Tải bản đầy đủ

Tình hình áp dụng thuế giá trị gia tăng (VAT) trên thế giới và bài học kinh nghiệm từ những nước đã áp dụng

Mục lục
Đề mục

Nội dung

Phần I
Phần II
1
2
3
II
1
2
3
4
Phần III

Lời mở đầu
Những vấn đề chung về thuế GTGT
Khái niệm
Sự ra đời và phát triển của thuế GTGT

Tại sao lại chọn thuế GTGT
Nội dung chủ yếu của thuế GTGT
Xác định phạm vi áp dụng
Các hình thức thuế GTGT
Thuế suất
Quản lý thuế GTGT
Tình hình áp dụng thuế GTGT trên thế giới và bài học kinh
nghiệm từ những nớc đã áp dụng.
Tình hình áp dụng thuế GTG T ở một số nớc
Thuỵ Điển
Philipine
Trung Quốc
Một số nớc kinh tế phát triển vẫn cha áp dụng thuế GTGT
Hoa Kỳ
Australia
Bài học kinh nghiệm rút ra từ những nớc đã áp dụng thuế GTGT.
Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT.
Những tồn tại của hệ thống thuế hiện hành
Sự cần thiế phải cải cách chính sách thuế
Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam
Đánh giá tình hình triển khai thực hiện thuế GTGT ổ Việt
Nam
Những kết quả đạt đợc sau hơn 2 năm thực hiện
Những yếu tố thúc đẩy việc triển khai thực hiện thuế GTGT đạt đợc những kết quả trên
Một số vớng mắc trong quá trình thực hiện
Các biện pháp xử lý vớng mắc và phơng hớng sắp tới
Kết luận

I
1
2
3
II
1
2
III
Phần IV
I
II
III

Phần V
I
II
III
IV
Phần VI

Số
trang
2
3
3
3
4
6
6
8
9
10
12
12
12
13
14
15
16
17
17
19
19
20
20
23
24
31
34
39
45

lời mở đầu

Thuế là nguồn thu ổn định của Nhà nớc, là công cụ phân phối thu nhập quốc
dân, thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế và là công cụ bảo vệ kinh tế trong nớc, cạnh
tranh với nớc ngoài.
Từ năm 1999 trở về trớc, chúng ta đã sử dụng thành công cơ chế thuế cũ, tuy
1


nhiên trong tình hình mới , do xu hớng toàn cầu hoá chung của thế giới, cơ chế thuế
hiện hành ở Việt Nam đã lộ rõ một số mặt bất cập, dẫn đến khó khăn về quản lý, điều
hành thuế và thất thu Ngân sách quốc gia.
Vì vậy việc áp dụng một số luật thuế mới trong giai đoạn này là hết sức cần
thiết. Trong đó thuế giá trị gia tăng (GTGT) đã có những đóng góp quan trọng cho tiến
trình cải cách chính sách thuế của Nhà nớc.
Trên thế giới, thuế GTGT (hay còn gọi là VAT) đã có lịch sử lâu đời (bắt đầu
xuất hiện năm 1917) và qua quá trình kiểm nghiệm ở nhiều nớc trên thế giới, nó đã
thể hiện đợc tính u việt của mình so với các loại thuế tơng đơng. Mặc dù vậy một số nớc cũng đã áp dụng không thành công thuế GTGT do cha chuẩn bị kỹ cơ sở hạ tầng
cho một có chế thuế mới cũng nh do cha nắm bắt rõ bản chất loại thuế này.
Chính vì vậy mục đích của đề án này là tìm hiểu bản chất của thuế GTGT, đánh
giá tình hình thực hiện ở Việt Nam trong những năm vừa qua và đề xuất những biện
pháp xử lý thuế trong thời gian tới nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống thuế ở Việt
Nam.

2


Phần II. Những vấn đề chung về thuế giá trị gia
tăng.
I./ Thuế giá trị gia tăng (GTGT).
1./ Khái niệm.
Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát
sinh trong quá trình từ sản xuất, lu thông đến tiêu dùng.
2./ Sự ra đời và phát triền của thuế GTGT.
Năm 1954 thuế GTGT lần đầu tiên ra đời tại Pháp dới hình thức thuế đánh vào
giai đoạn sản xuất. Đến năm 1968, thuế này đợc nhập vào thuế lu thông đánh vào dịch
vụ và thuế địa phơng đánh vào lu thông bán lẻ thành một loại thuế thống nhất chung
thu ở giai đoạn bán lẻ (viết tắt theo tiếng Pháp là TVA). Từ đó đến nay do tính u viết
của mình, thuế GTGT ngày càng đợc sử dụng rộng khắp ở nhiều nớc trên thế giới.
Thuế GTGT đợc sớm áp dụng ở Châu âu, chỉ hơn hai mơi năm sau khi ra đời hình thức
sơ khai đầu tiên, nó đã đợc coi là một trong những điều kiện tiên quyết để gia nhập
khối EC (năm 1977).
Tính đến năm 1995, trên thế giới có tới hơn 100 nớc áp dụng thuế GTGT. Riêng
Châu á kể từ năm 80 trở lại đây đã có sự gia tăng vợt bậc về số lợng các thành viên sử
dụng VAT. Đầu tiên là Triều Tiên (1977), tiếp đến là Indonexia (1985), Đài Loan
(1986), Philipine (1988), Mông Cổ (1993), Trung Quốc (1994) và Việt Nam (1999).
Việc áp dụng một phơng pháp tính thuế mới ở một quốc gia không phải là vấn
đề đơn giản, hệ thống thuế ảnh hởng trực tiếp đến ngân sách và vấn đề phát triển kinh
tế của quốc gia đó. Chính vì vậy, không chỉ ở những nớc đang phát triển mà ở một số
nớc kinh tế phát triển, do những quan điểm khác nhau trong việc nghiên cứu nên quyết
định áp dụng thuế GTGT kéo dài trong nhiều năm nh:
Nhật Bản đa ra đề nghị áp dụng GTGT từ những năm 1955 đến năm 1986 nhng
tháng 4 năm 1989 mới thực hiện.
Newzeland: Phản đối kịch liệt thuế GTGT vào đầu những năm 80 nhng đã ban

3


hành GTGT tháng 5 năm 1986.
Hy Lạp đồng ý chuyển sang GTGT khi ra nhập EC năm 1981 với t cách một
thành viên chính thức, nhng đến tháng 1 năm 1987 mới ban hành GTGT.
Canada ban đầu cũng rất phản đối việc ban hành GTGT thay thế cho thuế bán lẻ
đang đợc lu hành ở các bang song đến tháng 1 năm 1991, GTGT đã đợc ban hành.
Thuỵ Sỹ đã phản đối đề nghị ban hành GTGT thay thế cho bán lẻ hiện hành.
Song tháng 1 năm 1995, Thuỵ Sỹ đã ban hành GTGT.
3./ Tại sao lại chọn thuế GTGT.
(1) thuế GTGT ra đời là một chu cầu tất yếu đối với nền kinh tế khi cơ cấu
thuế cũ không còn đáp ứng đợc nhu cầu trong tình hình mới. Nói chung các yêu cầu
đó có thế chia thành bốn dạng sau:
Thứ nhất: Thuế doanh thu hiện hành không đáp ứng đợc yêu cầu thu và quản lý,
có nhiều bất hợp lý (nh trùng lặp, quá phức tạp gây tâm lý nặng nề, hiệu quả không
cao).
Thứ hai: Do quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, yêu cầu
mở rộng lu thông hàng hoá giữa các nớc đòi hỏi bãi bỏ, giảm thuế ở cửa khẩu đối với
xuất nhập khẩu hàng hoá là rất quan trọng, nó giúp kích thích các nghành sản xuất
dịch vụ trong nớc, khuyến khích xuất khẩu những tiềm lực quốc gia và góp phần thúc
đẩy những mặt hàng thiết yếu. Trong xu thế hiện nay, không thể tồn tại nền kinh tế
đóng, hoặc gần nh đóng do những rào cản thuế quan bất hợp lý. Thuế GTGT ra đời đã
phần nào đáp ứng đợc những yêu cầu trên.
Thứ ba: Tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nớc và có điều kiện thu hẹp các loại
thuế khác. Đa số các cơ chế thuế hiện hành của các nớc khi cha áp dụng thuế GTGT
đều cồng kềnh, phức tạp và có nhiều sự chồng chéo, điều đó gây khó khăn cho việc
quản lý thuế của Nhà nớc (nh tính thuế, thu thuế, giải quyết các trờng hợp quá hạn
thuế, miễn thuế..) cũng nh việc kinh doanh của ngời dân. Tình trạng này dễ dàng gây
ra tâm lý ngại thuế, tránh thuế làm thất thu cho Ngân sách một khoản không nhỏ. Để
giải quyết các vấn đề trên cần phải có một cơ chế thuế mới phù hợp và rõ ràng đối với
tất cả mọi ngời, và thuế GTGT là một giải pháp.

