết thương lâu lành.
3.3.2. Mối liên hệ giữa cục bộ và toàn thân
Bất kỳ một tổn thương nào (viêm nhiễm) ở cục bộ cũng đều ảnh hưởng tới toàn
thân, đầu tiên thấy đau, cơ thể mệt mỏi, các chất độc tại ổ viêm sẽ ngấm vào cơ thể
gây trạng thái nhiễm độc. Thành phần của máu thay đổi, nếu bạch cầu đa nhân trung
tính mà tăng lên thì nhất định sẽ bị viêm nhiễm ở một nơi nào đó và gây sốt toàn thân,
đồng thời làm thay đổi hoạt động của hệ thống nước tiểu. Như vậy, khi cục bộ bị tổn
thương thì tất cả các cơ quan khác tăng cường hoạt động, cơ quan hô hấp thay đổi, cơ
quan tiêu hóa giảm, tiết sữa giảm vì tất cả tập trung lực lượng vào đấu tranh bảo vệ cơ
thể.
Vì vậy có thể nói bất kỳ một quá trình bệnh lý nào cũng biểu hiện tại chỗ của tình
trạng bệnh lý toàn thân.
Ý nghĩa: Nắm được điều này giúp ta chăm sóc hộ lý tốt hơn.
3.4. Vòng bệnh lý
Bệnh diễn ra theo trình tự gồm các bước (gọi là các khâu) nối tiếp nhau theo cơ
chế phản xạ, khâu trước là tiền đề tạo điều kiện cho khâu sau hình thành và phát triển,
cho tới khi bệnh kết thúc, như sơ đồ sau:
Nhiều trường hợp, một khâu nào đó ở phía sau lại trở thành tiền đề (nuôi dưỡng)
cho một khâu trước đó: từ đó hình thành một vòng bệnh lý, với đặc điểm là có khả
năng tự duy trì. Vòng này có thể diễn biến cấp tính hoặc kéo dài. Trong đa số trường
hợp, vòng bệnh lý làm cho quá trình bệnh sinh ngày càng nặng hơn, có thể quan sát dễ
dàng qua các biểu hiện lâm sàng. Xem sơ đồ dưới đây:
Thường thì vòng bệnh lý không tự mất đi mà cần có sự can thiệp. Khi phát hiện
vòng bệnh lý cần tìm cách cắt đứt nhiều khâu, nhất là khâu chính.
Sau đây là một vài ví dụ:
- Ở bệnh lợn đóng dấu mãn tính, vi khuẩn lợn đóng dấu gây viêm nội tâm mạc,
loét sùi van tim, do đó ảnh hưởng tới tuần hoàn chung gây thiếu oxy. Từ thiếu oxy gây
22
rối loạn chuyển hóa rồi tác động trở lại gây phì đại tim dẫn đến suy tim. Khi suy tim
dẫn đến thiếu oxy và lặp lại thành vòng kín.
- Khi đột ngột mất đi 20% lượng máu, cơ thể sẽ huy động một loạt biện pháp do
hệ giao cảm và hệ tim mạch chi phối nhằm bù đắp một phần khối lượng máu, duy trì
huyết áp ở mức cần thiết tối thiểu, đảm bảo cơ bản về lưu lượng tuần hoàn và nhu cầu
oxy cho các cơ quan quan trọng nhất. Cơ thể thích nghi dần, vòng bệnh lý sẽ không
hình thành trong thời gian chờ đợi tuỷ xương sản xuất đủ lượng hồng cầu cần thiết.


Nếu mất tới 40% lượng máu, các biện pháp trên chỉ giúp cơ thể thích nghi được một
thời gian ngắn và mẫu thuẫn sẽ phát sinh, hệ tim mạch bị quá tải chức năng lại kém
được nuôi dưỡng. Có thể thấy huyết áp tụt dần, mạch nhanh và yếu dần, kèm theo tình
trạng lơ mơ, da lạnh, thể trạng xấu dần đi... Để ra khỏi tình trạng trên, hệ giao cảm và
tuần hoàn lại càng phải tăng công suất. Như vậy vòng bệnh lý đã hình thành.
Ý nghĩa: Nắm được sự tiến triển của bệnh, ta có thể phát hiện được khâu chính
trong quá trình sinh bệnh và có tác động cần thiết ngăn cản diễn biến xấu của vòng
bệnh lý.
Qua đây thấy rằng khâu chăm sóc hộ lý nhằm cắt được vòng bệnh lý đi là khâu vô
cùng quan trọng.
3.5. Các hiện tượng bệnh lý
Trong một cơ thể bị bệnh ta có thể nhìn thấy được nhiều hiện tượng bệnh lý khác
nhau. Chúng ta cần phải phân biệt và xác định những hiện tượng đó một cách chính
xác. Các hiện tượng đó là:
3.5.1. Phản ứng bệnh lý
Phản ứng bệnh lý là phản ứng của tế bào, của tổ chức hay cơ quan đối với tác
nhân gây bệnh với cường độ và chất lượng vượt ra ngoài giới hạn bình thường.
Ví dụ: Khi bị lạnh, cơ thể phản ứng lại bằng cách co mạch giảm thải nhiệt, tăng
sản nhiệt trong cơ thể, đó là phản ứng sinh lý. Nếu co mạch quá mức dẫn đến thiếu
máu từ đó dẫn đến hoại tử cơ. Nhưng nếu trung tâm điều hoà nhiệt bị rối loạn dẫn đến
hoạt động quá mức của cơ quan sinh nhiệt thì sinh ra sốt, còn trong một số bệnh khác
thì biểu hiện ho, nôn... ve thực chất đó là phản ứng bảo vệ sinh lý nhưng nếu quá mức
thì sẽ gây bệnh.
