Tải bản đầy đủ

Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, chiến lược phát triển nhanh và bền vững nhất
đối với mỗi quốc gia, dân tộc, đó là sự chú trọng hàng đầu của Chính phủ về
công tác đổi mới hệ thống GD-ĐT, tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển
nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước. Việt Nam từ một nước có nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung, chuyển đổi sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của
nhà nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay với tốc độ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đang diễn ra nhanh, mạnh, có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn trên toàn
quốc, Đảng và Nhà nước ta hết sức chú trọng phát triển GD-ĐT, coi “giáo dục
là quốc sách hàng đầu”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 khoá VIII của Ban chấp hành Trung
ương Đảng đã ghi rõ:“Giáo dục và Đào tạo hiện nay phải có một bước chuyển
nhanh về chất lượng và hiệu quả đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo, nhất
là chất lượng dạy học trong các nhà trường nhằm nhanh chóng đưa Giáo dục
và Đào tạo đáp ứng yêu cầu mới của đất nước”.
Cùng với lịch sử phát triển của ngành giáo dục, việc nâng cao chất
lượng dạy học luôn được coi là nhiệm vụ cơ bản, đầu tiên, quan trọng nhất của
các nhà trường, đây chính là điều kiện để mô hình của các nhà trường tồn tại
và phát triển. Thực chất công tác quản lý của nhà trường và quản lý hoat động
dạy học là công việc được tiến hành thường xuyên, liên tục qua từng giờ dạy,

qua mỗi học kỳ và từng năm học, đây là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất
lượng đào tạo của nhà trường đáp ứng yêu cầu mục tiêu đào tạo.
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình đổi mới đất nước, đổi
mới giáo dục chất lượng giáo dục ở cấp THCS và chất lượng giáo dục và đào
tạo nói chung ở nước ta đã có sự khởi sắc, đã đạt được những thành tựu nhất
định. Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của học sinh, sinh viên
và giáo viên được nâng cao, chất lượng giáo dục đại học từng bước được nâng
lên, đào tạo được đội ngũ đông đảo cán bộ khoa học kỹ thuật, đã có những cống hiến
quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội.
Mặc dù đã đạt được những thành tựu trên, tuy nhiên hệ thống Giáo dục
và Đào tạo nước ta vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập so với yêu cầu phát triển
1
của đất nước trong thời kỳ CNH-HĐH. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
khoá VIII đã khẳng định:“Giáo dục nước ta vẫn còn nhiều yếu kém bất cập cả
về quy mô lẫn cơ cấu và nhất là chất lượng ít hiệu quả, chưa đáp ứng được đòi
hỏi ngày càng cao về nhân lực và công cuộc đổi mới kinh tế xã hội, xây dựng
bảo vệ tổ quốc, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa”. Để giải quyết mâu thuẫn trên đòi hỏi chúng ta phải
thay đổi quan niệm, nhận thức về giáo dục, phải hướng tới chất lượng giáo
dục, điều đó đồng nghĩa với việc phải chú trọng nâng cao trách nhiệm quản lý
và tăng cường các biện pháp quản lý hoạt động dạy học.
Trong hệ thống giáo dục nước ta, cấp THCS là cấp học cơ bản, là giai
đoạn trung gian giữa TH và THPT. Ở giai đoạn này, học sinh được cung cấp kiến
thức cơ bản nhất, giáo dục và hình thành nhân cách, gắn với tâm sinh lý của lứa
tuổi này cũng nhiều biến động. Như vậy, các hoạt động dạy học ở các trường
THCS là vô cùng quan trọng, là cơ sở cho các cấp học, bậc học cao hơn.
Tam Đảo là một huyện miền núi thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, kinh tế phát
triển chậm, trình độ dân trí thấp và không đồng đều, ngành giáo dục cũng còn
nhiều khó khăn. Chất lượng dạy học ở các trường THCS tuy từng bước được
nâng lên và đi vào ổn định, song còn chậm, thiếu vững chắc và chưa đồng đều
ở các trường trong toàn huyện. Đặc biệt trong lĩnh vực quản lý giáo dục, quản
lý hoạt động dạy học trong các nhà trường THCS đang đặt ra nhiều vấn đề bức
xúc cần sớm được quan tâm nghiên cứu giải quyết. Thực tế đòi hỏi ngành giáo
dục huyện Tam Đảo phải có những biện pháp quản lý hoạt động dạy học đồng
bộ và mang tính khả thi.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tác giả chọn vấn đề “Biện pháp quản
lý hoạt động dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Tam Đảo, tỉnh
Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay’’ làm đề tài nghiên cứu; hy vọng sẽ góp
phần vào việc quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THCS,
đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội.

2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác quản lý hoạt động dạy học ở
các trường THCS nói chung, thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường
THCS huyện Tam Đảo nói riêng, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy
2
học nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học ở các trường THCS huyện
Tam Đảo, góp phần nâng cao chất lượng GD-ĐT tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài tập trung nghiên cứu các
vấn đề sau:
3.1. Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học ở các trường
trung học cơ sở
3.2. Điều tra, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động
dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
3.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh
Phúc
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu: Quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học
cơ sở.
4.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trường
THCS huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
5. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động dạy học ở các trường THCS có ý nghĩa
quyết định đến chất lượng giáo dục.
Áp dụng một cách đồng bộ, linh hoạt, sáng tạo các biện pháp quản lý
hoạt động dạy học ở các trường THCS trên địa bàn huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh
Phúc được đề xuất trong luận văn sẽ đáp ứng tốt yêu cầu phát triển giáo dục
THCS trong giai đoạn hiện nay.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy học của HT
các trường THCS của huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đề tài tập trung khảo sát công tác quản lý hoạt động dạy học ở các
3
trường THCS thuộc huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc trong 5 năm trở lại đây.
- Các biện pháp được xác định theo hướng Đề án phát triển GD-ĐT của
huyện Tam Đảo từ năm 2005 đến năm 2015.
7. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên các phương pháp sau:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các văn kiện, Nghị
quyết của Đảng, các văn bản quy định của nhà nước và của ngành giáo dục và
đào tạo; các tài liệu lý luận về quản lý, quản lý giáo dục và các tài liệu liên
quan đến đề tài nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương phát quan sát.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
- Phương pháp thống kê toán học.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động dạy học ở trường trung
học cơ sở
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung
học cơ sở huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung
học cơ sở huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay.
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.1.1.1. Khái niệm quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng thuật ngữ quản lí được định nghĩa
là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” [34].
Quản lý là một chức năng lao động- xã hội bắt nguồn từ tính chất xã
hội của lao động.
Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành nhóm, đã biết phối hợp các
nỗ lực cá nhân để thực hiện mục tiêu duy trì sự sống. Từ khi xuất hiện nền
sản xuất xã hội, nhu cầu phối hợp các hoạt động riêng lẻ càng tăng lên. Bất
cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân,
của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp… đến một tập thể
nhỏ như tổ chuyên môn, tổ sản xuất, bao giờ cũng có hai phân hệ: Người
QL và đối tượng QL. Sự cần thiết của QL trong một tập thể lao động được
K.Marx viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến
hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để
điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung,
phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ sở sản xuất khác với sự vận động của
những cơ quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình
điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [22,Tr.34]
Như vậy, K.Marx đã lột tả được bản chất của QL là một hoạt động lao
động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong
quá trình phát triển loài người. QL trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra ở
mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó
là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân
5
công hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung.
QL là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, vì vậy có nhiều
định nghĩa khác nhau về khoa học QL, tùy thuộc theo quan điểm tiếp cận
khác nhau mà các tác giả đưa ra các định nghĩa khác nhau.
Theo điều khiển học: QL là quá trình điều khiển của chủ thể QL đối
với đối tượng QL để đạt được mục tiêu đã định.
Theo quan điểm của kinh tế học: QL là sự tính toán, sử dụng hợp lý
các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Theo GS Hà Sĩ Hồ: QL là một quản trình tác động có định hướng, có
chủ đích, tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có dựa trên các
thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận
hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã
định [20].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: QL là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể QL đến tập thể của người lao động nói chung (khách thể
QL) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến [18].
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “QL là sự tác động có định hướng,
có chủ đích của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức, làm cho tổ
chức đó vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức” [6].
Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “QL là một quá trình định
hướng, quá trình có mục tiêu; QL là một hệ thống là quá trình tác động đến
hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng
cho trạng thái mới của hệ thống mà người QL mong muốn” [30].
Theo tác giả Nguyễn Văn Lê: “QL là một hệ thống xã hội, là khoa
học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào con người
nhằm đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra” [27].
Theo TS.Nguyễn Quốc Chí và PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì:
“Quản lí là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người
6
quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong một tổ chức nhằm
làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [2].
1.1.1.2. Khái niệm quản lý giáo dục
* Khái niệm về giáo dục
Để tồn tại và phát triển, con người phải trải qua quá trình lao động,
học tập, con người nhận thức thế giới xung quanh, dần dần tích lũy được
kinh nghiệm, từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết ấy cho nhau
qua nhiều thế hệ dần trở thành giá trị văn hóa. Đó chính là nguồn gốc phát
sinh của hiện tượng giáo dục.
Giáo dục lúc đầu xuất hiện như một hiện tượng tự phát, sau dần trở
thành một hoạt động có ý thức. Ngày nay giáo dục đã trở thành một hoạt
động được tổ chức đặc biệt, đạt tới trình độ cao, có chương trình, kế hoạch,
có nội dung, phương pháp hiện đại và trở thành động lực thúc đẩy sự phát
triển nhanh chóng của xã hội loài người.
Như vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội loài người, bản chất của
nó là sự truyền đạt và lĩnh hội khinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ
loài người. Nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa
văn hóa dân tộc, nhân loại được bảo tồn, kế thừa và bổ sung ngày càng
hoàn thiện hơn và trên cơ sở đó, xã hội loài người không ngừng phát triển
tiến lên.
* Khái niệm QL giáo dục
QL giáo dục là sự tác động có thức của chủ thể QL đến khách thể QL
nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong
muốn. QL giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp
các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu
cầu phát triển xã hội.
Trong các nước tư bản chủ nghĩa, người ta vận dụng lý luận QL giáo
dục bắt nguồn từ lý luận QL xã hội được chia thành 3 lĩnh vực: “ Chính trị -
7
Xã hội”; “Văn hóa -Tư tưởng”; “Kinh tế”. Từ đó có 3 loại QL: “QL chính
trị - Xã hội”; “QL văn hóa -Tư tưởng”; “QL kinh tế”. QL giáo dục nằm
trong “QL văn hóa -Tư tưởng” [9;Tr97]. Trong cuốn “Cơ sở lý luận của
khoa học QL giáo dục” của M.I.Kondacov có viết: “Không đòi hỏi một định
nghĩa hoàn chỉnh thì chúng ta không hiểu QL nhà trường là hệ thống xã hội
chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa học và
có hướng của chủ thể QL trên cơ sở các mặt của đời sống nhà trường để
đảm bảo sự vận hành tối ưu của xã hội- kinh tế và tổ chức sư phạm của quá
trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” [25].
Theo GS Phạm Minh Hạc: QL giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy
học. Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được tính chất của nhà
trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới QL được giáo dục, tức là cụ
thể hóa được đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện
thực, đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân, của dân tộc [18].
Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “QL giáo dục là hệ thống các tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho
hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện
được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và tiêu điểm
hội tụ là quá trình dạy học -giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái
mới về chất” [32].
Khái quát lại, nội hàm của khái niệm QL giáo dục chứa đựng những
nhân tố đặc trưng bản chất sau: Phải có chủ thể QL giáo dục. Ở tầm vĩ mô
là QL nhà nước mà cơ quan trực tiếp QL là Bộ GD-ĐT, Sở GD-ĐT, Phòng
GD-ĐT; Ở tầm vi mô là QL của HT, phó HT của các trường phổ thông.