4


Thứ t: Sự phát triển của kinh tế đòi hỏi sửa đổi hệ thống thuế cho phù hợp.
Chúng ta đã biết rằng mỗi một thời kỳ phát triển kinh tế cần phải có một hệ thống
chính sách quản lý cho phù hợp, không có một cơ chế nào dúng cho mọi lúc mọi nơi.
Vấn đề quản lý thuế cũng không nằm ngoài quy luật ấy.
(2) Nh vậy thuế GTGT ra đời trớc hết để đáp ứng tình hình mới, sau một thời
gian đợc áp dụng và kiểm nghiệm, thuế GTGT đợc đại đa số các nớc trên thế giới thừa
nhận về những u điểm nổi bật của nó ở các mặt sau:
a.
Khắc phục đợc một số mặt hạn chế của thuế doanh thu hiện hành. Có
khả năng mang lại nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà nớc. Kinh nghiệm của các nớc:
Indonexia, Newzeland, Bồ Đào Nha và Tuinidi đã chứng minh rõ điều này. Đại đa số
các nớc áp dụng thuế GTGT, khoản thu từ số thuế này thờng đảm bảo từ 12% đến 30%
tổng số thu của Ngân sách Nhà nớc (tơng đơng khoảng 5% đến 10% tổng sản phẩm
quốc dân).
b.
Tính trung lập: Với điều kiện số lợng đối tợng đợc miễn hạn chế và sự
vận dụng thuế suất 0% chỉ hạn chế đối với hoạt động xuất khẩu, GTGT là một thứ
thuế trung lập và không dẫn đến bất kỳ một sự méo mó nào. Điều này thể hiện tính u
việt của thuế GTGT so với các loại thuế đợc nó thay thế.
c.
Tính đơn giản: Tính đơn giản của thuế GTGT bắt nguồn từ cơ chế đánh
thuế và khấu trừ thuế của nó. Đối tợng nộp thuế GTGT sẽ thu số GTGT khi bán hàng
và khấu trừ số thuế GTGT đã nộp khi mua vật t, hàng hoá đầu vào, số chênh lệch còn
lại nộp vào Ngân sách Nhà nớc. (Việc tính thuế căn cứ vào các hoá đơn bán hàng và
mua hàng).

II. Nội dung chủ yếu của thuế GTGT.
1./ Xác định phạm vi áp dụng.
Về đối tợng chịu thuế: GTGT là loại thuế đánh vào sử dụng, có nghĩa là đánh
vào ngời tiêu dùng, ngời nộp thuế là ngời kinh doanh, ngời chịu thuế là ngời tiêu dùng
trực tiếp và gián tiếp nộp thuế thông qua ngời kinh doanh.
Đối tợng nộp thuế: Tất cả các thể nhân và các pháp nhân có cung cấp hoặc
nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.

5


Một số nớc dùng doanh thu để giới hạn đối tợng nộp thuế. Ví dụ: Không phải là
đối tợng nộp GTGT, đối với các doanh nghiệp có mức doanh thu hàng năm thấp hơn:
+ 200.000 pê xô (Philipines).
+ 200.000 Sek (Thuỵ Điển).
+ 30.000 Can D (Canada).
+ 100.000 DDK (Đan Mạch).
+ 1.000.000 Sin D (Singapore).
+ 60.000 D (Indonexia).
Có nớc áp dụng hình thức thu khoán đối với đối tợng kinh doanh vừa và nhỏ.
Nh vậy, việc xác định đối tợng nộp thuế là để nhằm giới hạn đối tợng nộp thuế, loại
trừ bớt số lợng lớn về quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ.
Trong giai đoạn chuyển đổi từ thuế doanh thu sang áp dụng GTGT, thờng có ba
hình thức triển khai áp dụng GTGT.
Hình thức thứ nhất: áp dụng GTGT toàn bộ, có nghĩa là áp dụng đối với các đối
tợng nộp thuế hoạt động ở tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, buôn bán và bán
lẻ. Điển hình áp dụng hình thức này là các nớc: Thuỵ Điển, Pháp, Thái Lan, Hungari.
Hình thức thứ hai: áp dụng GTGT từng phần, tức là áp dụng đến từng khâu của
quá trình luân chuyển sản phẩm hàng hoá. Ví dụ: Indonexia, Nhà nớc ban hành đạo
luật từ năm 1983, nhng do trình độ quản lý của cán bộ nghành thuế và nhận thức của
ngời nộp thuế nên đến năm 1985, đạo luật thuế mới đợc thi hành và thực hiện theo
từng bớc nh sau:
+ Năm 1985: Đối tợng nộp thuế là những ngời sản xuất.
+ Năm 1989: Mở rộng phạm vi áp dụng đối với các đại lý bán buôn.
+ Năm 1993: Mở rộng phạm vi áp dụng đối với các cửa hàng bán lẻ.
Hình thức thứ ba: Thực hiện thí điểm GTGT đối với một số nghành. Điển hình
áp dụng hình thức này là Trung Quốc. GTGT đợc ban hành và thực hiện thí điểm từ
năm 1980 đến 18/9/1994 đợc ban hành chính thức. Bớc thí điểm chỉ áp dụng với các
6


sản phẩm: xe đạp, quạt điện, kim khí, máy móc thiết bị, phụ tùng, động cơ, thép. Năm
1986 mở rộng diện đối với các sản phẩm công nghiệp nhẹ, vật liệu xây dựng, khoáng
sản kim loại.
Qua tổng kết đánh giá của các nớc, trong ba hình thức tiến hành GTGT, hình
thức toàn bộ là hiệu quả nhất. Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi phải có sự chuẩn bị rất
đầy đủ về luật, các văn bản hớng dẫn luật, trình độ hiểu biết của ngời nộp thuế, trình
độ quản lý của từng cơ quan thuế, chứng từ hoá đơn, ý thức chấp hành luật...
Hình thức áp dụng GTGT ở từng khâu kết quả bị hạn chế, còn hình thức áp
dụng thí điểm ở phạm vi hẹp, ở một số ngành là không đem lại kết quả.
2./ Các hình thức tính thuế GTGT.
ở các nớc đã thực hiện GTGT hiện nay áp dụng một trong hai phơng pháp khấu
trừ theo hoá đơn và phơng pháp tính chênh lệch theo báo cáo kế toán.
a./ Phơng pháp khấu trừ theo hoá đơn:
Đây là phơng pháp đợc hầu hết các nớc áp dụng do: Tính thuế dựa vào hoá đơn
đảm bảo xác định thuế có cơ sở để kiểm tra thuế. Có thể áp dụng chính sách thuế với
nhiều thuế suất (nếu thu thuế theo chênh lệch chỉ có thể áp dụng một thuế suất). Có
thể tính GTGT thu thuế theo thời gian ấn định một tháng, hai tháng hay một quí.
b./ Phơng pháp thu GTGT trên chênh lệch theo báo cáo kế toán:
Phơng pháp này xác định thuế phải dựa trên số liệu báo cáo kế toán của đơn vị
áp dụng phơng pháp này sẽ có những vấn đề sau:
Thứ nhất: Các xí nghiệp coi GTGT chỉ là thuế bổ xung đánh vào lợi nhuận, còn
các nhân viên của họ thì coi đó là lại thêm một thứ thuế nữa đánh vào quĩ tiền lơng.
Thứ hai: Báo cáo chỉ kêt thúc một lần trong năm, vậy là tất cả các khoản thanh
toán GTGT phải dựa vào kết toán năm.
Thứ ba: Khó kiểm tra thuế phải nộp từng kỳ so với phơng pháp sử dụng hoá đơn
và không có cơ sở để tiến hành các cuộc kiểm tra chéo thuế giữa đơn vị mua và bán.
Mô hình GTGT Nhật Bản đợc sử dụng theo phơng pháp này (1/4/1989): Thu
GTGT trên cơ sở báo cáo kế toán với một thuế suất là 3% và đã quyết định điều chỉnh
7