23
3.5.2. Quá trình bệnh lý
Quá trình bệnh lý là một phức hợp gồm nhiều phản ứng bệnh lý.
Ví dụ: Trong quá trình viêm người ta thấy có phản ứng vận mạch (co, giãn mạch),
phản ứng tăng sinh tế bào, phản ứng của thần kinh... Trong quá trình sốt ngoài phản
ứng tăng sản nhiệt còn có nhiều phản ứng nhằm giảm thải nhiệt.
Quan niệm về quá trình bệnh lý có tính chất động, nó bao gồm cả quá trình diễn
biến của bệnh.
3.5.3. Trạng thái bệnh lý
Là một quá trình bệnh lý biến chuyển chậm, kéo dài thành cố tật.
Ví dụ: Những người bị liệt, những người bị viêm khớp sau khi khỏi để lại vết
viêm làm cho khớp không cử động được nữa hoặc là viêm vú làm cho tuyến vú teo đi
không cho sữa.
3.6. Các giai đoạn phát triển của bệnh
Trong quá trình phát triển của bệnh, cơ thể có những biến đổi khác với khi ở trạng
thái bình thường. Đặc trưng cho những biến đổi đó là triệu chứng. Khi các nguyên
nhân gây bệnh tác động gây những biến đổi trong cơ thể biểu hiện ra bên ngoài gọi là
triệu chứng. Hoặc triệu chứng là những biểu hiện của động vật sống được quan sát và
miêu tả như bỏ ăn, ỉa chảy, bồn chồn, mất nước... và là kết quả của những biến đổi tổ
chức. Triệu chứng của bệnh thì muôn hình, muôn vẻ, nó bao gồm nhiều biến đổi về
hoạt động, về chức năng, biến đổi về chuyển hóa vật chất, biến đổi về thân nhiệt, về hô
hấp, về tim mạch đến những thay đổi về thành phần của máu, nước tiểu và cơ, sự biến
đổi về hình thái của cơ quan hay tổ chức.
Triệu chứng thay đổi tuỳ theo các loại bệnh khác nhau, tuỳ theo từng giai đoạn


phát triển của bệnh. Triệu chứng phụ thuộc vào đặc điểm cơ thể vào lứa tuổi vào quá
trình phát triển của bệnh, phụ thuộc vào môi trường ngoại cảnh bên ngoài.
Nhìn chung quá trình phát triển của bệnh không những diễn biến theo những quy
luật nhất định mà quá trình này còn có tính chất giai đoạn nhất định. Người ta thường
chia ra bốn thời kỳ cơ bản trong quá trình phát triển của bệnh. Sự phân chia này có ý
nghĩa quan trọng trong nghiên cứu và giúp cho việc phòng trị bệnh được chính xác
hơn. Tuy nhiên, việc định ra ranh giới các thời kỳ một cách rõ ràng chính xác là rất
khó khăn, cho nên sự phân chia ra các thời kỳ cũng chỉ là tương đối trong quá trình
phát triển liên tục của bệnh.
Dựa vào các triệu chứng người ta phân chia ra thành các thời kỳ phát triển của
bệnh như sau:
3.6.1. Thời kỳ nung bệnh (thời kỳ ủ bệnh)
Thời kỳ nung bệnh được bắt đầu từ khi nguyên nhân bệnh xâm nhập vào cơ thể
24
hoặc là nguyên nhân bệnh bắt đầu phát huy tác dụng cho đến khi mà cơ thể có những
phản ứng đầu tiên. Lúc này nguyên nhân bệnh chưa đủ số lượng và độc lực để làm cho
bệnh phát triển, đồng thời sức đề kháng của cơ thể còn mạnh, vì thế chưa có những
phản ứng biểu hiện của bệnh. Cơ thể cũng có thể tiêu diệt nguyên nhân bệnh, bệnh
không phát hoặc có thể tiến triển sang một giai đoạn khác.
Thời kỳ này dài hay ngắn là phụ thuộc vào các yếu tố sau đây:
- Số lượng, độc lực và cường độ tác động của nguyên nhân bệnh.
- Trạng thái cơ thể và tính mẫn cảm của cơ thể đối với sự tác động của nguyên
nhân.
- Vị trí mầm bệnh xâm nhập.
- Điều kiện ngoại cảnh (cả điều kiện bên ngoài: thời tiết khí hậu, chế độ dinh
dưỡng, chế độ chăm sóc quản lý...).
Bảng 1. Thời kỳ ủ bệnh của một số bệnh truyền nhiễm
Bệnh Thời gian ủ bệnh
ngắn nhất
Thời gian ủ
bệnh dài nhất
Thời gian ủ bệnh
trung bình
Nhiệt thán
Ung khí thán
Tụ huyết trùng
Sẩy thai truyền nhiễm
Lao
2-4 giờ
4-6 giờ
4-6 giờ
5-7 giờ
6-7 ngày
14-15 ngày
14-15 ngày
6-8 ngày
1-2 tháng


2-3 tháng
2-3 ngày
2-3 ngày
1 -2 ngày
13-14 ngày
15-45 ngày
Ý nghĩa: Nắm được thời kỳ nung bệnh, chúng ta có biện pháp phòng bệnh bằng
cách là cách ly các gia súc chưa biết được lý lịch của nó và nuôi cách ly trong khoảng
thời gian một tháng để theo dõi tình hình bệnh.
3.6.2. Thời kỳ tiền phát (thời kỳ tiền chứng)
Thời kỳ này bắt đầu từ khi cơ thể có những phản ứng đầu tiên đến khi bắt đầu xuất
hiện những triệu chứng chủ yếu. Ở giai đoạn này, nguyên nhân bệnh tác động mạnh
làm cho cơ thể thay đổi toàn bộ các phản ứng, khả năng thích nghi của con vật đã giảm
sút, con vật có một số biểu hiện dấu hiệu của bệnh gọi là tiền chứng.
