Tải bản đầy đủ

Luận văn thạc sĩ về Một số giải pháp phát trển Logistics trong các công ty giao nhận Việt nam trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
*****



Hoàng Lâm Cường






MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LOGISTICS
TRONG CÁC CÔNG TY GIAO NHẬN VIỆT NAM
TRÊN ĐỊA BÀN TP. HỒ CHÍ MINH




Chuyên ngành : Kinh doanh Ngoại thương
Mã số : 5.02.05


LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Đoàn Thò Hồng Vân





TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2003
2



Lời cam đoan



Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết qủa trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.




Tác giả luận văn

HOÀNG LÂM CƯỜNG
3
MỤC LỤC

Trang

Mục lục i
Danh mục các từ viết tắt iv
Danh mục các bảng v

Danh mục các hình và sơ đồ vi
Lời mở đầu vii

CHƯƠNG 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về Logistics 1
1.1 Tổng quan về Logistics 1
1.1.1 Khái niệm về Logistics 1
1.1.2. Mối quan hệ giữa Logistics - Dây chuyền cung ứng - Quá trình
phân phối 4
1.2 Logistics trong giao nhận vận tải 6
1.3 Vai trò của Logistics 8
1.3.1 Vai trò của Logistics đối với nền kinh tế. 8
1.3.2 Vai trò của Logistics đối với các doanh nghiệp 9
1.4 Kinh nghiệm phát triển Logistics của một số quốc gia trên thế
giới 9
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển Logistics của các nước công nghiệp phát
triển (Châu Âu, Bắc Mỹ) 9
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển Logistics của Singapore 11
1.5 Hoạt động Logistics trong một số công ty Logistics nước ngoài tiêu
biểu đang có mặt trên thò trường thành phố Hồ Chí Minh 11
1.5.1 Schenker 11
1.5.2 DHL 12
1.5.3 Maersk 13
Kết luận chương 1 17

CHƯƠNG 2: Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động Logistics trong
các công ty giao nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh 18
2.1 Vài nét về hoạt động vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu của
thành phố Hồ Chí Minh 18
2.1.1 Hoạt động xuất nhập khẩu trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh 18
2.1.2 Hoạt động vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu trên đòa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh 19
4
2.2 Phân tích thực trạng hoạt động logistics trong các công ty giao
nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh 21
2.2.1 Phân tích thò trường và tình hình khảo sát các công ty giao nhận trên
đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh 21
2.2.2 Thực trạng hoạt động logistics trong các công ty giao nhận có vốn
đầu tư nước ngoài trên đòa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 28
2.2.3 Các hoạt động Logistics trong các công ty giao nhận Việt Nam trên
đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh 30
2.3 Những nhân tố tác động đến phát triển Logistics ở thành phố Hồ
Chí Minh 38
2.3.1 Những nhân tố khách quan 38
2.3.2 Những nhân tố chủ quan 40
2.3.3 Những thuận lợi trong phát triển vận tải giao nhận nói chung và
Logistics nói riêng 43
2.4 Những đánh giá về hoạt động Logistics trong các công ty giao
nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh 43
2.4.1 Vẫn tập trung vào các hoạt động giao nhận truyền thống mà chưa
thực sự hoạt động Logistics 43
2.4.2 Chưa đầu tư để phát triển Logistics 44
2.4.3 Chưa có hoạt động marketing cũng như chiến lược khách hàng cho
hoạt động Logistics 47
Kết luận chương 2 50

CHƯƠNG 3: Một số giải pháp phát triển Logistics trong các công ty
giao nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh 51
3.1 Mục tiêu – quan điểm – cơ sở đề xuất giải pháp 51
3.1.1 Mục tiêu chung của giải pháp 51
3.1.2 Quan điểm đề xuất các giải pháp 51
3.1.3 Cơ sở đề xuất các giải pháp 51
3.2 Những giải pháp phát triển Logistics trong các công ty giao nhận
Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh 54
3.2.1 Xây dựng đònh hướng chiến lược phát triển Logistics trong các công
ty giao nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh 54
3.2.2 Các giải pháp cụ thể để thực hiện các đònh hướng chiến lược phát
triển Logistics 61
3.2.3 Các kiến nghò 70