lên 5% để thi hành từ tháng 4/1997. Nhật Bản không phát hành hoá đơn áp dụng riêng
đối với thuế GTGT vì các doanh nghiệp phản ứng, theo phơng pháp tính thuế hiện
hành các doanh nghiệp tự tính và nộp thuế. Các doanh nghiệp nhỏ không phải nộp
thuế GTGT.
3. Thuế suất.
Thông thờng, để đạt đợc số thu tơng đơng so với số thu hiện hành của thuế
doanh thu mà nó thay thế, GTGT phải có mức thuế suất cao hơn (thờng là gấp ba lần
thuế suất doanh thu). Vì GTGT chỉ đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hoá hay sản
phẩm qua mỗi lần luân chuyển hàng hoá (danh mục các nớc áp dụng thuế GTGT và
thuế suất GTGT).
Có hai cơ chế thuế suất đợc áp dụng:
+ Cơ chế một thuế suất (không kể thuế suất 0% áp dụng với xuất khẩu và một
số mặt hàng thiết yếu (nếu có). Trong số 100 nớc thì có 44 nớc áp dụng GTGT với cơ
chế một thuế suất, trong đó Đan Mạch là một nớc có mức thuế suất cao nhất (32%).
Nhật, Singapore la nớc có mức thuế suất thấp nhất (3%).
+ Cơ chế nhiều thuế suất (không kể thuế suất 0%).
Trong số các nớc còn lại áp dụng GTGT với có chế nhiều thuế suất thì số lợng
thuế suất giao động từ 2 đến 5 (trờng hợp Colombia 5 thuế suất). Thuế suất thấp nhât
la 1% (Bỉ, Thổ Nhĩ Kỳ), 2% (Nam Triều Tiên) và thuế suất cao nhất là 50% (Senegal),
45% (Trung Quốc), 38% (ý) và 36% (Hy Lạp). Phần lớn các nớc áp dụng cơ chế ba
thuế suất. Chỉ có một số nớc áp dụng 4 và 5 thuế suất: Bỉ- Colombia.
Mô hình thuế suất của khối EC: Qui định ngoài thuế suất 0% áp dụng cho xuất
khẩu, hệ thống thuế suất chỉ gồm 2 thuế suất: Một mức thuế suất thấp nhng không
thấp hơn 5%; Một mức thuế suất cao thờng hơn 15%.
Qui định về thuế suất 0% và miễn thuế: thuế suất 0% đợc áp dụng trong đại đa
số các nớc chủ yếu đối với hoạt động xuất khẩu. Đối tợng áp dụng thuế suất 0% tức là
đợc thoái trả lại số GTGT đã chịu trên hàng đầu vào, biện phấ này đợc đánh giá là hữu
hiệu nhất đối với việc xuất khẩu.
Một số nớc áp dụng thuế suất 0% đối với các mặt hàng và dịch vụ khác nhau

8


nh Thuỵ Điển (đối với báo chí xuất bản hàng ngày, xang máy bay phản lực), Canada
(đối với lơng thực thực phẩm, các dịch vụ tài chính quốc tế.
Đan
Mạch và Trung Quốc không sử dụng thuế suất 0%.
Miễn thuế (không áp dụng) GTGT: Các đối tợng đợc miễn thuế khác với các đối
tợng đợc hởng thuế suất 0% ở chỗ họ không có quyền khấu trừ đầu vào thuế đầu vào
đã nộp. Qui định miễn chịu thuế có thể xuất phát từ nhiều lý do: Về kinh tế, xã hội, về
tránh sự đánh thuế chồng chéo, về kỹ thuật: khó xác định giá trị tăng thêm nh: Các
dịch vụ về tài chính tín dụng, dịch vụ vận tải quốc tế về hàng không, đờng sắt.
Ví dụ : Thuỵ Điển qui định 29 mặt hàng và dịch vụ đợc miễn chịu thuế.
Đan Mạch qui định 14 mặt hàng và dịch vụ đợc miễn chịu thuế.
Đức qui định 5 mặt hàng và dịch vụ đợc miễn chịu thuế.
4./ Quản lý GTGT.
Đăng ký thuế: Các đối tợng nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ đầu tiên là đăng
ký thuế tại cơ quan thuế địa phong nơi đặt cơ quan điều hành thờng trú của mình theo
mẫu thống nhất do cơ quan thuế cung cấp. Một số nớc sử dụng mã số đăng ký thuế cũ
(thuế doanh thu) và thêm vào đuôi của dãy số đăng ký một số bổ xung để chỉ rõ là số
đăng ký GTGT. Riêng Nhật Bản không sử dụng hệ thống mã hoá số đăng ký trong
công tác quản lý GTGT.
Nộp thuế: Đa số các nớc áp dụng GTGT thực hiện nộp thuế theo cơ chế tự kê
khai tính và nộp thuế theo mẫu in sẵn do cơ quan thực hiện cung cấp. Nộp tờ khai và
thanh toán thuế theo định kỳ hàng tháng, quí (tuỳ theo chế độ nộp thuế qui định cho
từng loại đối tợng).
Việc thoái thuế: Phần lớn đợc giao cho cơ quan thu thuế, trong trờng hợp số
thuế đợc khấu trừ lớn (xuất khẩu hàng hoá hoặc mua sắm tài sản giá trị lớn, đối tợng
kinh doanh có quyền kê khai đề nghị cơ quan thuế thoái trả số tiền đã trả khâu trớc.
Cơ quan thuế kiểm tra và thoái trả tiền thuế đã trả ngay một lần hoặc thoái trả dần
trong một thời gian tuỳ theo qui định của từng nớc và khả năng ngân sách mỗi nớc.
Theo cách này cơ quan thuế thờng có một tài khoản thu GTGT và sử dụng nguồn thu
để thoái thuế, khoản còn lại nộp vào Ngân sách Nhà nớc.
Việc khấu trừ thuế GTGT: Các nớc áp dụng khấu trừ theo hoá đơn đầu vào và

9


cho khấu trừ toàn bộ số phát sinh từng kỳ, khi tính thuế GTGT phải nộp. Hầu hết các
nớc cho áp dụng khấu trừ thuế đầu vào của tài sản cố định nhằm khuyến khích đầu t,
cũng có nớc không cho áp dụng nh Trung Quốc.

Phần III. Tình hình áp dụng thuế GTGT trên thế
giới và bài học kinh nghiệm từ những nớc đã áp
dụng.
I./ Tình hình áp dụng thuế GTGT ở một số nớc.
1./ Thuỵ Điển: Là một nớc đi đầu trong việc áp dụng thuế GTGT (1969). Trớc
khi thực hiện GTGT, Thuỵ Điển đã thực hiện cơ chế thuế doanh thu với một thuế suất
10% áp dụng chủ yếu đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế. Mục tiêu của sự chuyển đổi
là khuyến khích hàng xuất khẩu và thực hiện hoàn thuế đối với hoạt động xuất khẩu.
Quá trình chuyển đổi thuế ở Thuỵ Điển đợc tiến hành qua hai giai đoạn:
Mùa xuân năm 1968 Bộ Tài Chính giải trình trớc Quốc hội và các doanh
nghiệp về kế hoạch, nội dung chuyển đổi cơ chế nộp thuế.
Mùa thu năm 1968 đợc Quốc hội thông qua và ban hành năm 1969 với
những nội dung cơ bản:
Thứ nhất: Các đối tợng nộp thuế doanh thu đều chuyển sang nộp GTGT. Thời
kỳ đó có 160.000 đối tợng nộp thuế doanh thu. Các dịch vụ không phải nộp thuế,