Ví dụ: Trạng thái con vật thay đổi ủ rũ, bỏ ăn, hay nằm, thậm chí nằm không yên,
nếu đo nhịp tim có thể nhanh, hô hấp tăng, thân nhiệt cao, sung huyết ở niêm mạc...
Ý nghĩa: Căn cứ vào triệu chứng này ta có biện pháp hộ lý tốt hơn, chăm sóc tốt
hơn và bước đầu chẩn đoán thăm dò, dựa vào dịch tễ học (mùa vụ, vùng, lứa tuổi...)
bắt đầu sơ chẩn sau đó ta điều trị thăm dò. Giai đoạn này vô cùng quan trọng nên ta
cần chú ý.
3.6.3. Thời kỳ toàn phát
25
Bắt đầu từ khi cơ thể có những triệu chứng rõ rệt, triệu chứng điển hình cho từng
bệnh cho đến khi cơ thể có những chuyển biến nhất định. Ở thời kỳ này nguyên nhân
bệnh phát triển cực độ, sức đề kháng của con vật giảm, cơ thể có những cơ năng rối
loạn nghiêm trọng.
Ý nghĩa: Dựa vào các bệnh đã biết để có biện pháp đối phó với từng bệnh một
theo truyền nhiễm học để xử lý, nếu với số lượng lớn phải báo ngay cho cơ quan chức
năng cấp trên để có biện pháp phòng ngừa.
3.6.4. Thời kỳ kết thúc
Thời kỳ này dài hay ngắn chủ yếu phụ thuộc vào từng loại bệnh và đặc biệt là có
sự can thiệp của Bác sĩ Thú y. Cơ thể bệnh dần dần thuyên giảm, cường độ các triệu
chứng giảm dần rồi mất hết hoặc nó có thể tiếp tục theo vòng bệnh lý và con vật có thể
chết khi bị nặng hơn. Thời kỳ kết thúc của bệnh tuy phức tạp nhưng thường diễn biến
dưới ba hình thức khác nhau:
3.6.4.1. Khỏi hoàn toàn
Các nguyên nhân gây bệnh bị tiêu diệt hoàn toàn, các triệu chứng bệnh biến mất,
rối loạn về cơ năng, tổn thương về hình thái tế bào, mô và các cơ quan được phục hồi,
cơ thể trở lại trạng thái bình thường, khả năng lao động và năng suất được phục hồi
hoàn toàn. Riêng đối với một số bệnh truyền nhiễm thì khả năng phản ứng của cơ thể
thay đổi, phát sinh trạng thái miễn dịch đối với bệnh vừa mắc (bệnh đậu, bệnh tỵ thư).
3.6.4.2. Khỏi không hoàn toàn
Bệnh không hết hẳn, các nguyên nhân bệnh bị tiêu diệt nhưng không hoàn toàn,
nó có thể cư trú trong các tế bào, đặc biệt là trong các tế bào thực bào hoặc một khu
vực nào đó mà không phát huy tác dụng.
Ngoài ra, khỏi không hoàn toàn còn gồm:
- Để lại dị chứng: bệnh đã hết nhưng hậu quả về giải phẫu và chức năng thì vẫn


còn lâu dài (sau viêm não trí khôn giảm sút; gãy xương đã liền nhưng có dị lệch, khó
cử động, viêm nội tâm mạc đã hết nhưng để lại dị chứng hẹp van tim, xuất huyết não
đưa đến liệt một chi,…).
- Để lại trạng thái bệnh lý: diễn biến rất chậm và đôi khi có thể xấu đi, khó khắc
phục. Ví dụ: do chấn thương, bị cắt cụt một ngón tay; vết thương còn để lại sẹo lớn...
3.6.4.3. Chết
Chết là giai đoạn cuối cùng của sự sống, do rối loạn cao độ mà cơ thể không thể
thích ứng được với các điều kiện ngoại cảnh.
Chết có hai từ rìa hơn là chết sinh lý và chết bệnh lý.
Chết sinh lý: do tiêu hóa năng lượng trong quá trình sống giảm dần theo tuổi tác, già cỗi,
suy nhược đến một giai đoạn cơ thể không có khả năng thích ứng được với yếu tố ngoại cảnh.
26
- Chết bệnh lý: cơ thể phải trải qua một quá trình bệnh lý do các nguyên nhân tác
động gây những rối loạn nghiêm trọng không thể khôi phục được.
Chết là một quá trình, trong trường hợp điển hình gồm các giai đoạn sau: + Giai
đoạn ngưng cuối cùng: tim và hô hấp ngừng tạm thời (trong vòng 0,5 - 1 ,5 phút), mất
phản xạ mắt, đồng tử mở rộng, vỏ não bị ức chế, các hoạt động sống đều bị giới hạn.
+ Giai đoạn hấp hối: xuất hiện hô hấp trở lại - thở ngáp cá, tim đập yếu, phản xạ
có thể xuất hiện trong thời kỳ này, hoạt động của tuỷ sống ở mức tối đa để duy trì các
chức năng sinh lý, có thể kéo dài thời kỳ này từ một vài phút đến nửa giờ.
+ Giai đoạn chết lâm sàng: hoạt động của tim, phổi ngừng, thần kinh trung ương
hoàn toàn bị ức chế. Thời gian chết lâm sàng có thể kéo dài 5-6 phút, trong thời gian
đó có thể hồi phục được. Còn nếu không hồi phục được gọi là chết sinh vật.