KẾT LUẬN 73

5
Taứi lieọu tham khaỷo 1
Phuù luùc 1 3
Phuù luùc 2 7
Phuù luùc 3 13
Phuù luùc 4 14
Phuù luùc 5 15
Phuù luùc 6 16
Phuù luùc 7 17
6
LỜI MỞ ĐẦU

1. Ý nghóa chọn đề tài
Cùng với đường lối đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, ngành giao nhận
ngoại thương cũng đang trên bước đường hội nhập với ngành giao nhận thế giới.
Một trong những bước phát triển lớn trong hoạt động giao nhận vận tải hiện đại là
hoạt động Logistics. Trong vài thập niên gần đây Logistics đã phát triển nhanh
chóng và mang lại những kết quả rất tốt đẹp ở nhiều nước, điển hình như các nước
Tây Âu, Mỹ, tiếp sau đó là Singapore, Đài Loan,… Tại Việt Nam, nói chung và
thành phố Hồ Chí Minh, nói riêng, các công ty giao nhận hàng đầu thế giới đã có
mặt và cung cấp dòch vụ Logistics toàn cầu. Trong khi đó các công ty giao nhận
Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh, dù là những tổng công ty lớn mạnh
nhất cũng chưa có một công ty nào hoạt động trong lónh vực Logistics theo đúng
nghóa của nó. Theo từng bước của tiến trình hội nhập, các hàng rào bảo hộ dần dần
được dỡ bỏ, thò trường giao nhận vận tải ngoại thương ở thành phố Hồ Chí Minh
vốn đã cạnh tranh gay gắt sẽ ngày càng cạnh tranh gay gắt hơn. Các công ty
Logistics nước ngoài với công nghệ vượt trội chắc chắn sẽ chiếm ưu thế hơn so với
hoạt động giao nhận truyền thống của các công ty trong nước. Nếu không có sự
thay đổi trong hoạt động giao nhận, các công ty giao nhận Việt Nam sẽ thất thế
ngay trên thò trường của chính mình.
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Một số giải pháp phát triển
Logistics trong các công ty giao nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí
Minh” để làm luận văn tốt nghiệp cao học, với mong muốn tháo gỡ một số vướng
mắc, khó khăn, tận dụng được cơ hội để phát triển hoạt động Logistics cho các
công ty giao nhận Việt Nam nhằm tăng sức cạnh tranh và hội nhập với ngành giao
nhận tiên tiến của thế giới.
2. Mục tiêu nghiên cứu
* Về phương pháp luận
+ Trình bày tóm tắt, có hệ thống để làm rõ khái niệm Logistics.
+ Qua tài liệu tổng hợp kinh nghiệm phát triển Logistics của một số nước, rút ra
các bài học cần thiết và phù hợp để phát triển Logistics trong các công ty giao
nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
* Về thực tiễn
7
+ Đánh giá về thực trạng hoạt động Logistics ở các công ty giao nhận 100% vốn
Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh; nghiên cứu các nhân tố tác động
đến việc phát triển Logistics trong các công ty này.
+ Đề xuất những giải pháp để áp dụng và phát triển Logistics trong các công ty
giao nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
+ Nghiên cứu thực trạng hoạt động Logistics tại các công ty giao nhận Việt Nam
trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
+ Nghiên cứu các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến việc áp dụng và
phát triển hoạt động Logistics trong các công ty giao nhận Việt Nam trên đòa bàn
thành phố Hồ Chí Minh.
+ Nghiên cứu những giải pháp hỗ trợ ở tầm vó mô giúp các công ty giao nhận Việt
Nam phát triển Logistics.
+ Nghiên cứu giải pháp giúp cho các công ty giao nhận Việt Nam áp dụng và phát
triển hoạt động Logistics trong công ty của mình.
* Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động