Phải có hệ thống tác động QL theo nội dung, chương trình kế hoạch thống
nhất từ TW đến địa phương nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi
giai đoạn lịch sử cụ thể. Phải có một lực lượng đông đảo những người làm
công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật tương
8
ứng. QL giáo dục có tính xã hội cao, bởi vậy cần tập trung giải quyết tốt các
vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng phục vụ tốt
công tác giáo dục.
Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của QL giáo dục,
trong đó đội ngũ GV và HS là đối tượng QL quan trọng nhất, đồng thời là
chủ thể trực tiếp QL quá trình giáo dục.
Tóm lại: QL giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhà QL
giáo dục trong việc vận hành nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế
hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra.
1.1.1.3. Khái niệm quản lý nhà trường
Trường học là một tổ chức, ở đó tiến hành quá trình dạy học. Hoạt
động đặc trưng của trường học là hoạt động dạy học, đó là hoạt động có tổ
chức, có nội dung, có phương pháp và phương tiện, có mục đích, có sự lãnh
đạo của nhà GD, có sự hoạt động tích cực, tự giác của người học.
Nội hàm của khái niệm quản lý nhà trường được nhiều tác giả trong
và ngoài nước diễn tả theo nhiều góc độ khác nhau.
Theo M.I.Kondacov: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh,
chúng ta hiểu QL nhà trường (công việc nhà trường là một hệ thống xã hội-
sư phạm chuyên biệt). Hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có
kế hoạch và hướng đích của chủ thể QL đến tất cả các mặt của đời sống nhà
trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội- kinh tế, tổ
chức- sư phạm của quá trình dạy- học và GD thế hệ đang lớn lên” [25].
QL nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể QL đến
tập thể GV, HS và cán bộ khác, nhằm tận dụng những nguồn dự trữ do nhà
nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xã hội xây dựng vốn
tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường nhằm đào tạo
thành công thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào
tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới. Như vậy QL nhà trường chính
9
là QL giáo dục trong một phạm vi xác định, đó là đơn vị giáo dục, là nhà
trường. Do đó, QL nhà trường là vận dụng tất cả các nguyên lý chung của
QL giáo dục để đẩy mạnh nhà trường hoạt động theo mục tiêu đào tạo.
Nhà trường là một thiết chế xã hội thể hiện chức năng tạo nguồn nhân
lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội. Thiết chế chuyên biệt
này hoạt động trong tính quy định của xã hội và theo những dấu hiệu phân
biệt tính mục đích tập trung hay tính hẹp được “chiết xuất”; Tính tổ chức và
kế hoạch hóa cao; tính hiệu quả giáo dục cao nhờ quá trình truyền thụ có ý
thức tổ chức; tính chuyên biệt tương đối hay tính lý tưởng hóa các giá trị xã
hội; tính chuyên biệt cho từng đối tượng hay tính chất phân biệt đối xử theo
sự phát triển tâm lý và thể chất.
Thực chất QL giáo dục là tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động
của nhà trường được vận hành theo đúng mục tiêu. Trường học là hoạt động
của nhà trường được vận hành theo đúng mục tiêu. Trường học là những tế
bào quan trọng trong hệ thống giáo dục. Những tế bào đó có hoạt động tốt,
hiệu quả, đúng mục tiêu thì hệ thống giáo dục mới thực hiện được những
mục tiêu xã hội giao phó, vì vậy để nhà trường vận hành và phát triển thì
cần nhất thiết phải có QL. QL nhà trường có thể xem như một bộ phận của
QL giáo dục nói chung.
QL nhà trường là tổ chức hoạt động dạy học, thực hiện các tính chất
của nhà trường phổ thông Việt Nam XHCN, mới QL được giáo dục, tức là
cụ thể hóa đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của đất nước
trong từng giai đoạn mới.
Theo GS Phạm Minh Hạc: “QL nhà trường là thực hiện đường lối của
Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành
theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối
với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS” [18].
Như vậy, QL nhà trường chính là QL giáo dục nhưng trong một phạm
10
vi xác đinh của một đơn vị giáo dục nền tảng, đó là nhà trường. QL nhà
trường về cơ bản khác với QL các lĩnh vực khác. Ở đây những tác động của
chủ thể QL là những tác động của công tác tổ chức sư phạm đến đối tượng
QL nhằm giải quyết nhiệm vụ giáo dục của nhà trường. Đó là hệ thống tác
động có phương hướng, có mục đích, có mối quan hệ qua lại lẫn nhau.
QL nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy
luật chung của QL nói chung, đồng thời nó có những nét đặc thù riêng. QL
nhà trường khác với các QL xã hội khác, được quy định bởi bản chất lao
động sư phạm của người GV, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục.
Trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng QL, vừa là chủ
thể tự hoạt động của bản thân mình. Sản phẩm tạo nên của nhà trường là
nhân cách của người HS được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng
rèn luyện và phát triển theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận.
QL nhà trường phải vận vận dụng tất cả các nguyên lý chung của
QLGD để đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo. QL
nhà trường là phải QL toàn diện nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách
của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả, do vậy muốn thực
hiện có hiệu quả công tác QL giáo dục phải xem xét đến những điều kiện
đặc thù của mỗi nhà trường, phải chú trọng thực hiện việc cải tiến công tác
QLGD đối với nhà trường, nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân.
Tóm lại, QL nhà trường là một bộ phận của QLGD. QL nhà trường là
một hệ thống những tác động sư phạm khoa học và có tính định hướng của chủ
thể QL đến tập thể GV, HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường
nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối và nguyên lý giáo dục
của Đảng. Người QL nhà trường phải làm sao cho hệ thống các thành tố vận
hành chặt chẽ với nhau, đưa đến kết quả mong muốn.