+ Giai đoạn chết sinh vật: mọi khả năng hồi phục không còn nữa, rối loạn chủ yếu
ở hệ thần kinh trung ương. Trong chết sinh vật, các cơ quan, tổ chức trong cơ thể
không chết cùng một lúc mà trước tiên là hệ thần kinh cao cấp rồi đến tuần hoàn, hô
hấp...
Những nguyên nhân chính dẫn đến chết:
+ Ngừng hoạt động của tim như liệt tim, vỡ tim, tắc mạch.
+ Ngừng hô hấp, liệt trung khu hô hấp do xuất huyết não, thiếu máu hành tuỷ, bị
ngộ độc.
3.7. Cơ chế phục hồi sức khoẻ
Sau một quá trình bệnh lý thì cơ thể vật bệnh có thể phục hồi được sức khoẻ. Sức
khoẻ chỉ được phục hồi sau khi nguyên nhân gây bệnh ngừng tác động, trạng thái cơ
thể khi đó trở lại bình thường, tính hoàn chỉnh và giá trị kinh tế của nó được phục hồi.
Khi yếu tố gây bệnh tác động thì cơ thể luôn luôn có phản ứng bảo vệ hay thích ứng.
Cơ chế này có vai trò quan trọng trong sự phục hồi sức khoẻ.
Ví dụ: Yếu tố bệnh nguyên kích thích lên niêm mạc miệng, khi đó cơ thể có phản
ứng tăng tiết nước bọt và dịch nhầy. Nếu yếu tố bệnh nguyên tác động vào niêm mạc
mắt thì phản ứng tiết lệ được tăng cường; tác động vào đường hô hấp thì phản ứng ho,
hắt hơi; tác động vào đường tiêu hóa sẽ gây nôn.
Trong cơ thể xuất hiện phản ứng miễn dịch khi bị nhiễm khuẩn, phản ứng lành vết
thương, đông máu khi tổ chức bị tổn thương, rách nát. Cơ thể còn có phản ứng bù đắp
ở những cơ quan có từng cặp như thận, phổi, mắt. Khi chức năng của một trong cặp cơ
quan đó bị tổn thương thì chức năng của cơ quan kia sẽ tăng cường hoạt động nhằm bù
đắp lại Riêng trong hệ thống tuần hoàn, khi bị mất máu huyết áp được khôi phục một
cách nhanh chóng do phản ứng co huyết quản, tăng hút nước vào lòng mạch, tăng nhịp


tim và hô hấp, tăng hoạt động của các cơ quan tạo máu, hoặc khi hàm lượng oxy trong
máu giảm, gây rối loạn trao đổi chất dẫn tới sự ứ đọng các sản phẩm trao đổi trung
27
gian, các sản phẩm này có toan tính nên làm giảm lượng kiềm dự trữ trong cơ thể, dẫn
tới hiện tượng nhiễm axit, gây rối loạn hoạt động của hệ thống thần kinh trung ương,
rối loạn chức năng của các cơ quan khác như tăng hô hấp để nhanh chóng đào thải axit
hơi, tăng giữ muối kiềm tại thận để điều hoà axit - bazơ.
Cơ chế bảo vệ của cơ thể khi bị nhiễm khuẩn là tăng hoạt động của hệ thống lưới
nội mạc, tăng cường việc tạo ra kháng thể, tăng hiện tượng thực bào của các bạch cầu.
Qua các giai đoạn của bệnh, cường độ phản ứng bảo vệ cơ thể có thể khác nhau, có khi
ở mức độ cao, không đồng bộ có hại cho cơ thể như hiện tượng sốt là phản ứng bảo vệ
của cơ thể, nó làm tăng sinh kháng thể, tăng khả năng thực bào của bạch cầu nhưng
nếu sốt quá cao có thể gây nguy hại đến chức năng của hệ thần kinh và hệ tuần hoàn.
Hệ thống thần kinh trung ương có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ cơ thể và trong
quá trình khôi phục sức khoẻ. Điều đó được chứng minh trong các thí nghiệm là khi
gây mê ức chế vỏ não, các quá trình tăng sinh và tái sinh đều giảm, huyết áp khôi phục
chậm sau khi mất máu, giảm phản ứng miễn dịch...
4. TÍNH PHẢN ỨNG CỦA CƠ THỂ VÀ BỆNH LÝ CỦA QUÁ TRÌNH MIỄN
DỊCH
4.1. Tính phản ứng của cơ thể
4.1.1. Khái niệm về tính phản ứng của cơ thể
Trước tác động của một kích thích nào đó (gây bệnh, hoặc không gây bệnh), cơ
thể động vật đáp ứng lại bằng một hay nhiều phản ứng. Trước một kích thích nhất
định, có loại phản ứng là chung cho nhiều loài, ví dụ: đồng tử co nhỏ lại khi ánh sáng
đủ cường độ chiếu vào võng mạc; tăng glucoza huyết khi đau đớn... Có loại phản ứng
chỉ là chung cho các cá thể trong một loài; và có loại phản ứng của cá thể (không hoàn
toàn giống nhau giữa các cá thể của một loài). Ví dụ, phản ứng chung của mọi người là
tăng nhịp tim khi bị stress nhưng có người tăng quá nhiều (quá hồi hộp, lo lắng),
ngược lại, có người lại tăng rất ít. Nếu nhiều cá thể có chung một phản ứng trước một
kích thích, người ta xếp họ thành nhóm và thành kiểu phản ứng.
Đa số các phản ứng in đậm dấu vết di truyền mang tính bẩm sinh nhưng cũng có
nhiều phản ứng hình thành trong quá trình sống, chịu ảnh hưởng của tuổi, giới tính,
trạng thái thần kinh-nội tiết, môi trường, thời tiết,...