Logistics trong các công ty Logistics. Đề tài ít đề cập đến hoạt động Logistics của
tự bản thân các doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu. Mặt khác, do xuất phát từ
nhu cầu thực tiễn và giới hạn về thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu sâu vào việc
phát triển hoạt động Logistics cho dòng phân phối hàng hóa (Outbound Logistics)
hơn là dòng cung cấp nguyên vật liệu đầu vào (Inbound Logistics).
+ Phạm vi về không gian
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động Logistics ở thành phố Hồ Chí
Minh, đặc biệt là trong các công ty giao nhận của Việt Nam. Ngoài ra đề tài cũng
có nghiên cứu hoạt động Logistics trong các công ty giao nhận và hãng tàu nước
ngoài hoặc liên doanh trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh để rút ra được kinh
nghiệm tổ chức hoạt động Logistics của họ.
+ Phạm vi về thời gian
Các số liệu thống kê và khảo sát phục vụ cho nghiên cứu được thu thập đến
hết năm 2003
8
4. Điểm mới của đề tài nghiên cứu
+ Do hoạt động Logistics mới xuất hiện ở Việt Nam trong thời gian gần đây nên chỉ
có một vài bài viết đăng trên các tạp chí mà chưa có đề tài nghiên cứu một cách có
hệ thống và toàn diện về lónh vực này.
+ Đây cũng là đề tài đầu tiên nghiên cứu đánh giá về hoạt động Logistics trong các
công ty giao nhận của Việt Nam.
Đề tài có những điểm mới như sau:
+ Một là, đề tài nghiên cứu kinh nghiệm phát triển Logistics của các nước. Xu thế
phát triển và tính tất yếu của hoạt động Logistics trong tương lai.
+ Hai là, đề tài nghiên cứu khá sâu về cách tổ chức, thiết kế hoạt động Logistics
trong các công ty giao nhận, đặc biệt là các điều kiện để có thể phát triển
Logistics.
+ Ba là, dựa trên phân tích điểm mạnh, điểm yếu của các công ty giao nhận Việt
Nam, cơ hội, thách thức trên thò trường vận tải giao nhận thành phố Hồ Chí Minh
đề tài mạnh dạn đề xuất những giải pháp chiến lược mang tính “đột phá” để có thể
áp dụng Logistics trong các công ty giao nhận Việt Nam và xây dựng nên những
“tập đoàn” Logistics lớn mạnh của Việt Nam.
+ Bốn là, đề tài cũng đưa ra một số kiến nghò tầm vó mô để tạo điều kiện phát triển
Logistics.
Tóm lại, đề tài có khá nhiều điểm mới vì nó được thực hiện độc lập, ít được
hưởng sự thừa kế từ các công trình nghiên cứu thực tiễn về hoạt động Logistics
trước đó.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng những phương pháp sau:
+ Phương pháp duy vật biện chứng; phương pháp tư duy Logistics; phương pháp
thống kê, tổng hợp, phân tích.
+ Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
+ Phương pháp chuyên gia.
6. Nội dung nghiên cứu
Đề tài được trình bày 73 trang, 17 bảng, 1 hình và 6 sơ đồ được chia làm 3
chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về Logistics.
9
Chương 2: Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động logistics trong các công ty
giao nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển logistics trong các công ty giao nhận 100%
vốn Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Mặc dù đã rất nỗ lực, cố gắng, nhưng vì đề tài mới, phải khảo sát thực tế nhiều nên
khó tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong Cô hướng dẫn và các Thầy, Cô
trong Hội Đồng chân tình đóng góp để đề tài mang tính thực tiễn cao hơn.
10