1.1.2. Hoạt động dạy học
Dạy học là một quá trình sư phạm, với nội dung khoa học, được thực
11
hiện theo một phương pháp sư phạm đặc biệt do nhà trường tổ chức, GV thực
hiện nhằm giúp HS nắm vững hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ
thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kỹ năng hoạt động, nâng cao
trình độ học vấn, phát triển trí tuệ và hoàn thiện nhân cách. Dạy học là con
đường cơ bản để thực hiện mục đích giáo dục xã hội. Học tập là cơ hội quan
trọng nhất giúp mỗi cá nhân phát triển và thành đạt trong xã hội.
Dạy học là một quá trình toàn vẹn có sự thống nhất giữa hai mặt của
các chức năng hoạt động dạy và hoạt động học. Đó là quá trình vận động và
phát triển của các thành tố tạo nên hoạt động dạy học. Hiệu quả của hoạt
động dạy học phụ thuộc vào mối quan hệ tương tác, sự hỗ trợ của hoạt động
dạy và hoạt động học, hoạt động dạy học “là một quá trình bộ phận, một
phương tiện trao đổi học vấn, phát triển năng lực và giáo dục phẩm chất
nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm
truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những tri thức khoa học, những
kỹ năng nhận thức và thực hành”. Nói cách khác, hoạt động dạy học là quá
trình vận động kết hợp giữa hai tiểu hoạt động dạy và học nhằm đạt được
nhiệm vụ của dạy học.
Hoạt động dạy học là một hệ thống toàn vẹn bao gồm các thành tố cơ
bản: Mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức,
người dạy, người học. Các thành tố này tương tác với nhau, thâm nhập vào
nhau để thực hiện nhiệm vụ dạy học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
dạy học.
Hoạt động dạy học gắn liền với hoạt động giáo dục. Cả hai hoạt động
này đều hướng tới một mục tiêu chung là phát triển toàn diện nhân cách
người học.
Nói tóm lại, hoạt động dạy học là quá trình mà trong đó dưới sự tổ
chức, điều khiển, lãnh đạo của người GV làm cho người học tự giác, tích
cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức- học tập của
12
mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học.
Bản chất của hoạt động dạy học thể hiện tính thống nhất của hoạt
động dạy và hoạt động học, sự thống nhất biện chứng giữa các thành tố của
hoạt động dạy học trong quá trình triển khai hoạt động dạy học.
V.I. Lênin đã khái quát quá trình nhận thức của loài người: “Từ trực
quan sinh động đến tư duy trừu trượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn,
đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực
khách quan”.
Hoạt động dạy học là một hệ thống toàn vẹn mà các thành tố của nó
luôn luôn tương tác với nhau theo những quy định riêng, thâm nhập vào
nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên sự thống nhất biện chứng: giữa dạy và
học, giữa truyền đạt và lĩnh hội, giữa điều khiển và tự điều khiển trong quá
trình dạy học.
Dạy và học là hệ thống hoạt động thống nhất biện chứng còn bởi quy
định lẫn nhau của các hoạt động này cả về nội dung lẫn hình thức.
Dạy học là một quá trình tương tác, cộng tác giữa thầy và trò. Chủ thể
hoạt động dạy là GV, chủ thể hoạt động học là HS. Quá trình vận động tích
cực, sáng tạo của chủ thể này làm cho họ phát triển, hoàn thiện mình hơn cả
về phẩm chất lẫn năng lực. Trong đó hoạt động dạy của thầy và trò phối
hợp nhịp nhàng, ăn khớp phát huy tối đa khả năng sáng tạo của HS giúp họ
trưởng thành hơn trong hoạt động đó.
1.1.3. Quản lý hoạt động dạy học
QL hoạt động dạy học là một hệ thống những tác động có mục đích,
có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL tới khách thể QL trong quá trình
dạy học nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Là quá trình người HT hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra hoạt
động dạy học của GV nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Trong toàn bộ quá
trình QL nhà trường thì QL hoạt động dạy học của HT là hoạt động cơ bản
13
nhất, quan trọng nhất.
Như vậy, QL hoạt động dạy học thực chất là quá trình truyền thụ tri
thức của đội ngũ GV và quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của
HS; QL các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ
hoạt động dạy học của cán bộ QL nhà trường.
* Mục tiêu của QL hoạt động dạy học
Đó là chất lượng, hiệu quả của hoạt động dạy và kết quả đạt được ở HS với
sự phát triển toàn diện các mặt: Đức, trí, thể, mỹ đã được quy định trong mục
tiêu dạy học. Nói cách khác, mục tiêu của QL họat động dạy học là:
- Đảm bảo thực hiện đầy đủ các mục tiêu, kế hoạch đào tạo, nội dung
chương trình giảng dạy theo đúng tiến độ và thời gian quy định(QL mục
tiêu, nội dung).
- Đảm bảo hoạt động dạy học đạt kết quả cao (QL chất lượng).
* Biện pháp QL hoạt động dạy học
Là nội dung, cách thức, giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó của chủ
thể QL. Trong QL giáo dục, biện pháp QL là tổ hợp nhiều cách thức tiến
hành của chủ thể QL nhằm tác động đến đối tượng QL để giải quyết những
vấn đề trong công tác QL, làm cho hệ QL vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể
QL đã đề ra và phù hợp với quy luật khách quan. Trong nhà trường, biện
pháp QL hoạt động dạy và học là những cách thức tổ chức, điều hành kiểm
tra, đánh giá hoạt động dạy và học của cán bộ, GV và HS nhằm đạt được
kết quả cao nhất đề ra.
1.2. Lý luận về quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học cơ sở
1.2.1. Trường trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân
* Vị trí của trường trung học cơ sở.
Điều 2, Điều lệ trường trung học quy định: “Trường trung học cơ sở là
cơ sở giáo dục của bậc trung học, bậc học nối tiếp bậc tiểu học của hệ thống
giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông. Trường trung học cơ
14
sở có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng”.