10


200.000 hộ nông dân năm ngoài cơ chế GTGT.
Thứ hai: áp dụng tính thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ thuế nộp khâu trớc.
Thứ ba: Thuế suất lúc đầu áp dụng một mức thuế là 10% nh thuế doanh thu nhng do cơ chế khấu trừ nên làm giảm số thuế GTGT. Để bù đắp nguồn thu, Thuỵ Điển
đã tăng phí bảo hiểm 1% trên tổng quĩ lơng. Trong quá trình thực hiện Thuỵ Điển
cũng đã điều chỉnh thuế suất và bổ sung thêm mức thuế vào.
Thứ t: Đối với những đầu t trang thiết bị, máy móc khi thực hiện GTGT cung đợc khấu trừ.
Thứ năm: Không qui định cho miễn giảm GTGT vì không thể dùng chính sách
thuế GTGT để trợ cấp.
2./ Philipines: Khi Chính phủ mới ra đời (tháng 12 năm 1986) việc cải cách sửa
đổi hệ thống thuế là việc làm trớc tiên của nớc này. Chơng trình thuế năm 1986 bao
gồm 29 khâu cải cách phải tiến hành và đã đợc soạn thảo. Một trong những cải cách
về cơ cấu đa ra trong chơng trình là ban hành thuế GTGT. Đợc thể chế hoábăng Lệnh
số 273, có hiệu lực thi hành từ 1/1/1988. Nh vậy, để ban hành thuế GTGT, Philipines
đã trải qua quá trình nghiên cứu và chuẩn bị.
Ngày 1/1/1988, Philipines bắt đầu thực hiện GTGT. Có thể tóm tắt ở mấy điểm
sau:
Thuế GTGT đợc xây dựng dể hợp lý hoá hệ thống đánh thuế hàng hoá và
dịch vụ chịu thuế, để đơn giản hoá việc quản lý thuế và làm cho hệ thống thuế
Philipines công băng hơn.
Thuế GTGT đợc áp dụng trên diện rộng hàng hoá và một số dịch vụ, trên
từng hoạt động bán hay nhập khẩu những hàng hoá dịch vụ đó.
Thuế suất qui định một mức là 10% đánh trên tổng giá bán hay tổng số
tiền nhận đợc từ bán hàng hoá hay dịch vụ, thay cho thuế doanh thu đối với ngời sản
xuất gồm 4 thuế suất: 0%, 10%, 20%, 30%, thuế trên dịch vụ: 15 thuế suất từ 0% đến
30%. Tuy nhiên, có miễn thuế đối với một số hoạt động kinh doanh đợc áp dụng để
khuyến khích một số hoạt động nh sản xuất nông sản, giảm bớt ảnh hởng đến giá cả
một số mặt hàng nh dầu lửa, và để đơn giản việc quản lý thuế đối với doanh nghiệp
11


nhẹ và các dịch vụ tài chính.
-

Thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu.

áp dụng tính thuế theo phơng pháp khấu trừ và cho khấu trừ đối với tài
sản dùng trong thơng mại hoặc kinh doanh.
Kết quả thu thuế GTGT của Philipines đợc biểu hiện qua ba năm (bảng kèm
theo) đã cho thấy tỉ lệ về số thu VAT so với số thu CP, GDP, GNP đều tăng sau 10 và
20 năm áp dụng cơ chế thuế mới.
Năm

Số thu Số thu Số thu
từ
từ thuế của
VAT
CP

GDP

GNP

% số
% số
Số thu Số thu
thu
thu
VAT/ VAT/
VAT/số VAT/số GDP
GNP
thu thuế thu CP
1
2
3
4
5
1/2
1/3
1/4
1/5
1988
13
90
113
826
823
14,5
11,8
1,6
1,6
1989
20
122
154
964
961
16,7
13,3
2,1
2,1
1990
12
69
79
527
527
17,1
14,8
2,2
2,2
3./ Trung Quốc: Là nớc có chủ trơng nghiên cứu ban hành thuế GTGT từ năm
1980, sau 4 năm nghiên cứu, ngày 18/9/1984 chính thức ban hành. Trung Quốc đã tiến
hành theo phơng pháp thí điểm. Sau đây đề cập một số nhận xét của chuyên gia thuế
Trung Quốc từ 28/6 đến 12/7/1993 do đồng chí Trần Xuân Thắng - Tổng cục trởng
Tổng cục thống kê dẫn đầu).
Chơng trình thí điểm về thuế GTGT ở Trung Quốc đã gặp nhiều vớng mắc do
các nguyên nhân chủ yếu:
a.
Cha chuẩn bị kỹ về chế độ hớng dẫn thực hiện và xử lý các trờng hợp vớng mắc thực tế.
b.
GTGT chỉ thực hiện cho một số sản phẩm ở khâu sản xuất, cha thực hiện
ở khâu lu thông, dịch vụ, vì vậy, trong quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn vớng
mắc, không xử lý triệt để, chính xác, cha đạt đợc mục đích của GTGT là khắc phục
triệt để thu thuế trùng lặp.
Bên cạnh đó, GTGT của Trung Quốc có quá nhiều thuế suất, mức chênh lệch
giữa các thuế suất cao từ 43% đến 12%. Vì vậy, khi thực hiện khấu trừ thuế phức tạp,
căn cứ không chính xác, gây ra vận dụng tuỳ tiện, không kiểm soát đợc chặt chẽ việc
12


khấu trừ tiền thuế ở cơ quan cấp dới.
Để khắc phục tình trạng này, đảm bảo thẹc hiện đơn giản, dễ kiểm soát, hiện
nay Trung Quốc thực hiện khoán mức khấu trừ thuế cho các sản phẩm đầu vào, bớc
đầu có nhiều mức, nay thực hiện thống nhất một mức 7%.
Do thu theo phơng pháp khấu trừ chung cho một mức thoát ly hoá đơn, nên
phạm vi khấu trừ thuế rộng thực tế có khi thuế thu thấp vì trong số thuế đợc khấu trừ
có phần thuế cha đợc tính nộp Ngân sách.
Một trong những điều kiện tiên đề để thực hiện thành công GTGT là thực hiện
cơ chế giá thị trờng. Nhng hiện nay Nhà nớc Trung Quốc vẫn quản lý giá hơn 100 mặt
hàng, vì vậy, quá trình thực hiện GTGT của Trung Quốc gặp khó khăn.
Thực hiện GTGT ở khâu sản xuất của Trung Quốc gặp nhiều khó khăn, phức
tạp. Để việc quản lý, thực hiện GTGT có hiệu quả, Trung Quốc phân ra từng đối tợng
để có biện pháp thu thuế: Xí nghiệp qui mô nhỏ thu khoán, Xí nghiệp có qui mô lớn
và vừa thu căn cứ vào sổ sách kế toán. Thực tế hiện nay GTGT chỉ áp dụng trong các
xí nghiệp quốc doanh.
II./ một số nớc kinh tế phát triển vẫn cha áp dụng thuế
GTGT.
Cho dù GTGT là một loại thuế có nhiều u điểm nhng cho đến nay có một sô nớc
kinh tế phát triển cha áp dụng. Chúng ta sẽ nghiên cứu những nguyên nhân của vấn đề
trên thông qua phân tích tình hình hai nớc đại biểu là Mỹ và Austraylia

Hoa Kỳ (Mỹ): Là một nớc có nền kinh tế phát triển bậc nhất thế giới. Một cờng
quốc có ảnh hởng sâu sắc đến nhiều lĩnh vực trên thế giới, tuy nhiên, cho đến nay Mỹ
vẫn cha chấp nhận GTGT. Vì vậy đau là những lý do ngăn cản con đờng GTGT xâm
nhập vào Mỹ?
Về cơ bản Mỹ thoả mãn với hệ thống thuế doanh thu khâu bán lẻ cấp bang và
liên bang hiện hành. Thuế suất doanh thu bán lẻ cấp bang tơng đối thấp, trung bình
khoảng 4,6%, diện đánh thuế cũng tơng đối hạn chế. Ví dụ: ở Mỹ có 29 bang không
13


đánh thuế lơng thực thực phẩm, 25 bang miễn thuế cho hầu hết các dịch vụ. Cơ chế
thuế hiện hành của Mỹ không gây trở ngại lắm cho hoạt động sản xuất dịch vụ trong
nớc. Chính vì vậy, nớc Mỹ cha thực sự có nhu cầu về một cơ chế thuế mới.
Tuy nhiên, Mỹ cũng đã quan tâm đến GTGT trong thời gian tơng đối dài (20
năm qua), và trong cuộc tranh luận gần đây, các chuyên gia đã nêu ra một số lý do để
Mỹ ban hanh GTGT là:
tỷ USD).
-

GTGT sẽ thay thế 1 phần thuế đánh trên quĩ lơng (bảo hiễm xã hội) (52

GTGT se thay thế 1 phần thuế thu nhập công ty (28 tỷ USD).

Một lý do nữa đợc đa ra năm 1983 là GTGT còn có thể tài trợ cho quốc
phòng (thực tế là để tăng số thu cho Ngân sách).
Năm 1984, một sự thảo nữa đợc đa ra với ý đồ dùng GTGT để thay thế cho thuế
thu nhập cá nhân, thuế thu nhập công ty và thuế thừa kế, thuế suất GTGT là 15%.
GTGT sẽ là động lực tạo nguồn thu chủ yếu cho Ngân sách. Năm 1985, Mỹ đa ra một
dự thảo về mô hình GTGT nữa, áp dụng theo phơng án trực tiếp.
Nói chung, các phơng án đa ra nhằmban hành GTGT cuối cùng cũng chỉ là để
tăng số thu cho Ngân sách. Dù vậy các Nghị sĩ đã bác bỏ việc ban hành GTGT với
nhứng lý do chủ yếu sau:
a.