CHƯƠNG 1



NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
LOGISTICS
11
1.1 Tổng quan về Logistics
1.1.1 Khái niệm về Logistics
Logistics theo nghóa đang sử dụng trên thế giới có nguồn gốc từ từ
Logistique trong tiếng Pháp. Logistique lại có gốc từ từ “Loger” nghóa là nơi đóng
quân. Từ này có quan hệ mật thiết với từ “Lodge” – nhà nghỉ (một từ cổ trong
tiếng Anh, gốc Latinh). Logistics được dùng ở Anh bắt đầu từ thế kỷ thứ 19. Một
điều thú vò là từ này không hề có mối liên quan gì với từ “Logistic” trong toán học,
có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Logistikos” và đã được dùng ở Anh từ thế kỷ 17.
Cho đến nay vẫn chưa tìm được thuật ngữ thống nhất, phù hợp để dòch từ Logistics
sang tiếng Việt. Có người dòch là hậu cần, có người dòch là tiếp vận hoặc tổ chức
dòch vụ cung ứng, thậm chí là vận trù. Theo một số chuyên gia trong lónh vực này,
tất cả cách dòch đó đều chưa thoả đáng, chưa phản ánh đúng đắn và đầy đủ bản
chất của Logistics. Chính vì vậy, trong đề tài này, tác giả xin giữ nguyên thuật ngữ
Logistics mà không dòch sang tiếng Việt.
Theo ESCAP (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – Ủy
ban Kinh tế và Xã hội châu Á – Thái Bình Dương) Logistics được phát triển qua 3
giai đoạn:
Giai đoạn 1: Phân phối vật chất
Vào những năm 60, 70 của thế kỷ thứ 20, người ta bắt đầu quan tâm đến vấn
đề quản lý một cách có hệ thống những hoạt động có liên quan với nhau để đảm
bảo cung cấp sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng một cách có hiệu quả. Những
hoạt động đó bao gồm: vận tải, phân phối, bảo quản hàng hoá, quản lý tồn kho,
bao bì đóng gói, phân loại, dán nhãn... những hoạt động nêu trên được gọi là phân
phối/ cung ứng sản phẩm vật chất hay còn có tên gọi là Logistics đầu vào.
Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics
Đến những năm 80, 90 của thế kỷ trước, các công ty tiến hành kết hợp quản
lý 2 mặt: đầu vào (gọi là cung ứng vật tư) với đầu ra (phân phối sản phẩm), để tiết
kiệm chi phí, tăng thêm hiệu quả của quá trình này. Sự kết hợp đó được gọi là hệ
thống Logistics.
Giai đoạn 3: Quản trò dây chuyền cung ứng.
Đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trò chuỗi nối tiếp các hoạt
động từ người cung cấp - đến người sản xuất - khách hàng tiêu dùng sản phẩm,
cùng với việc lập các chứng từ có liên quan, hệ thống theo dõi, kiểm tra làm tăng
thêm giá trò sản phẩm. Khái niệm này coi trọng việc phát triển các quan hệ với đối
tác, kết hợp chặt chẽ giữa người sản xuất với người cung cấp, với người tiêu dùng
12
và các bên có liên quan, như: các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và người cung
cấp công nghệ thông tin (IT - Information Technology).
Logistics phát triển quá nhanh chóng, trong nhiều ngành nhiều lónh vực, ở
nhiều nước, nên có rất nhiều tổ chức tác giả tham gia nghiên cứu, đưa ra nhiều đònh
nghóa khác nhau, cho đến nay vẫn chưa có được khái niệm thống nhất về Logistics.
Có thể nói, có bao nhiêu sách viết về Logistics thì có bấy nhiêu đònh nghóa về khái
niệm này.
Trước hết trong lónh vực sản xuất, người ta đưa ra đònh nghóa Logistics một
cách đơn giản, ngắn gọn nhất là cung ứng, là chuỗi hoạt động nhằm đảm bảo
nguyên nhiên vật liệu, máy móc, thiết bò, các dòch vụ .. cho hoạt động của tổ chức/
doanh nghiệp được tiến hành liên tục, nhòp nhàng và có hiệu quả; bên cạnh đó còn
tham gia vào quá trình phát triển sản phẩm mới. Giờ đây, một trong ba hướng phát
triển quan trọng của quản trò cung ứng là quản trò chuỗi/ dây chuyền cung ứng
(Supply Chain Management - SMC)
Dưới góc độ quản trò chuỗi cung ứng, thì Logistics là quá trình tối ưu hoá về
vò trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/ yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu
tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu
dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế (xem Logistics and