Trường THCS là bậc học trung gian giữa TH và THPT, là giai đoạn
quan trọng mà HS cần phải bổ sung đầy đủ kiến thức cơ bản của bậc học
TH và tích lũy đầy đủ, toàn diện kiến thức của bậc THCS để chuẩn bị học
lên THPT hoặc học tiếp vào các trường nghề hoặc trung học chuyên nghiệp.
Giáo dục THCS được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp 6 đến lớp 9, HS
vào học lớp 6 phải hoàn thành chương trình TH, có độ tuổi là mười một
tuổi. Chất lượng học tập của HS ở bậc này quyết định năng lực làm việc, tư
duy sáng tạo, kỹ năng sống của mỗi con người.
* Mục tiêu, nội dung và kế hoạch đào tạo của trường trung học cơ sở.
- Mục tiêu giáo dục trung học cơ sở.
“Giáo dục THCS nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả
của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu
biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung cấp,
học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [13, Tr.75].
Xác định đúng đắn mục tiêu giáo dục trong từng thời kỳ phát triển
của đất nước có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thành các mục
tiêu xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Mục tiêu giáo dục như là
một phần định hướng, chỉ đường cho các khuôn mẫu phát triển và làm nền
tảng cho sự vận động của tình hình hiện tại đến tương lai.
Để giáo dục phát triển mạnh mẽ “nhằm phát huy nguồn lực con người,
yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”, Khi bước vào thời kỳ
mới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo
dục toàn diện; đức dục; trí dục; thể dục; mỹ dục ở tất cả các bậc học”.
Ngoài ra các mục tiêu cụ thể nhằm xác định nhằm thực hiện phổ cập
giáo dục tiểu học trong cả nước năm 2000, phổ cập THCS năm 2010, phổ
cập THPT năm 2020. Bảo đảm phần lớn thanh, thiếu niên trong độ tuổi ở
thành thị và vùng nông thôn học hết THPT, trung học chuyên nghiệp hoặc
15
đào tạo nghề. Tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi được học tập
thường xuyên, suốt đời.
- Nội dung giáo dục trung học cơ sở.
Khoản 1 điều 24 Luật Giáo dục quy định: “Nội dung GDPT phải đảm
bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và hệ thống: Gắn với
thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của HS, đáp ứng mục
tiêu giáo dục ở mỗi bậc học, cấp học.
Nội dung giáo dục THCS phải củng cố, phát triển những nội dung đã
học ở bậc tiểu học, đảm bảo cho HS có những kiến thức phổ thông cơ bản
về Tiếng việt, Toán, Lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội,
khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết tối
thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp.
Trong giai đoạn mới của đất nước, việc đổi mới nội dung giáo dục
cho phù hợp là một việc rất cần thiết. Đổi mới nội dung giáo dục nhằm
“loại bỏ những nội dung không thiết thực, bổ sung những nội dung cần thiết
theo hướng đảm bảo kiến thức cơ bản cập nhật với tiến bộ của khoa học
công nghệ, tăng nội dung khoa học- công nghệ ứng dụng, tăng cường giáo
dục kỹ thuật tổng hợp và năng lực thực hành ở bậc phổ thông, tăng cường
giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa
Mác- Lênin, đưa việc giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh vào nhà trường phù
hợp với từng lứa tuổi trong mỗi bậc học, coi trọng hơn nữa các môn khoa
học xã hội- nhân văn, nhất là tiếng việt, lịch sử dân tộc, địa lý và văn hóa
Việt Nam.
Như vậy, nội dung giáo dục THCS được đổi mới phải mang tính chất
phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp, gắn với thực tiễn cuộc sống,
phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý HS.
- Kế hoạch giáo dục ở bậc trung học cơ sở.
Kế hoạch dạy học là một văn bản có tính pháp lý của Nhà nước do Bộ
16
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành trong toàn quốc, mọi cán bộ QL,
GV phải thực hiện nghiêm túc.
Kế hoạch giáo dục quy định: Thành phần các môn học, trình tự dạy
môn học ở các khối lớp, số giờ dành cho từng bộ môn mỗi tuần, trong năm
học, cấu trúc thời gian của năm học, kế hoạch giáo dục là tài liệu quan
trọng nhất nhằm xác định nội dung, mức độ học vấn phổ thông và tổ chức
các hoạt động giáo dục nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp
học, bậc học.
Định hướng mang tính nguyên tắc khi xây dựng kế hoạch giáo dục
trong thời gian tới:
- Kế hoạch giáo dục phải phản ánh mục tiêu giáo dục toàn diện bao
gồm những yêu cầu về giáo duc đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, lao
động kỹ thuật.
- Kế hoạch giáo dục phải phản ánh tính hài hòa, cân đối giữa các mặt
giáo dục đảm bảo tính hệ thống, tính liên tục, kế tiếp. Xác định hệ thống
môn học với thời lượng phù hợp, đảm bảo coi trọng nội dung giáo dục,
khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn, kỹ năng công nghệ.
- Kế hoạch giáo dục xây dựng phải phù hợp với sự phát triển tâm sinh
lý và sức khỏe của HS.
Để đảm bảo mục tiêu giáo dục toàn diện cho HS THCS, những nội
dung cần thiết về kỹ thuật, công nghệ và hướng nghiệp, những kiến thức về
dân số, môi trường, pháp luật, giao thông, ngoại ngữ, sử dụng máy tính, âm
nhạc mỹ thuật, hướng nghiệp…vv ngày càng được chú trọng cập nhật, tích
hợp trong các môn học.
Mục tiêu, nội dung, phương pháp, kế hoạch giáo dục là những thành
tố của hệ thống giáo dục và chúng có quan hệ hữu cơ, gắn bó và tác động
qua lại lẫn nhau, đổi mới mục tiêu giáo dục không những phải đổi mới nội
dung, phương pháp, kế hoạch giáo dục mà còn phải xây dựng đội ngũ GV
17
đủ năng lực, trình độ sư phạm để thực hiện mục tiêu đó, nhất là trong giai
đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước hiện nay.