Vậy tính phản ứng là tập hợp các đặc điểm phản ứng của cơ thể trước các kích
thích nói chung và trước bệnh nguyên nói riêng. Tính phản ứng khác nhau có thể làm
quá trình bệnh sinh ở mỗi cá thể và mỗi nhóm không giống nhau, đưa lại các kết quả
khác nhau (tết, xấu, nặng, nhẹ).
4.1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến tính phản ứng
4.1.2.1. Thần kinh
- Trạng thái vỏ não: Nếu vỏ não ở trạng thái hưng phấn, thường tạo ra những phản
28
ứng mạnh và nếu ức chế thì ngược lại. Con vật bị gây mê đáp ứng kém với các kích
thích (tiêm adrenalin, mất máu,...) so với khi nó còn tỉnh.
Loại hình thần kinh: loại hình thần kinh mạnh cân bằng thì tính phản ứng mạnh,
nhanh chóng; loại hình thần kinh mạnh không cân bằng thì tính phản ứng mạnh nhưng
kéo dài; loại hình thần kinh yếu thì tính phản ứng yếu.
- Vai trò thần kinh thực vật: nếu kích thích thần kinh giao cảm thấy tăng quá trình


trao đổi chất và tăng tính phản ứng nói chung đối với protein lạ, vi khuẩn, hormon.
Còn nếu kích thích thần kinh phó giao cảm thì sẽ tăng cường việc tạo ra kháng thể,
tăng phản ứng bạch cầu, tăng khả năng ngăn cản của gan và hệ thống bạch huyết.
4.1.2.2. Vai trò nội tiết
Các tuyến nội tiết như: tuyến yên, tuyến thượng thận, tuyến giáp trạng, tuyến tuỵ
đều ảnh hưởng đến tính phản ứng của cơ thể nhưng chủ yếu là tuyến yên và vỏ thượng
thận.
Theo nhà bác học Hans Selye: Bất cứ một tác động mạnh nào tác động vào cơ thể
đều gây ra một chuỗi phản ứng. Chuỗi phản ứng này kết hợp với nhau thành hội chứng
chung mà cơ sở hoạt động của nó là các tuyến nội tiết. Cụ thể là hom lon của tuyến
yên adrenocorticotropic hormon (ACTH) và vỏ thượng thận. Khi bị kích thích mạnh
thì các trung tâm dưới thị tiết ra một số hom lon thần kinh (hay yếu tố giải phóng), các
hormon này được dẫn tới tuyến yên bằng đường máu làm tăng tiết ACTH và cortisol
và sau đó tiết STH dẫn đến kích thích tiết ra aldosteron.
* Vai trò của ACTH và cortisol: có tác dụng chống hiện tượng viêm và chống dị
ứng Chống hiện tượng viêm đặc hiệu hạn chế các phản ứng thực bào, ức chế phát triển
các tổ chức liên kết, tổ chức hạt, giảm tính thấm của thành mao mạch, cho nên làm
giảm hiện tượng phù nề và tiết dịch. Mặt khác người ta thấy nó hạn chế sự hình thành
mao mạch tân tạo, giảm viêm đặc hiệu, làm thoái biến các tổ chức bạch huyết, làm tan
vỡ các tương bào, lympho bào dẫn đến giảm kháng thể.
* Vai trò của STH (Somatotropic hormon) và aldosteron: có tác dụng đối lập với
hai nhóm hormon trên. STH làm tăng quá trình viêm, kích thích tổ chức liên kết tăng
sinh qua đó chống nhiễm trùng, chống hoại tử tổ chức. STH làm tăng tổ chức bạch
huyết, tăng tổng hợp globulin và kháng thể. Aldosteron chủ yếu điều hoà nước và điện
giải, ngược lại của cortisol tăng tính viêm, tăng sinh các tổ chức xơ non của tổ chức
hạt, phát triển mạnh mao mạch, tăng cường phản ứng thực bào, giữ lại ton kali và con
natri.
4.1.2.3. Lứa tuổi
Động vật non, hệ thần kinh đặc biệt là hệ thần kinh cao cấp chưa hoàn thiện cho
nên phản ứng gây rối loạn điều hoà nhiệt rất mạnh, hàng rào miễn dịch chống nhiễm
trùng ở niêm mạc, ở da chưa hoàn chỉnh. Động vật non không mẫn cảm với một số
29
bệnh và nó được miễn dịch là do được mẹ truyền cho γ-globulin qua nhau thai hoặc
qua sữa mẹ, phản ứng thực bào của động vật non yếu.
Động vật trưởng thành, tính phản ứng được tăng cường phát triển theo sự phát
triển hoàn thiện tổ chức của cơ thể, đặc biệt là của hệ thần kinh và hàng rào bảo vệ của
da, của niêm mạc. Khả năng sản xuất kháng thể mãnh liệt, tính phản ứng mạnh mẽ
điển hình, nhiều khi dữ đội, vết thương mau lành, sức khoẻ nhanh hồi phục.
Động vật già yếu, tính phản ứng kém vì hệ thần kinh, hàng rào phòng ngự bị suy
giảm, bệnh tiến triển không rõ rệt, không điển hình, phục hồi chậm, vết thương khó
lành, tỷ lệ chết cao.
4.1.2.4. Yếu tố và môi trường bên ngoài
Tiểu khí hậu chuồng nuôi nhiễm lạnh làm cho sức đề kháng của con vật giảm dẫn
đến bệnh nhiễm nẫng.
- Các hóa chất tác dụng lâu cũng gây thay đổi tính phản ứng.
Ví dụ. Uống rượu nhiều gây hiện tượng xơ gan, viêm dạ dầy làm cho khả năng
phòng bệnh giảm, chống vi khuẩn kém.


- Tia phóng xạ làm giảm sức đề kháng, chủ yếu là diệt tế bào gốc ở tuỷ xương.