Supply Chain Management, tác giả Ma Shuo, tài liệu giảng dạy của World Maritime
University, 1999).
Đònh nghóa này cho thấy Logistics bao gồm nhiều khái niệm, cho phép các
tổ chức có thể vận dụng các nguyên lý cách nghó và hoạt động Logistics trong lónh
vực của mình một cách sáng tạo, linh hoạt và có hiệu quả. Để hiểu chính xác về
bản chất và phạm vi ứng dụng của Logistics chúng ta hãy xem xét một số khái
niệm có liên quan.
Trước hết ta xem xét từ Quá trình. Điều đó cho thấy Logistics không phải là
một hoạt động đơn lẻ (isolated action), mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, có
liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, được thực hiện một cách
khoa học và có hệ thống qua các bước nghiên cứu, hoạch đònh, tổ chức, quản lý,
thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện. Do đó, logistics là quá trình liên quan
tới nhiều hoạt động khác nhau trong cùng một tổ chức, từ xây dựng chiến lược đến
các hoạt động chi tiết, cụ thể để thực hiện chiến lược. Logistics cũng đồng thời là
quá trình bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm từ các yếu tố đầu vào cho đến giai
đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng.
Logistics không chỉ liên quan đến nguyên nhiên vật liệu mà còn liên quan
tới tất cả nguồn tài nguyên/ các yếu tố đầu vào cần thiết để tạo nên sản phẩm hay
dòch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng. Ở đây nguồn tài nguyên không
13
chỉ bao gồm: vật tư, vốn, nhân lực mà còn bao hàm cả dòch vụ, thông tin, bí quyết
công nghệ…
Logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch đònh và tổ chức. Cấp độ thứ nhất các
vấn đề được đặt ra là phải lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, dòch
vụ ở đâu? vào khi nào? và vận chuyển chúng đi đâu?. Do vậy tại đây xuất hiện vấn
đề vò trí. Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản trong khái niệm Logistics cổ điển và
hiện đại. Có một thời người ta cho rằng: Logistics chỉ tập trung vào “luồng”, còn
Logistics ngày nay có phạm vi rộng lớn hơn, bao gồm cả vò trí. Cấp độ thứ hai quan
tâm tới việc làm thế nào để đưa được nguồn tài nguyên/ các yếu tố đầu vào từ
điểm đầu đến điểm cuối dây chuyền cung ứng; Từ đây nảy sinh vần đề vận chuyển
và lưu trữ. Ở Việt Nam hiện nay, khi nói đến Logistics người ta quá chú tâm vào
cấp độ hai - tức là khâu vận chuyển và lưu trữ, mà chưa quan tâm đúng mức đến
vấn đề nguồn tài nguyên được lấy từ đâu và đưa đi đâu.
Để có thể hiểu thấu đáo bản chất của Logistics, cần nghiên cứu các câu hỏi
cơ bản về logistics mà chúng ta thường gặp trong thực tế.
Nhóm câu hỏi thứ nhất về vò trí tối ưu: khi xem xét vò trí nguồn tài nguyên đầu vào,
nhà quản trò Logistics thường phải trả lời các câu hỏi “ở đâu?” như:
+ Tìm nguyên liệu cần thiết ở đâu?
+ Tìm nguồn cung cấp năng lượng ở đâu?
+ Tìm nguồn cung cấp lao động ở đâu?
+ Tìm nguồn cung cấp máy móc, thiết bò ở đâu?
+ Đặt nhà máy và cơ sở sản xuất ở đâu?
+ Xây dựng các kho hàng và trung tâm phân phối ở đâu?
+ Xác lập chi nhánh của công ty ở đâu?
+ Lựa chọn đối tác sản xuất kinh doanh ở đâu? …v.v.
Nhóm các câu hỏi thứ hai liên quan đến việc vận chuyển và dự trữ nguồn tài
nguyên đầu vào từ điểm đầu đến điểm cuối dây chuyền cung ứng, các câu hỏi đó
thường là:
+ Làm thế nào để vận chuyển nguồn tài nguyên từ điểm A đến điểm B, bằng
đường biển, đường hàng không, đường bộ, đường sắt, đường sông hay đa phương
thức…?
+ Khi nào thì bắt đầu vận chuyển và vận chuyển hết bao lâu?
+ Chọn tuyến vận tải nào và chọn ai vận chuyển?
14
+ Dự trữ có cần thiết không? Nếu cần thì dự trữ bao nhiêu?
+ Những loại hàng hoá nào cần vận chuyển đồng bộ? Với một lượng bao nhiêu là
tối ưu?
+ Việc đóng gói, dán nhãn có cần thiết không? Nếu có thì khi nào? Ở đâu? Do ai
làm và làm như thế nào?…
Cùng với đònh nghóa vừa được nêu và phân tích ở trên trong thực tế tồn tại
một số đònh nghóa khác cũng khá phổ biến như:
- Logistics là hệ thống các công việc được thực hiện một cách có kế hoạch nhằm