Lo sợ về tính luỹ thoái của GTGT.

b.

Lo lắng về việc GTGT gây lạm phát.

c.
Cán bộ thuế bang và quận (địa phơng) lo sợ về việc ban hành GTGT sẽ
xâm phạm đến nguồn thu của họ.
d.
Cả cơ quan thuế bang và liên bang đều lo ngại việc áp dụng GTGT sẽ tác
động về phơng diện quản lý.
Autralia: Autralia cũng là một trong những nớc OECD đến nay cha chấp nhận
GTGT vì một số lý do nh sau:
a.

Lo sợ về chi phí quản lý cao.
14


b.

Lo sợ về khả năng trốn thuế tăng.

c.
Những yêu cầu về hoàn thuế khai tăng thêm có thể là một lỗ hổng cũng
nghiêm trọng tơng đơng nh lập hoá đơn sai.
d.

Chi phí cho việc cỡng chế thuế tăng. Lo sợ về tính luỹ thoái.

Nh vậy, những lý do chủ yếu của việc cha ban hành thuế GTGT ở Mỹ và
Autralia là các lý do mang màu sắc chính trị chứ không phải về kinh tế, do đặc thù của
các nớc đó (quan hệ liên bang và bang đang ổn định, họ không muốn có sự xáo trộn
đễ dàng gây nên tình hình mất ổn định chung).
III./ bài hoc kinh nghiểmut ra từ các nớc đã tính thuế
GTGT.
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của các nớc áp dụng GTGT cà hội thoả, trao đổi
kinh nghiệm với các chuyên gia thuế GTGT của các tổ chức quốc tế và một số nớc có
thể rut ra một số bài học kinh nghiệm nh sau:
1.
Thuế GTGT là một loại thuế có nhiều u điểm cần nghiên cứu áp dụng
nhằm góp phần thúc dẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển theo cơ chế thị trờng, mở rộng kinh tế đối ngoại, tạo nguồn thu ổn định và phát triển cho Ngân sách
quốc gia. Nhng không thể và không nên áp dụng thí điểm thuế GTGT trong phạm vi
hẹp ở một số nghành và một số đơn vị.
2.
Nội dung chính sách thuế GTGT ban hành phải đợc nghiên cứu kỹ, qui
định cụ thể làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện đợc rõ ràng, thống nhất. Phải tuân thủ
các nguyên tắc cơ bản của thuế GTGT với sự vận dụng và qui định phù hợp với từng nớc.
Củng cố chế độ hoá đơn, chứng từ, hạch toán, kế toán, nhng không thể
đợi đến lúc thực hiện đầy đủ hoá đơn chứng từ mới áp dụng GTGT, vì việc áp dụng
GTGT cũng thúc đẩy việc sử dụng hoá đơn chứng từ.
Cần làm tốt công tác tuyên truyền và hớng dẫn chế độ thuế này để mọi
đối tợng, mọi ngời đều hiểu và thực hiện đúng.
Công tác đào tạo bồi dỡng nghiệp vụ quản lý thuế GTGT cho cán bộ thuế
phải đợc quan tâm và chuẩn bị tróc.

15


Phải từng bớc hiện đại hoá trang thiết bị công cụ quản lý thuế, trong đó
trang bị hệ thống máy vi tính là quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế
nói chung, và thuế GTGT nói riêng.
Đồng thời với việc ban hành thuế GTGT cần sửa đổi hệ thống thuế đồng
bộ nhằm xác định rõ phạm vi , mục tiêu điều chỉnh của từng loại thuế (thuế xuất nhập
khẩu, thuế TTĐB...). Mức thuế và chính sách thuế cần có tính ổn định không nên thay
đổi luôn.
Cần nhận thức đúng và đầy đủ tác động có thể xẩy ra trong giai đoạn đầu
áp dụng GTGT để có phơng án xử lý, trong đó vấn đề điều hành Ngân sách, quản lý
giá cả là vấn đề quan trọng.

Phần IV. Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT.
I./ những tồn tại của hên thống thuế hiện hành.
Trong quá trình thực hiện, hệ thống chính sách thuế hiện hành đã đợc sửa đổi,
bổ xung nhiều lần đáp ứng yếu cầu của tình hình thực tế. Nhng cho đến nay, nền kinh
tế nớc ta đã có những bớc phát triển theo cơ chế thị trờng, khu vực kinh tế Nhà nớc đợc sắp xếp tổ chức lại, bớc đầu hoạt động có hiệu quả; khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh phát triển đa dạng dới nhiều hình thức, các xí nghiệp hoạt động theo Luật đầu t
nớc ngoài tại Việt Nam ngày càng tăng. Chính trong bối cảnh này, hệ thống chính sác
thuế đã bộc lộ những khuyếm khuyết về các mặt:
Cha bao quát hết các nguồn thu đã, đang và sẽ phát sinh trong nền kinh tế
thị trờng nh: lãi cổ phần, lãi tiền gửi, thu nhập từ chuyển nhợng cổ phần, thu nhập từ
chuyển nhợng tài sản; cha bao quát hết các hoạt động dich vụ.
Trong mỗi loại thuế phải cùng một lúc vừa thực hiện mụctiêu bảo đảm
nguồn thu cho Ngân sách Nhà nớc và thực hiện mục tiêu nhiều chính sách khác, do
đó, làm cho nội dung chính sách thuế phức tạp, gây khó khăn trong quá trình thực hiện
cả đối với cán bộ thuế cũng nh đối tợng nộp thuế.
Về mặt kỹ thuật, hệ thống thuế hiện hành cũng nh trong từng sắc thuế
còn quá phức tạp, trùng lặp, nhất là thuế doanh thu, nên hiệu quả cha cao, còn gây tâm
lí chồng chéo nặng nề.
16


Trong chính sách còn có những điểm cha phù hợp với thông lệ quốc tế,
do đó, có thêt trở thành những cản trở trong quá trình mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế
với các nớc trong khu vực và trên thế giới (đặc biệt là chính sách thuế trong việc thu
hút đầu t nớc ngoài cũng nh trong nớc.

II./ sự cần thiết phải cải cách hệ thống chính sách
thuế.
Những thành tựu đã đạt đợc trong 10 năm đổi mới đã tạp tiền đề đa kinh tế nớc
ta sang một giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc, đồng thời ngày càng mở
rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nớc trong khu vực trong nớc và trên thế giới. Phơng hớng phát triển kinh tế với các nớc trong kỳ 1996 - 2000 nh nới trên đặt ra yêu
cầu phát triển kinh tế mở rộng hợp tác trong thời gian tới. Vì vậy cải cách thuế là một
điều tất yếu nhằm mục đích:
Thứ nhất: Khắc phục những nhợc điểm của hệ thống thuế hiện hành, tạo sự
thích ứng của nó trong cơ chế thị trờng, bảo đảm yêu cầu động viên vào Ngân sách mà
Đại hội lần thứ VII của Đảng đã đề ra cho những năm tới: ;àm cho thuế thực sự là một
công cụ có hiệu lực của Nhà nớc trong giai đoạn mới, thúc đẩy sản xuất phát triển và
tăng trởng kinh tế của đất nớc theo hớng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc.
Thứ hai: Làm cho hệ thống chính sách thuế cũng nh từng sắc thuế tiến tới
những yếu tố tơng đồng với thuée các nớc và phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều
kiện mở rộng quan hệ hợp tác, giao lu kinh tế giữa nớc ta với các nớc trong khu vực và
thế giới.
III./ Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam.
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc. Hoạt động cà vận hành của thị trờng cha thật linh
hoạt, nhiều doanh nghiệp có trình độ công nghệ, kỹ thuật cũng nh trình độ quản lý
thấp, năng suất lao động thấp, khả năng cạnh tranh kém, cha thích nghi và điều chỉnh
nhanh nhạy để phù hợp với chính sách kinh tế mới. Vì vậy việc áp dụng thuế GTGT
trong giai đoạn này là hết sức cần thiết. Thuế GTGT có những u điểm nổi bật có thể