- Dinh dưỡng: tình trạng dinh dưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến tính phản ứng của
cơ thể. Đói và bệnh dịch đi song song với nhau.
+ Protein là thành phần quan trọng trong khẩu phần ăn của động vật. Nếu thiếu
protein làm phát sinh ổ nhiễm trùng, nếu thiếu nặng dẫn tới phù, dễ phát sinh bệnh lao.
+ Thiếu vitamin A làm giảm sức đề kháng của niêm mạc, giác mạc gây ra một
loạt các bệnh như viêm giác mạc, viêm họng, nứt nẻ da.
+ Thiếu vitamin B làm yếu các hoạt động thực bào, ảnh hưởng đến quá trình oxy
hóa của tế bào, làm cho con vật chậm lớn, giảm tạo máu sinh ra bệnh còi cọc.
+ Vitamin C đầy đủ tăng sức đề kháng, thiếu vitamin C làm giảm sức đề kháng,
đặc biệt là trong trường hợp nhiễm khuẩn trong bệnh truyền nhiễm.
+ Vitamin D ảnh hưởng tới sự mất cân bằng khoáng dẫn tới bệnh còi xương, mềm
xương.
Nói chung dinh dưỡng thiếu biểu hiện các triệu chứng sau: nhiệt độ không cao
ngay cả khi bệnh cấp tính như cúm, viêm phổi, phản ứng bạch cầu yếu hoặc là không
có. Hiệu giá ngưng kết của các phản ứng huyết thanh học yếu, có khi âm tính. Các
triệu chứng lâm sàng bên ngoài yếu kém, có thể không nhìn thấy, bệnh tiến triển nặng
kéo dài dai dẳng, tỷ lệ chết cao. Vì vậy chăm sóc hộ lý dinh dưỡng tết có tính quyết
định tính phản ứng trong quá trình bệnh lý.
Ngoài ra yếu tố giới tính cũng ảnh hưởng đến cơ thể. Trong y học, đàn ông hay
30
mắc bệnh dạ dầy, loét hành tá tràng hơn là ở phụ nữ; đàn ông hay bị nhồi máu cơ tim,
u độc ở phổi hơn là ở phụ nữ. Ở phụ nữ hay gặp viêm vú, túi mật, u độc ở vú.
4.2. Bệnh lý của quá trình miễn dịch
4.2.1. Khái niệm về miễn dịch bệnh lý
Miễn dịch là trạng thái của động vật không mắc phải tác động có hại của vi sinh
vật, trong khi vi sinh vật đó gây bệnh cho các loài vật khác hoặc cho con vật cùng loài,
trong những điều kiện lây lan hay truyền bệnh tương tự. Miễn dịch là một khả năng đề
kháng cũng giống như nhiều khả năng đề kháng khác (viêm, sếu của cơ thể, trong
những trường hợp nhất định, phản ứng đề kháng có thể trở thành có hại cho cơ thể. Đó
chính là miễn dịch bệnh lý.
4.2.2. Đại cương về đáp ứng miễn dịch
Trước sự tấn công của các yếu tố gây bệnh bên ngoài, cơ thể sinh vật có một loạt
những khả năng đề kháng không đặc hiệu và đặc hiệu. Khả năng đề kháng không đặc
hiệu là hàng rào vật chất ngăn cách bên ngoài và bên trong đó là da và niêm mạc, là
các chất tiết như mồ hôi, dịch nhầy, là các tế bào chuyên trách bên trong cơ thể như
các thực bào và các chất thoát đặc biệt gọi là kháng thể không đặc hiệu như bổ thể
lizin, chất propecdin và opsonin.
Khả năng đề kháng đặc hiệu là những chất thoát gọi là kháng thể đặc hiệu do cơ
thể tổng hợp sẵn hay nó được sản xuất ra dưới tác động của một số chất gọi là kháng
nguyên.
4.2.2.1. Kháng nguyên
a) Khái niệm
Kháng nguyên là những dị chất đối với cơ thể như vi khuẩn, vi rút, độc tố...bên
ngoài vào cơ thể động vật hoặc người thì kích thích cơ thể sản sinh ra những chất đặc
biệt có phản ứng đối lập với chúng gọi là kháng thể. Kháng thể sinh ra sẽ kết hợp một
cách đặc hiệu với kháng nguyên tương ứng.


b) Đặc tính của kháng nguyên
- Tính đặc hiệu: Đặc hiệu của kháng nguyên là đặc điểm nhờ đó kháng nguyên có
thể phản ứng một cách đặc hiệu với kháng thể dịch thể hoặc kháng thể tế bào do kháng
nguyên có nhóm quyết định. Nhóm quyết định kháng nguyên là phần bề mặt kháng
nguyên có khả năng liên kết một cách đặc hiệu với phân tử kháng thể hoặc tế bào
lympho đã mẫn cảm. Các axit quan được phân phối trên bề mặt của kháng nguyên
hình thành các nhóm quyết định; các nhóm này chi phối các cơ quan sinh kháng thể,
tạo loại kháng thể đặc hiệu ăn khớp với kháng nguyên đó.
- Tính lạ của kháng nguyên: Kháng nguyên càng khác xa loài sinh vật nhận kháng
nguyên bao nhiêu thì khả năng sinh kháng thể càng mạnh bấy nhiêu. Ví dụ: Lấy huyết
31
thanh người mà tiêm cho bò thì có tính kháng nguyên mạnh hơn là khi lấy huyết thanh
dê tiêm cho bò.
Kháng nguyên ở con vật hoàn toàn khác loài gọi là dị kháng nguyên - đó là kháng
nguyên mạnh. Những sinh vật cùng một loài có những kháng nguyên khác nhau gọi là
đồng kháng nguyên. Tuy nhiên, tính chất lạ của kháng nguyên cũng chỉ là tương đối vì
nhiều kháng nguyên có đồng thời trong nhiều sinh vật khác nhau, ví dụ như kháng
nguyên nhóm máu B có ở người và cả ở trong hạt đỗ đỏ nữa, hay kháng nguyên H có
trên hồng cầu người và hồng cầu lươn.