Giáo dục tuy có vị trí tương đối độc lập với phát triển kinh tế nhưng
là một bô phận của kinh tế xã hội, nên sự phát triển của giáo dục phụ thuộc
vào các điều kiện và trạng thái vận động của nhiều nhân tố: Dân số, thu
nhập quốc dân, khả năng lao động, trình độ phát triển văn hóa, kết cấu và
cơ chế kinh tế… Sự phát triển của giáo dục với đặc trưng về tổ chức sư
phạm như cơ cấu hệ thống, nội dung đào tạo, tổ chức các loại hình đào tạo,
nếu có sự QL tốt sẽ có tác dụng thúc đẩy các nhân tố tích cực, hạn chế các
diễn biến tiêu cực của kinh tế xã hội.
1.2.2. Nội dung quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học cơ sở
1.2.2.1. Quản lý hoạt động dạy của giáo viên
Hoạt động dạy của thầy là hoạt động chủ đạo trong quá trình dạy học.
QL hoạt động này bao gồm: QL phân công giảng dạy cho GV, QL việc thực
hiện chương trình dạy học, QL việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp, QL giờ
lên lớp của GV, QL việc dự giờ và phân tích bài học sư phạm, QL hoạt
động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS..vv.
- Quản lý phân việc công giảng dạy cho giáo viên
Phân công giảng dạy cho GV thực chất là công tác tổ chức- cán bộ
HT cần quán triệt quan điểm phân công giảng dạy theo chuyên môn đã
được đào tạo theo yêu cầu đảm bảo chất lượng và đảm bảo quyền lợi học
tập của HS. Trong điều kiện tình hình của đội ngũ GV hiện nay, do chất
lượng chuyên môn không đồng đều nên việc phân công giảng dạy cho GV
phù hợp với các yêu cầu của công việc và nguyện vọng cá nhân không phải
là điều dễ dàng. Điều đó đòi hỏi sự phân công phải đảm bảo hài hòa giữa
việc cân đối số giờ thực dạy và số giờ làm công tác kiêm nhiệm, đảm bảo
tương đối công bằng về khối lượng công việc của từng GV.
18
- Quản lý việc thực hiện chương trình.
Thực hiện chương trình dạy học là thực hiện kế hoạch đào tạo theo
mục tiêu của nhà trường phổ thông. Chương trình dạy học là văn bản pháp
lệnh của nhà nước do Bộ Giáo dục- Đào tạo ban hành. Yêu cầu đối với HT
là phải nắm vững chương trình, tổ chức cho GV tuân thủ một cách nghiêm
túc, không được tùy tiện thay đổi, thêm bớt làm sai lệch chương trình dạy
học (nếu có thay đổi, bổ sung phải theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục- Đào
tạo, Sở, Phòng GD-ĐT địa phương).
Sự nắm vững chương trình dạy học là việc đảm bảo để HT QL thực
hiện tốt chương trình dạy học. Bao gồm:
+ Nắm vững nguyên tắc cấu tạo chương trình, nội dung và phạm vi
kiến thức của từng môn học, cấp học.
+ Nắm vững phương pháp dạy học đặc trưng của môn học và các
hình thức dạy học của từng môn học.
+ Nắm vững kế hoạch dạy học của từng môn học, từng khối lớp trong
cấp học.
+ Không được giảm nhẹ, nâng cao hoặc mở rộng so với yêu cầu nội
dung, phạm vi kiến thức quy định của từng chương trình môn học.
+ Phương pháp dạy đặc trưng của môn học, của bài học phải phù hợp
với từng loại lớp học, từng loại bài của lớp học.
+ Vận dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau, kết hợp giữa các
hình thức dạy học trên lớp, ngoài lớp, thực hành, tham quan… một cách hợp lý.
+ Dạy đủ và coi trọng tất cả các môn học theo quy định của phân phối
chương trình, nghiêm cấm việc cắt xén, dồn ép bài học, thêm bớt tiết học
với bất cứ môn học nào, lớp học nào, dưới bất kỳ hình thức nào.
Để việc QL thực hiện chương trình dạy học đạt kết quả, bảo đảm thời
gian cho việc thực hiện chương trình dạy học, HT phải chủ ý sử dụng thời
khóa biểu như là công cụ để theo dõi, điều khiển và kiểm soát tiến độ thực
19
hiện chương trình dạy học, để thường xuyên, kịp thời điều chỉnh những lệch
lạc trong quá trình thực hiện chương trình dạy học.
- Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp.
Soạn bài là khâu quan trọng nhất trong việc chuẩn bị của GV cho giờ
lên lớp. Tuy nó chưa dự kiến hết các tình huống sư phạm trong quá trình lên
lớp, nhưng soạn bài thực sự là lao động sáng tạo của từng GV. Nó thể hiện
sự suy nghĩ, lựa chọn, quyết định của GV về nội dung, phương pháp giảng
dạy, hình thức lên lớp phù hợp với đối tượng HS và đúng với yêu cầu của
chương trình.
QL việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp phải đảm bảo những yêu cầu
cần thiết đó là:
+ Bảo đảm tính tư tưởng, tính giáo dục thông qua bài giảng.
+ Thực hiện soạn bài phải đúng quy chế, soạn bài chu đáo trước khi
lên lớp, chống việc soạn bài để đối phó với việc kiểm tra.
+ Bảo đảm nội dung, kiến thức khoa học, chính xác, mang tính giáo
dưỡng.
+ Đưa việc soạn bài, chuẩn bị lên lớp vòa nền nếp, nghiêm túc và
đảm bảo chất lượng.
+ Chỉ đạo không dập khuôn, máy móc, bảo đảm và khuyến khích tính
tích cực, tự giác và sáng tạo của GV.
Để việc soạn bài, chuẩn bị lên lớp của GV có thể thực hiện theo một
kế hoạch đồng bộ và có hiệu quả, HT nhà trường cần phải phân công trách
nhiệm cụ thể cho cán bộ GV trong trường, tạo mọi điều kiện để họ thực
hiện tốt việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp, có kế hoạch thường xuyên kiểm
tra, theo dõi để khuyến khích kịp thời đồng thời điều chỉnh những sai lệch
nhằm thực hiện đúng những quy định đã đề ra.