17


khắc phục đợc phần nào khó khăn khi thực hiện luật thuế cũ:
Thứ nhất: Thuế GTGT có thể khắc phục đợc nhợc điểm của thuế doanh thu là
không thu trùng lắp thuế nên có tác động tích cực đối với sản xuất dịch vụ. Đồng thời
việc thực hiện thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệpcòn đòi hỏi các doanh nghiệp
của tất cả các thành phần kinh tế phải tăng cờng quản lý nh: ghi chép ban đầu, mở sổ
sách kế toán và mua, bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ, đổi mới công nghệ, nâng cao
chất lợng sản phẩm để đủ sức cạnh tranh trong tình hình mới.
Về lu thông hàng hoá, tuy trong bối cảnh nền kinh tế giảm phát kéo dài, nhng vì
thuế GTGT chỉ điều tiết trong phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên sẽ thúc
đẩy việc l thông hàng hoá thuận lợi.
Thứ hai: Thuế GTGT sẽ khuến khích đầu t trong nớc, mở rộng quy mô sản xuất,
kinh doanh, đổi mới công nghệ hiện đại. Thuế GTGT không đánh vào hoạt động đầu t
tài sản cố định, toàn bộ số thuế GTGT phải trả lại khi mua sắm tài sản cố định sẽ đợc
Nhà nớc cho khấu trừ hoặc hoàn lại cho doanh nghiệp. Đồng thởitong quá trình trực
hiện, Chính phủ còn có những biện pháp khuyến khích thêm nh đối với những công
trình, hạng mục công trình đã hoàn thành bàn giao.
Năm 1998 sang năm 1999 mới thanh toán thì đợc nộp thuế theo mức thuế nh
cũ. Từ 01/09/1999 đã giảm 50% mức thuế GTGT cho xây dựng, lắp đặt. Nhờ đó số
vốn đầu t sẽ tăng lên.
Thứ ba: Thuế GTGT sẽ góp phần khuyến khích xuất khẩu, mở rộng thị trờng
tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh hàng hoá xuất
khẩu, giải quyết nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.
Thuật thuế GTGT qui định hàng hoá xuất khẩu đợc hởng thuế xuất 0% và đợc
hoàn thuế GTGT đầu vào nên đã khuyến khích xuất khẩu và tạo điều kiện để hàng hoá
Việt Nam có thể cạnh tranh về giá cả so với hàng hoá tơng tự của các nớc trên thị trờng quốc tế.
Thứ t: Việc thực hiện thuế GTGT đối với hàng hoá nhập khẩu sẽ góp phần bảo
hộ hàng hoá sản xuất trong nớc. Kết hợp với cơ chế điều hành xuất nhập khẩu hàng
hoá năm 1999, thuế GTGT sẽ góp phần hạn chế tiêu dùng, nhất là hàng tiêu dùng cao
cấp từ nớc ngoài, thực hiện tiết kiệm cho sản xuất. Đối với vật t, nguyên vật liệu nhập

18


khẩu vẫn thực hiện thu thuế GTGT khi hàng nhập về, nhng đã có xem xét điều chỉnh
giảm thuế nhập khẩu để ổn định sản xuất trong nớc.
Th năm: Thuế GTGT còn góp phần cơ cấu lại nền kinh tế từ sản xuất thay thế
nhập khẩu chuyển mạnh sang sản xuất hớng xuất khẩu. Thuế GTGT sẽ khuyến khích
việc sản xuất, xuất khẩu những mặt hàng nớc ta có thế mạnh nh nông sản, lâm sản,
thuỷ sản... bằng các qui định cụ thể nh không thu thuế GTGT đối với hàng do ngời sản
xuất bán ra, cho khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với các cơ sở chế biến, thơng mại
mua các mặt hàng, hoàn thuế đầu vào cho các cơ sở xuất khẩu các mặt hàng này nếu
có hoá đơn GTGT đầu vào...
Thứ sáu: Thuế GTGT không làm tăng giá cả hàng hoá. Bản chất thuế GTGT
không làm tăng giá vì nó thay thế thuế doanh thu đã đợc kết cấu vào trong giá. Điều
này cũng đòi hỏi các Bộ, Nghành địa phơng phải có biện pháp quản lý hớng dẫn kịp
thời và đúng đắn việc thực hiện thuế GTGT. Tránh tình trạng một số doanh nghiệp hay
hộ kinh doanh cha hiểu rõ, có thể sẽ cộng thêm thuế vào giá cũ để bán làm giá cả hàng
hoá tăng thêm.

Phần V. Đánh giá tình hình triển khai thực hiện
thuế GTGT ở Việt Nam.
Thực hiện chơng trình cải cách thuế bớc II, Quốc hội đã thông qua hai luật thuế
mới: Luật thuế Giá trị gia tăng (thuế gián thu), Luật thuế thu nhập (thuế trực thu) và
sửa đổi bổ xung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt: Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Đồng thời sửa đổi, bổ xung các luật thuế có liên quan nh: Luật Nhân sách, Luật
khuyến khích đầu t trong nớc...để thực hiện đồng bộ các luật thuế mới.
Với nhận thức rằng việc triển khai thực hiện các Luật thuế mới đợc thi hành từ
01/01/1999, có tác động nhiều mặt đến tình hình kinh tế xã hội, nên thời gian đầu
không tránh khỏi những khó khăn và lại càng khó khăn hơn khi kinh tế nớc ta đang bị
ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, thiên tai lại liên tiếp
sảy ra.

19


Ba yêu cầu phải đạt đợc khi thực hiện triển khai các luật thuế mới:
Bảo đảm công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các doanh nghiệp, các
hộ kinh doanh trong nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp ổn định đợc hoạt động sản
xuất, kinh doanh, tăng cờng hạch toán kinh tế, nâng cao năng lực quản lý, nâng cao
cao khả năng cạnh tranh trong nớc, trên thị trờng quốc tế.
Bảo đảm không ảnh hởng lơn đến kế hoạch thu của Ngân sách Trung ơng
trong những năm đầu thực hiẹen. Tạo điều kiện để Ngân sách địa phơng ổn định
nguồn thu, nâng dần tỷ lệ các địa phơng cân đối Ngân sách và có đóng góp cho Ngân
sách Trung ơng.
Bảo đảm ổn định thị trờng trong nớc, tránh gây ra những biến động mạnh
về giá cả, đặc biệt là giá vật t, hàng hoá quan trọng dùng cho sản xuất và tiêu dùng
thiết yếu để ổn định sản xuất và không ảnh hởng đến đời sống nhân dân.
Nghị quyết số 18/1998/QH10 ngày 25/11/1988: "Chính phủ cần tập chung chỉ
đạo thực hiện các luật thuế mới, nhất là luật thuế GTGT. Để chủ động giải quyết kịp
thời những khó khăn cho các doanh nghiệp khi thực hiện Luật thuế GTGT nhằm ổn
đinhj và phát triển sản xuất, kinh doanh. Quốc hội cho phép Chính phủ trong thời gian
đầu thực hiện đợc áp dụng quy định tại Điều 28 Luật thuế GTGT để giảm thuế đối với
hoạt động thơng mại, dịch vụ du lịch, ăn uống, và không khống chế mức giảm tối đa
50% số thuế GTGT phải nộp. Sau một thời gian thực hiện, Chính phủ trình UBTVQH
sửa đổi bổ sung các mức thuế suấttheo qui định tại Điều 8 của Luật thuế GTGT và báo
cáo Quốc hội trong kỳ họp gần nhất.
I./ những kết quả đạt đợc sau hơn hai năm thực hiện.
Trong hai năm đầu tiên triển khai các Luật thuế mới tuy gặp nhiều khó khăn,
nhng với tinh thần chủ động, lại đợc sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Bộ chính trị, của
UBTVQH, và sự điều hành thớng xuyên, cụ thể của Chính phủ, cùng với sự cố gắng
của các nghành, các cấp, của các cơ quan đoàn thể, sự hởng ứng của các đối tợng nộp
thuế, sự đồng tình của nhân dân, sự nỗ lực của nghành tài chính, nghành thuế, đến nay
sau một năm thực hiện các Luật thuế mới đã đi vào cuộc sống, sản xuất kinh doanh
giữ đợc ổn định, bớc đầu các Luật thuế mới đã phát huy đợc tác dụng trên các mặt.
1./ Về sản xuất kinh doanh.
Với việc thực hiện Luật thuế GTGT tạo điều kiện cho giá thành các công trình
đầu t xây dựng cơ bản giảm khoảng 10% so với trớc đâu. toàn bộ thuế GTGT của công