- Kháng nguyên có phân tử lượng cao: Thông thường các kháng nguyên có trọng
lượng phân tử lớn và thường đào thải chậm làm tăng khả năng mẫn cảm của cơ thể. Ví
dụ: protein của huyết thanh như albumin (TLPT: 60.000), IgG (TtPT: 160.000), IgM
(TLPT: 90.000), Các phân tử cực lớn như vi rút thuốc lá (17.000.000) là những chất
kháng nguyên mạnh.
Kháng nguyên phải là những chất mà cơ thể tiêu được nhưng lại tồn tại lâu trong
cơ thể. Những chất trơ không tiêu được như methyxeluloza không sinh kháng thể có lẽ
vì cơ thể không nhận diện được cấu trúc của chất này, cho nên không thông tin cho tổ
chức có thẩm quyền tổng hợp kháng thể. Những chất tiêu quá nhanh như chất có trọng
lượng phân tử nhỏ cũng không có khả năng sinh kháng thể vì chúng được đào thải ra
ngoài quá sớm cũng không kịp cho cơ thể nhận diện.
c) Số phận của kháng nguyên trong cơ thể vật chủ
Kháng nguyên đưa vào cơ thể vật chủ bằng bất cứ đường nào, trước tiên xuất hiện
trong máu rồi đến một số tế bào. Trong máu, kháng nguyên hoà tan trong máu (từ 1015 phút) sau đó khuếch tán ra khoang gian bào, đậm độ kháng nguyên hạ nhanh trong
máu và kéo dài vài ngày rồi tự phân huỷ từ từ và đột nhiên biến mất vì kháng thể đã
bắt đầu xuất hiện. Sau đó thấy kháng nguyên ở tổ chức liên võng nội mạc trong những
hạch gần đường xâm nhập của kháng nguyên nhất (ở các hạch bạch huyết ngoại vi nếu
là tiêm bắp), rồi đến các nơi khác. Như vậy kháng nguyên đã được tế bào của tổ chức
này ăn đi.
d) Những yếu tố ảnh hưởng đến tính sinh kháng thể của kháng nguyên
- Liều lượng: Trong miễn dịch vi khuẩn, người ta nhận thấy tiêm chủng liều nhỏ
và nhiều lần tết hơn là tiêm một lần liều lớn. Trong gây miễn dịch ung thư thực
nghiệm lại thấy là nếu đưa các tế bào ung thư vào hoặc quá nhiều hoặc quá ít thì đều
không gây được miễn dịch.
- Đường vào của kháng nguyên: kháng nguyên có thể được đưa vào bằng nhiều
đường khác nhau mà vẫn có thể gây được miễn dịch nhưng nó không bị biến tính hoặc
huỷ hoại trong khi xâm nhập vào cơ thể vật chủ. Các kháng nguyên ở dạng bụi, bột


phấn hoa, khói, có thể qua đường hô hấp. Vi khuẩn, vi rút có thể qua da, niêm mạc hô
hấp, tiêu hóa.
32
- Vai trò của tá chất: Tính kháng nguyên của một chất có thể được tăng cường nếu
kết hợp nó với một tá chất. Cơ chế tác dụng chưa rõ ràng nhưng có thể tá chất gây viêm
tại chỗ tiêm làm cho kháng nguyên lâu tiêu và đặc biệt nó kích thích mạnh cơ quan sinh
kháng thể. Tá chất thường là những chất trơ khó tiêu: dầu pHrafin, keo phèn...
4.2.2.2. Kháng thể
Khái niệm: Kháng thể là những chất thuộc loại cầu đàn mạch (globulin) đặc biệt
xuất hiện trong huyết thanh khi một kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể, cơ thể phản
ứng lại bằng cách sinh ra kháng thể chống lại kháng nguyên đó, làm cho kháng nguyên
mất tác dụng gây bệnh. Tính chất đặc biệt của kháng thể là kết hợp với kháng nguyên
đã sinh ra nó.
Trước sự xâm nhập của kháng nguyên vào cơ thể, vật chủ có 2 cách đáp ứng: - Đáp
ứng miễn dịch dịch thể: bằng cách tổng hợp các kháng thể hoà tan trong huyết thanh.
- Đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào tổng hợp nên kháng thể đặc hiệu, các
kháng thể này liên kết chặt chẽ trên bề mặt của tế bào đã sản xuất ra nó, không hoà tan
trong huyết thanh gọi là kháng thể cố định (kháng nguyên tế bào).
a) Kháng thể dịch thể
- Định nghĩa: Kháng thể dịch thể có thể hiểu như tất cả những chất dịch giúp sinh
vật chống lại các yếu tố có hại xâm nhập vào cơ thể.
+ Kháng thể tự nhiên (kháng thể không đặc hiệu) có sẵn trong huyết thanh: α, β,
lyzin, propecdin, hệ thống bổ thể (có 9 loại từ C1 đến C9) để diệt khuẩn.
+ Kháng thể đặc hiệu bản chất của nó chính là γ-globulin. Globulin miễn dịch "Ig"
(Immunoglobulin) do quá trình miễn dịch tạo ra. Theo định nghĩa quốc tế OMS-1994
"Các globulin miễn dịch là tất cả các protein huyết thanh và protein nước tiểu có tính
chất kháng nguyên và cấu trúc giống như globulin thì được ký hiệu viết tắt là Ig". Như
vậy globulin miễn dịch bao gồm các loại kháng thể có những protein có cấu trúc giống
như globulin miễn dịch mà đến nay chưa được biết rõ.