- Quản lý giờ lên lớp của giáo viên
+ Thông qua trực ban hàng ngày để QL nề nếp trong các buổi học.
20
+ Tổ chức hoạt động dự giờ, thăm lớp để nắm bắt thực trạng chất
lượng các giờ dạy và tổ chức rút kinh nghiệm sư phạm.
+ Thông qua báo cáo của các tổ chuyên môn và của GV chủ nhiệm để
nắm thông tin về công tác dạy học của GV.
Hoạt động dạy và học trong nhà trường phổ thông hiện nay được thực
hiện chủ yếu bằng hình thức dạy và học trên lớp, với những giờ lên lớp và
hệ thống bài học cụ thể. Nói cách khác, giờ lên lớp là hình thức tổ chức cơ
bản và chủ yếu nhất của quá trình dạy học trong nhà trường để thực hiện
mục tiêu cấp học.
Chính vì vậy trong quá trình QL dạy và học của mình, HT phải có
những biện pháp tác động cụ thể, phong phú và linh hoạt để nâng cao chất
lượng giờ lên lớp của GV, đó là trách nhiệm của người QL.
QL giờ lên lớp của GV phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu là:
+ Xây dựng được “chuẩn” giờ lên lớp để QL tốt giờ lên lớp của GV.
Ngoài những quy định chung của ngành cần thường xuyên được bổ sung, điều
chỉnh để thực hiện được tiến độ chung của trường và của GV trong trường.
+ Phải xây dựng nề nếp giờ lên lớp cho thầy và trò nhằm bảo đảm
tính nghiêm túc trong mọi hoạt động hết sức nhịp nhàng của nhà trường,
góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
+ Phải tác động đến giờ lên lớp một cách tích cực và càng trực tiếp
càng tốt để mọi giờ lên lớp đều góp phần thực hiện mục tiêu.
+ Phải yêu cầu cụ thể từng đối tượng thực hiện đầy đủ, nghiệm túc
những quy định của nhà trường, quy chế có liên quan đến giờ lên lớp.
Để đảm bảo được những yêu cầu QL giờ lên lớp, HT cần xây dựng và
quy định rõ chế độ thực hiện và kiểm tra sử dụng thời khóa biểu nhằm kiểm
soát các giờ lên lớp, duy trì nề nếp dạy học, điều khiển nhịp điệu dạy học và
tạo nên bầu không khí sư phạm trong nhà trường.
- Quản lý việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học.
21
Nét đặc thù cơ bản làm cho QL trường học khác với các dạng QL
khác là trong QL nhà trường có hoạt động dự giờ và phân tích sư phạm bài
học, đây là một chức năng quan trọng của HT để chỉ đạo hoạt động dạy và
học và biện pháp quan trọng hàng đầu để QL giờ lên lớp.
Để công việc dự giờ và phân tích sư phạm sau mỗi tiết dạy thực sự trở
thành có hiệu quả HT cần phải quán triệt đầy đủ những yêu cầu cơ bản sau:
+ Nắm vững được lý luận dạy học và lý thuyết về bài học, nắm vững
những quan điểm trong phân tích sư phạm bài học
+ Nắm vững các bước trong dự giờ và phân tích sư phạm bài học để
chỉ đạo tất cả GV trong nhà trường thực hiện.
+ Tổ chức tốt việc dự giờ thăm lớp trong trường, có chế độ dự giờ
thích hợp, có đầy đủ hồ sơ kế hoạch cụ thể, đặc biệt phải có chuẩn đánh giá
phù hợp, có đầy đủ hồ sơ dự giờ và có thái độ cầu thị khách quan để đánh
giá đúng tình hình, chất lượng giờ lên lớp. Trên cơ sở đó, tìm ra những biện
pháp thích hợp cho công tác QL giờ lên lớp của mình.
+ Để nâng cao chất lượng dự giờ, phân tích sư phạm bài học, cần
thường xuyên tổ chức các chuyên đề về dự giờ lên lớp, trao đổi nội dung và
phương pháp giảng dạy, xây dựng dạy mẫu, tổ chức dạy thử, tổ chức học
tập, thao giảng…vv nhằm giúp GV nắm vững lý thuyết, rút kinh nghiệm về
phương pháp giảng dạy, về các bước dự giờ và phân tích bài dạy… Trên cơ
sở đó khuyến khích sự sáng tạo của GV và đây cũng chính là hoạt động đặc
trưng cho nghề nghiệp của GV. HT nhà trường luôn luôn tạo điều kiện và
kích thích khả năng của GV để phát huy hết tiềm năng trong mỗi GV.
- Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Kiểm tra đánh giá là một bộ phận hợp thành, không thể thiếu được
trong quá trình giáo dục ở tất cả các môn học, ở GV chủ nhiệm lớp. Kiểm
tra đánh giá kết quả học tập của HS được tồn tại đồng thời với quy trình dạy
học, đó là quy trình thu nhận và xử lý thông tin về trình độ và khả năng
22
thực hiện nhiệm vụ học tập của HS. Trên cơ sở đó đề ra những biện pháp
phù hợp, giúp HS học tập tiến bộ.
Qua việc QL hoạt động kiểm tra đánh giá HS của GV, người QL sẽ nắm
được chất lượng dạy và học ở từng GV một. Nó là cơ sở để đánh giá quá trình
và hiệu quả của người dạy lẫn người học. Nhất là trong giai đoan hiện nay khi
tình trạng dạy thêm học thêm đang lan tràn, khi trình độ của một bộ phận GV
còn hạn chế thì việc QL hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS là
điều quan trọng. Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS là việc làm hết
sức cần thiết của HT nhằm tác động trực tiếp đến GV thực hiện đầy đủ và
chính xác quá trình kiểm tra- đánh giá, thúc đẩy quá trình nâng cao hiệu quả
dạy học theo mục tiêu. QL hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
HS phải đạt được những yêu cầu cơ bản sau:
+ Phải thực hiện nghiêm chỉnh quy chế chuyên môn trong nhà trường
thông qua điểm số, đánh giá được chất lượng học tập của HS và giảng dạy của
GV. Từ đó rút ra được những vấn đề cần phải điều chỉnh, uốn nắn và bổ sung
giúp cho người QL chỉ đạo hoạt động này một cách đầy đủ, chặt chẽ hơn.
+ Phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các văn bản hướng dẫn đánh giá
xếp loại HS theo quy định.
+ Đánh giá, xếp loại HS một cách công bằng, chính xác, tránh những
biểu hiện không đúng trong việc đánh giá kết quả học tập của HS. Trong
quá trình kiểm tra- đánh giá người QL phân công nhiệm vụ cụ thể tới từng
thành viên: Hiệu phó phụ trách chuyên môn, tổ trưởng, GV, các thành viên
phải lập được kế hoạch kiểm tra- đánh giá một cách đầy đủ theo yêu cầu
của chương trình, người QL thường xuyên kiểm tra xem xét việc thực hiện
nhiệm vụ của các thành viên để đảm bảo hiệu quả công việc đã đề ra, từng
bước nâng cao được hiệu quả của công tác kiểm tra- đánh giá kết quả học
tập của HS.
- Quản lý hồ sơ chuyên môn của giáo viên
23
Việc QL hồ sơ chuyên môn của GV là một công việc hết sức quan
trọng của người QL, Hồ sơ chuyên môn của GV là phương tiện phản ánh
quá trình QL có tính khách quan và cụ thể, giúp người HT nắm chắc hơn,
cụ thể hơn tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của GV. Có thể nói hồ
sơ chuyên môn của GV là cơ sở pháp lý để nói lên nội dung công việc mà GV
đó được phân công, là cơ sở để đánh giá sự chuẩn bị, đầu tư cho chuyên
môn của GV đó. Tuy nhiên không người QL không nên đồng nhất khái niệm
hồ sơ chuyên môn của GV đó với năng lực giảng dạy của GV đó trên lớp.
Theo điều 25.2 của Điều lệ trường phổ thông, quy định hồ sơ chuyên
môn của GV bao gồm các loại hồ sơ sau:
+ Giáo án.
+ Các loại sổ: sổ dự giờ, sổ báo giảng, sổ chủ nhiệm, sổ công tác, sổ
tự bồi dưỡng, sổ sinh hoạt chuyên môn.
+ Các loại sách: sách giáo khoa, sách hướng dẫn, phân phối chương
trình, các tài liệu tham khảo.
Trong quá trình QL, người HT, chuyên viên phòng GD cần hướng
dẫn cụ thể yêu cầu của từng loại hồ sơ, cùng với hiệu phó phụ trách chuyên
môn và tổ trưởng chuyên môn thường xuyên kiểm tra bằng nhiều hình thức
khác nhau để kịp thời điều chỉnh những sai lệch trong hoạt động đạy và học.
- Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng giáo viên
Đây là một trong những nội dung quan trọng không thể thiếu trong
quá trình QL nhà trường của người HT, việc QL sử dụng và bồi dưỡng GV
được thể hiện chủ yếu ở hai nội dung sau:
+ Sử dụng đội ngũ GV: Phân công hợp lý trong chuyên môn, điều này
được thể hiện bằng sự phân công hợp lý, đúng khả năng, trình độ của từng
GV với các vị trí công việc tương ứng, bên cạnh đó cần chú ý đến điều kiện
của từng GV trong nhà trường.
+ Bồi dưỡng đội ngũ: Việc sử dụng tiềm năng trong mỗi GV phải đi
24
đôi với công tác bồi dưỡng thường xuyên chất lượng chung của đội ngũ
trong nhà trường. Bao gồm việc bồi dưỡng thường xuyên theo chương trình
của Bộ GD-ĐT, bồi dưỡng thường xuyên trong hè, tham gia các lớp bồi
dưỡng nâng cao trình độ nhằm chuẩn hóa đội ngũ GV, bồi dưỡng trên
chuẩn…
Như vậy, QL hoạt động dạy là quá trình QL một quá trình chủ đạo của
người thầy trong quá trình dạy học, đòi hỏi người QL phải hiểu hết nội
dung, yêu cầu QL để đưa ra những quyết định đúng đắn, chính xác đồng thời
cũng đảm bảo mềm dẻo, linh hoạt để đưa hoạt động dạy của nhà giáo vào kỷ
cương, nề nếp, nhưng vẫn phát huy được khả năng sáng tạo của GV trong
việc thực hiện được nhiệm vụ của mình.
Hoạt động dạy của người thầy sẽ hoàn thành trọn vẹn hơn khi mà
người thầy biết tổ chức tốt hoạt động của trò. Đó cũng chính là sự liên tục
của hoạt động dạy học, là trách nhiệm và lương tâm của người thầy đối với
“sản phẩm đào tạo” của mình.
1.2.2.2. Quản lý hoạt động học tập của học sinh
Hoạt động học tập của HS là một hoạt động tồn tại song song với
hoạt động dạy của người thầy. Do vậy QL hoạt động học của HS có vai trò
hết sức quan trọng trong quy trình QL chất lượng dạy học. Các nội dung QL
hoạt động học của HS bao gồm:
- Quản lý nề nếp, động cơ, thái độ học tập của học sinh
Nề nếp học tập, kỷ luật học tập của HS là những quy định cụ thể về
thái độ, hành vi ứng xử của người học sinh nhằm làm cho hoạt động học tập
diễn ra có hiệu quả. Nề nếp, thái độ học tập của HS sẽ quyết định nhiều đến
hiệu quả học tập, vì vậy người QL và GV cần xây dựng được những nề nếp
học tập sau đây:
+ Phải xây dượng cho HS có động cơ, thái độ học tập đúng đắn,
chuyên cần, chăm chỉ, có nề nếp học bài và làm bài đầy đủ. Người GV phải
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×