20


trình xây dựng cơ bản đợc hạch toán riêng không tính vào giá công trình nh thuế
doanh thu, vì vậy chi phí khấu hao tài sản cũng giảm thấp hơn. Các doanh nghiệp xây
dựng mua sắm tài sản cố định có thuế GTGT đều đợc khấu trừ hoặc hoàn thuế. Mặt
khác khi nhập khẩu thiết bị máy móc, phơng tiện vận tải chuyên dùng, loại trong nớc
cha sản xuất đợc để đầu t thành tài sản cố định theo dự án, thì không thuộc diện chịu
thuế GTGT trong thời gian ba ngày kể từ ngày nộp tờ khai. Từ khi thực hiện Gnhị định
só 78?NĐ-CP giảm 50% mức thuế GTGT đối với sản phẩm xây dựng cơ bản thì mức
thuế GTGT các doanh nghiệp xây lắp còn phải nộp sau khi khấu trừ đầu vào bình quân
chỉ còn khoảng 1% đến 2%, thấp hơn so với mức 4% khi nộp thuế doanh thu, thậm chí
còn đợc hoàn thuế.
Thực hiện thuế GTGT còn thuc đẩy sản xuất kinh doanh, lu thông hàng hoá
phát triển do thuế GTGT chỉ thu trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ qua các
khâu sản xuất, lu thông đến khâu tiêu dùng cuối cùng với hai phơng pháp tính thuế
(phơng pháp khấu trừ thuế, và phơng pháp trực tiếp). Đã khắc phục nhợc điểm của
thuế doanh thu là thuế trùng lên thuế, đã thuc đẩu chuyên môn hoá, hiệp tác sản xuất,
nhất là trong lĩnh vực sản xuất có khí nh: sản xuất, lắp ráp xe đạp, xe máy, ô tô, điện,
điện tử...
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có qui định chế độ khuyến khích đối với
đầu t các cơ sở sản xuất mới thành lập đợc miễn thuế hai năm đầu, đợc giảm 50%
trong hai năm sau nữa. Nếu đầu t vào những lĩnh vực, nghành nghề, vùng kinh tế đợc u đãi đầu t sẽ đợc hởng mức thuế suất thấp hơn so với các dự án khác (đầu t trong nớc
hởng thuế suất là 15%, 20%, 25%, đầu t nớc ngoài là 10%, 15%, 20%) và còn đợc u
đãi miễn giảm thuế thời gian dài hơn. Thời gian đợc miễn giảm thuế cao nhất là 13
năm trong dó miễn thuế 4 năm đầu và giảm 50% thuế trong 9 năm tiếp theo. Ngoài ra,
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp còn khuyến khích miễn, giảm thuế đối với các trờng
hợp đầu t dây chuyền sản xuất mới, mở rộng qui mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi
trờng sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất, di chuyển có sở kinh doanh.
Đối với Nhà nớc đã giảm mức thuế chuyển quyền sử dụng đát từ 10% xuống
còn 2% đối với đát sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, đát làm
muối và giảm từ 20% xuống 4% đối với đát ở, đất xây dựng công trình, đất khác. Các
sơ sở kinh doanh chuyển quyền sử dụng đất thuê, không phải nộp thuế chuyển quyền
sử dụng đất. Đối với các cơ sở kinh doanh đợc Nhà nớc giao đất xây dựng nhà ở để
bán, xây dựng kết cấu hạ tầng cho thuê thì đất chuyển quyền đợc miễn thuế chuyển
quyền sử dụng đất không chịu thuế GTGT tính trên giá đất chuyển quyền. Ngoài ra,
21


Nhà nớc còn giảm lệ phí trớc bạ đất từ 2% xuống 1% lam cho thị trờng đất đai, nhà
cửa đã có dấu hiệ sôi dộng hơn trớc.
Đối với phí, lệ phí đã thống nhất áp dụng một mức thu phí, lệ phí chung cho cả
các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và các doanh nghiệp trong nớc. Giảm lệ phí
cấ giấy phép đặt văn phòng đại diện của nớc ngoài từ 5000 USD/lần (tơng đơng với 70
triệu đồng Việt Nam) xuống còn 1 triệu đồng/ lần và không thu lệ phí đối với trờng
hợp gia hạn giấy phép đặt văn phòng đại diện.
Trong quá trình thực hiện, một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh những mặt
hàng, dịch vụ gặp khó khăn do thuế GTGT cao hơn thuế doanh thu nhng cha chuyển
đổi kịp cho phù hợp với có chế thuế mới và chịu sự ảnh hởng lớn của cuộc khủng
hoảng tài chính, tiền tệ trong khu vực nh: than, cơ khí (trừ sản phẩm cơ khí tiêu dùng),
luyện cán, kéo kim loại, máy vi tính, oá chất cơ bản, hoá dợc, vận tải, bốc xếp, xây
dựng, lắp đặt, khách sạn, ăn uống, du lịch, đã đợc UBTVQH, Chính phủ, Bộ tài chính
thực hiện các biện pháp xử lý, tháo gữo khó khăn nh: giảm mức thuế nhập khẩu của
569 mặt hàng là vật t, nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nớc với số thuế giảm gần
1000 tỷ đồng, giảm mức thuế GTGT cho 18 loaih hàng hoá, dịch vụ mở rộng diện
khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo tỷ lệ ấn định đối với một số mặt hàng...
Bằng các nội dung chính sách và biện pháp tháo gõ khó khăn nêu trên, các Luật
thuế mới đã góp phần khuyến khích đầu t và ổn định sản xuất, kinh doanh.
Trong năm 1999, tuy gặp nhiều khó khăn do số dự án đầu t trực tiếp của nớc
ngoài giảm khoảng 12,3% nhng tổng số vốn đầu t vẫn tăng so với năm 1998, trong đó
vốn đầu t trong nớc tăng khoảng 28,6%, vốn ODA tăng khoảng 16%. Thực hiện các
luật thuế mới ngay sau thời gian khủng hoảng kinh tế tài chính tiền tệ nhng sản xuất
kinh doanh vẫn giữ đợc ổn định. NĂm 1999, tốc độ tăng trởng GDP có xu hớng tăng
lên so với năm 1998, cả năm đạt 4,8%. Tình hình tài chính của các doanh nghiệp vẫn
giữ đợc ổn định và có thể chia ra theo các nhóm nh sau:
Nhóm các doanh nghiệp thực hiện các luật thuế mới thuận lợi hơn do
mức thuế phải nộp thấp hơn so với mức thuế cũ nh: điện, xi măng, phân bón, thuốc trừ
sâu, xây dựng, ăn uống, lắp đặt, bu chính viễn thông, xổ số kiến thiết, khách sạn, du
lịch...
Nhóm các doanh nghiệp thực hiện các luật thuế mới có mức thuế phải
nộp tơng đơng với mức thuế cũ nh: nghành dệt may, da giầy, điện tử, vật liệu xây dựng
(trừ xi măng), đờng sữa, bao bì...

22


Nhóm các doanh nghiệp đang lỗ thực hiện các luật thuế mới giảm lỗ hoắc
có lãi nh: Dệt Nam Định, Tổng công ty vật t Nông nghiệp, kẹo Hải Hà...
Nhóm các doanh nghiệp trớc đây lỗ, thực hiện các luật thuế mới vẫn bị lỗ
nh: Dệt 8/3, đạm Hà Bắc, cơ khí Hà Nội, bia Đông Nam á, công ty điện tử Đống Đa,
công ty điện tử Hanel...
Để khuyến khích xuất khẩu, đại bộ phận hàng hoá xuất khẩu đều đợc áp dụng
mức thuế suất 0%. Một số loại hàng chịu thuế xuất khẩu nh: gạo, than đá, sản phẩm từ
gỗ rừng trồng, bàn ghế, sản phẩm chế biến từ kim loại (dây đồng, dây nhôm...)trong
năm 1999 cũng đợc giamt thuế xuất khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu. Cùng các biện pháp
khuyến khích xuất khẩu nh cho phép doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp, thành lập quĩ
hỗ trợ xuất khẩu... thì việc thực hiện Luật thuế GTGT có tác dụng rõ nét nhất, trực tiếp
đến khuyến khích xuất khẩu. Theo qui định của luật thuế GTGT hàng hoá xuất khẩu
đợc hởng thuế suất 0% tức là đợc hoàn toàn bộ số thuế GTGT đã nộp ở đầu vào, việc
hoàn thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá thực chất là Nhà nớc trợ giá cho hàng hoá
xuất khẩu nên đã giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu tập trung đợc nguồn hàng trong nớc để xuất khẩu và có lợi thế hơn trớc do giảm đợc giá vốn hàng xuất khẩu và vì thế
góp phần tăng khả năng cạnh tranh với hàng hoá trên thị trờng quốc tế. Trong năm
1999 số tiền đã hoàn thuế, tăng vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu khoảng 1.800 tỉ
đồng.
Vì vậy trong điều kiện thị trờng xuất khẩu bị hạn chế, giá xuất khẩu giảm nhng
với sự cố gắng của các nghanh, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu và tác động
của cơ chế chính sách nên tổng trị giá xuất khẩu của nớc ta năm 1999 vẫn tăng so với
năm 1998 là 23.18%. Trong đó những mặt hàng đợc hoàn thế đầu vào nhiều, xuất
khẩu tăng so với năm 1998 nh: cao su 37,7%, gạo 21,4%, thuỷ sản 14,4%, rau quả
39,6%, dệt may 16%, giày dép 36,4%, thủ công mỹ nghệ 48,6% điện tử 17,5%.
Ngoài việc khuyến khích xuất khẩu, thuế GTGT cà thuế tiêu thụ đặc biệt vào
hàng hoá xuất nhập khẩu đã có tác dụng cùng với thuế nhập khẩu bảo hộ có hiệu quả
sản xuất trong nớc. Nhất là khi Việt Nam tham gia các hiệp định thơng mại đa phơng,
song phơng phải cắt giảm thuế quan, thực hiện thuế suất u đãi hoặc phải cắt bỏ hàng
rào phi thuế quan thì việc bảo hộ sản xuất trong nớc bằng thuế GTGT và thuế tiêu thụ
đặc biệt là biện pháp cực kỳ quan trọng. Tính đến năm 1999, đã giảm thuế theo chơng
trình CEPT là 3591 dòng hàng, trong đó riêng năm 1999 là 1872 dòng hàng. Đồng
thoèi nân thuế nhập khẩu của 132 mặt hàng chủ yếu là hàng tiêu dùng trong nớc đã
sản xuất đợc để bảo hộ sản xuất trong nớc.
23