- Cấu trúc kháng thể:
Nhờ các phương pháp về điện di, sắc ký, chiết tách, siêu ly tâm, miễn dịch hấp
phụ cho đến nay người ta đã phân được 5 loại Ig trong kháng thể dịch thể.
Tên Trọng lượng phân tử Đậm độ trong huyết thanh
IgG hay γM 150.000 1200-1400 mg%
IgA hay γA 170.000 100- 400 IgM - γM 900.000 50-200 IgD - γD 155.000 3-14 IgE - γE 195.000 0,1-0,14 33
- Khi nghiên cứu sinh thái học thì cấu trúc của 5 loại này đều giống nhau, đều gồm
4 chuỗi đa peptit: 2 chuỗi nặng H và 2 chuỗi nhẹ L, nối lại với nhau bằng "cầu nối
disunfua (s-s)" và người ta thấy rằng có từng chuỗi nặng riêng cho từng loại miễn dịch.
Chuỗi nặng Gamma IgG
Chuỗi nặng Alpha IgA
Chuỗi nặng Muy IgM
Chuỗi nặng Delta IgD
Chuỗi nặng Epsilon IgE


Sơ đồ cấu trúc kháng thể (Theo Bác học Porter)
(KT: kháng thể; KN: kháng nguyên; KHBT: kết hợp bổ thể)
Vị trí kết hợp kháng thể với kháng nguyên nằm ở giữa chuỗi nặng và chuỗi nhẹ ở
đầu tận cùng NH2. Như vậy, trên một phân tử globulin miễn dịch có hai vị trí kết hợp
kháng nguyên. Thường khi kết hợp với kháng nguyên thì hai đầu tận cùng đó mở rộng
ra như hai cánh tay để một đơn vị kháng thể có thể kết hợp với hai đơn vị kháng
nguyên. Đó là trường hợp kháng thể hoàn toàn tức đa hóa trị (như IgM). Do kháng
nguyên cũng có nhiều trung tâm hoạt động cho nên khi kết hợp này sẽ bắt vào nhau
mà thành một màng lưới làm cho sự kết hợp dễ lắng đọng trong dung môi dưới hình
thức lên bông, kết tủa, vẩn mây...
Khi hai cánh không mở rộng làm cho một đơn vị kháng thể chỉ có thể kết hợp với
1 đơn vị kháng nguyên thì gọi là kháng thể không hoàn toàn hay kháng thể đơn hóa trị.
Cho nên kết hợp KN-KT sẽ không đủ lớn để lắng đọng.
- Đặc điểm và phân loại kháng thể
Kháng thể hay globulin miễn dịch là những thành phần của thoát huyết thanh nên
dễ bị nhiệt độ (700C), các chất axit, kiềm và men phá huỷ.
IgG: Phấn lớn kháng thể là IgG, chúng có hoạt động hữu ích là trung hoà độc tố,
tạo phản ứng ngưng kết khi gặp kháng nguyên tương ứng, phản ứng opsonin hóa và
khi kết hợp với bổ thể thì làm tan vi khuẩn. Hoạt động gây tổn thương cho sinh vật là
tạo phức hợp kháng nguyên-kháng thể và đọng lại tại các tổ chức và gây tổn thương tại
nơi đó.
34
IgA: chủ yếu nằm trong thành phần của các dịch tiết như sữa đầu, nước bọt, dịch
ruột, vì các hạch ngoại tiết chứa rất nhiều tương bào sản xuất IgA. Kháng thể này có
khả năng trung hoà độc tố, tạo phản ứng ngưng kết và opsonin hóa, giúp cơ thể chống
lại các kháng nguyên có ở bề mặt các niêm mạc và giữ một vai trò đáng kể trong miễn
dịch tại chỗ.
IgM: là loại kháng thể hình thành sớm, thường có tỷ lệ cao khi IgG thấp. Loại
kháng thể này có hoạt động hữu ích và gây tổn thương gần giống như IgG.
IgE: là loại kháng thể thấy tăng trong các bệnh quá mẫn như hen, nổi mề đay...
Kháng thể này tác động làm thay đổi tính thấm của thành mao mạch.
IgD: cho đến nay chưa biết rõ tác dụng và đang được tiếp tục nghiên cứu.
b) Kháng thể cố định (kháng thể tế bào)
Kháng thể cố định là những kháng thể được gắn ngay trên bề mặt tế bào lympho T
sản xuất ra chúng. Những tế bào lympho đi từ tuỷ xương đến tuyến ức được huấn
luyện thành tế bào lympho T. Hiện nay người ta chưa thể tách loại kháng thể này ra
khỏi tế bào nên chưa biết được cấu trúc của nó.
Khi gây mẫn cảm cho động vật bằng kháng nguyên tạo miễn dịch cố định (như
mảnh da ghép, vi khuẩn lao) thì một nhóm tế bào mới sinh sản từ tế bào tuyến ức (T)
được hình thành - người ta gọi chúng là tế bào effector. Sau khi mẫn cảm kháng
nguyên 1 -2 ngày, các tế bào này xuất hiện ở vùng tuyến ức và các cơ quan 1ympho
ngoại biên như lách, hạch (đặc biệt tập trung nhiều ở vùng tuỷ đỏ của lách) - đó là
những effector đặc hiệu.
Mặt khác trong quá trình miễn dịch, một số thành phần của kháng thể và bổ thể
cũng có tác dụng hoạt hóa một số tế bào đơn nhân, đại thực bào, tế bào Kuppfer. Các
tế bào này cũng trở thành hoạt động nhưng không do sự kích thích của kháng nguyên,
người ta gọi chúng là nhóm tế bào effector không đặc hiệu.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×