2./ Về thị trờng giá cả.
Trong hai tháng đầu năm 1999, giá một số mặt hàng nh: lơng thực, thực phẩm,
công nghệ phẩm, dợc phẩm, y tế... có nhích lên so với tháng 12/1998 là do ảnh hởng
của Tết nguyên đán và một phần do một số doanh nghiệp, hộ t nhân cha hiểu rõ về
thuế GTGT hoặc lợi dụng đã cộng thêm thuế GTGT vào giá cả để bán. Nhng Chính
phủ đã chủ động chỉ đạo về việc chuẩn bị hàng hoá phục vụ Tết, có quyết định miễn
thuế GTGT trong 6 tháng đối với các cơ sở kinh doanh thơng mại kinh doanh các mặt
hàng lơng thực, thực phẩm tơi sống và rau quả tơi. Đồng thời chỉ đạo các nghành, các
cấp từ trung ơng đến địa phơng tăng cờng quản lý tốt giá cả, thực hiện niêm yết giá cả
và bán đúng giá niêm yết. Vì vậy, thị trờng, giá cả đã trở lại ổn định và không có biến
động lơn.
nh vậy, tình hình giá cả thị trơng trong năm qua đã cho thấy rằng giá cả là do
qui luạt cung cầu quyết ddịnh và do Nhà nớc đã có biện pháp quản lý giá kịp thời đối
với những mặt hàng có sự khan hiếm giả tạo.
3./ Về thu ngân sách Nhà nớc.
Triển khai các luật thuế mới đợc thiết kế trên cơ sở số thuế GTGT đảm bảo tơng
đơng số thuế doanh thu, thuế thu nhập doanh nghiệp giảm gái 2000 tỷ để thực hiện
chính sách u đãi về thuế suất, về miễn giảm thuế để khuyến khích đầu t. Thuế thu
nhập đối với ngời có thu nhập cao giảm để nâng mức khởi điểm chịu thuế và biể thuế
của ngời trong nớc và ngời nớc ngoài. Phí, lệ phí giảm do thực hiện Nghị đinh 04 của
Chính phủ nhiều khoản thu về phí, lệ phí phải cắt bỏ hoặc điều chỉnh giảm mức thu.
Để đảm bào thực hiện số dự toán thu năm 1999, Quốc hội giao, đảm bảo yêu cầu chi
của Ngân sách Trung ơng cũng nh Ngân sách địa phơng, Chính phủ đã báo cáo Quốc
hội cho áp dụng cơ chế điều hanh ngân sách năm 1999. Đối với những địa phơng bị
hut thu phần điều tiết cho ngân sách địa phơng do tác động của thuế GTGT thì đợc
Trung ơng bù đủ, nếu thu vợt đợc hởn 50% đối với số thu so với dự toán. Nguồn hoàn
thuế do ngân sách Trung ơng bố trí, không lấy từ ngân sách địa phơng.
Cơ chế trên cũng tạo sự yên tâm và quan tâm tích cực của các địa phơng trong
công tác chỉ đạo đieèu hành ngân sách nói ching, thu nói riêng. Mặt khác, do cơ chế
chính sách đợc điều chỉnh, sửa đổi phù hợp hơn cũng góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh
doanh đối với các doanh nghiệp. Công tác chỉ đạo quản lý thu cũng chặt chẽ và tiến bộ
nên kết quả thu năm 1999 đạt đợc dự toán Quốc hội thông qua. Tổng thu ngân sách
Nhà nớc ớc đạt 106,8% so với dự toán. Số thu từ thuế và phí đạt 105,7% dự toán năm.
Riêng số thu từ thuế GTGT thu đợc 16.590 tỷ đồng sau khi trừ số thuế phải hoàn, số
24


còn lại tơng đơng với doanh thu tính theo mặt hàng năm 1999.
Xét theo địa phơng thì có 61/61 tinh, thành phố đều hoàn thành và hoàn thành
vợt mức dự toán năm nên khả năng các địa phơng đợc thởng lơn. Trong đó có 22/61
địa phơng hoàn thành toàn diện cả ba chỉ tiêu chủ yếu là thu từ khu vực doanh nghiệp
Nhà nớc, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và khu vực ngoài quốc doanh. Số địa
phơng hụt về thuế GTGT ngân sách Trung ơng phải bù thêm chỉ có 14 địa phơng và số
phải bù cung không lơn.
Tuy nhiên, tỷ lệ động viên thuế cà phí trên GDP của năm 1999 thấp (17,6%) cha
đạt mức độ động viên theo Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc đã đề ra la 20% đến
21% GDP.
4./ Về công tác quản lý hạch toán kinh doanh của doanh nghiệp.
Để từng bớc thực hiện chính sách công bằng về thuế, đã điều chỉnh lại từ 11
mức thuế suất thuế lợi tức xuống còn 1 mức thuế suât thu nhập doanh nghiệp, đòi hỏi
các doanh nghiệp phải phấn đấu sắp xếp, tổ chức lại sản xuất, đổi mới trang thiết bị,
nâng cao trình độ quản lý để thực hiện đợc các mức thuế suất mới. Do yêu cầu của
việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Tính đúng thuế thu nhập doanh
nghiệp trên nguyên tắc phải có hoá đơn, chứng từ, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp
ngời kinh doanh chú trọng tổ chức thực hiện tốt hơn công tác mở sổ sách kée toán, ghi
chép, quản lý và sử dụng hoá đơn chứng từ. Trong năm 1999, số lợng hoá đơn các
doanh nghiệp sử dụng tăng gần gấp đôi so với năm 1998 và mức sử dụng hoá đơn tăng
thể hiện sự chuyển biến một bớc tiến mới trong công tác sử dụng hoá đơn và quản lý
của doanh nghiệp. Sự chuyển biến nầy thể hiện rõ nhất trong các doanh nghiệp t nhân,
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần đã thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn
chứng từ nộp thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ, hơn 200.000 hộ kinh doanh cá thể
đã thực hiện chế độ kế toán hoá đơn chứng từ chuyển từ hình thức nộp thuée khoán trớc đây sang nộp thuế GTGT thep phơng pháp kê khai trực tiếp.
Đối với 6000 doanh nghiệp Nhà nớc và hơn 2400 doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài công tác kế toán, hoá đơn chứng từ đã đợc củng cố, có nhiều tiến bộ so với
các năm trớc đây.
Do làm tốt hơn công tác kế toán, hoá đơn chứng từ, các đối tợng nộp thuế đã
chủ động khai lập và nộp tờ khai thuế hàng tháng tơng đối đầy đủ và đúng thời hạn.
Nếu nh trong quí I/1999 chỉ có 75% số doanh nghiệp nộp tờ khai thuế GTGT thì đến
quí IV/1999 đã tăng lên khoảng 97% đến 98% số doanh nghiệp nộp tờ khai thuế
(trong đó 100% doanh nghiệp Nhà nớc và doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài nộp tờ
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×