quản lý nguyên vật liệu, dòch vụ, thông tin và dòng chảy của vốn... nó bao gồm cả
những hệ thống thông tin ngày một phức tạp, sự truyền thông và hệ thống kiểm
soát cần phải có trong môi trường làm việc hiện nay.
- Logistics là sự duy trì, phát triển, phân phối/ sắp xếp và thay thế nguồn nhân lực
và nguyên vật liệu thiết bò, máy móc ...
- Logistics là quy trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu
chuyển và dự trữ hàng hoá, dòch vụ... từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ
cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng.
- Logistics là khoa học nghiên cứu việc lập kế hoạch, tổ chức và quản lý các hoạt
động cung cấp hàng hoá, dòch vụ.
- Logistics là khoa học nghiên cứu việc lập kế hoạch và thực hiện những lợi ích và
công dụng của các nguồn tài nguyên cần thiết nhằm giữ vững hoạt động của toàn
bộ hệ thống.
Chắc chắn cùng với sự phát triển của logistics sẽ xuất hiện thêm nhiều khái
niệm mới về Logistics, ở thời điểm này có thể đònh nghóa “Logistics là quá trình
tối ưu hoá về vò trí, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của
dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt
các hoạt động kinh tế”.
1.1.2 Mối quan hệ giữa Logistics - Dây chuyền cung ứng - Quá trình phân phối.
Theo Ủy ban quản trò Logistics, một trong những tổ chức chuyên môn hàng
đầu trong lónh vực này thì quản trò Logistics là quá trình hoạch đònh, thực hiện và
kiểm soát một cách hiệu lực, hiệu quả hoạt động vận chuyển lưu trữ hàng hoá, dòch
vụ và những thông tin có liên quan từ điểm đầu đến điểm tiêu thụ cuối cùng với
mục đích thỏa mãn nhu cầu của khách hàng (Douglas M Lambert, Fundamental of
Logistics, p.3, Mc Graw-Hill, 1998). Điều đó có nghóa là Logistics bao gồm mọi
dòch vụ kinh doanh liên quan đến vận tải (đường biển, đường hàng không, đường
bộ, đường thuỷ nội đòa, lưu kho, lưu bãi, sắp xếp hàng hoá sẵn sàng cho quá trình
15
vận tải, bao bì đóng gói, ghi ký mã hiệu, nhãn hiệu và phân phối đi các nơi theo
yêu cầu của người uỷ thác.
Từ cuối thế kỷ 20, Logistics được mở rộng thêm các mặt hoạt động và lợi
ích. Khái niệm mở rộng đó được gọi là Quản trò dây chuyền cung ứng. Một đònh
nghóa đặc thù của dây chuyền cung ứng là: “Một dây chuyền cung ứng là một
mạng lưới (có thể lựa chọn) về phương tiện và phân phối để thực hiện các chức
năng thu mua nguyên, phụ liệu chuyển hóa chúng thành sản phẩm trung gian và
cuối cùng, rồi phân phối sản phẩm đó tới khách hàng” (Ganeshan & Harrion 1995).
Cùng với sự phát triển của sản xuất, của công nghệ thông tin, thì dây chuyền
cung ứng ngày càng phức tạp, vai trò của công nghệ thông tin trong quản trò dây
chuyền cung ứng ngày càng lớn. ESCAP đònh nghóa quản trò dây chuyền cung ứng
(supply chain management) là tổng hợp những hoạt động của nhiều tổ chức trong
dây chuyền cung ứng và phản hồi trở lại những thông tin cần thiết, kòp thời bằng
cách sử dụng mạng lưới công nghệ thông tin và truyền thông kỹ thuật số.
Quá trình phân phối là khái niệm phản ánh sự di chuyển hàng hoá của một
tổ chức (người sản xuất, kinh doanh hay bất kỳ một người nào khác có hàng hoá);
Nó bao gồm sự vận chuyển hàng hoá bằng các loại phương tiện khác nhau, từ đòa
điểm này sang đòa điểm khác, từ nước nọ sang nước kia, trong đó có sự phối hợp
giữa các hoạt động và các chức năng khác nhau, nhằm đảm bảo chu chuyển hàng
hoá liên tục từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi đến tay người tiêu dùng cuối
cùng.
Như vậy, quá trình phân phối và hoạt động Logistics có liên quan mật thiết
với nhau nếu thiếu một kế hoạch khoa học và sự quản lý chặt chẽ sát sao thì toàn
bộ quá trình chu chuyển hàng hoá, dòch vụ phức tạp sẽ không thể thực hiện nhòp
nhàng, liên tục. Chính vì vậy, người ta đã ví toàn bộ quá trình phân phối là một
băng tải hàng hoá chuyển động không ngừng dưới sự tổ chức và giám sát của công
nghệ Logistics. Logistics là một công nghệ quản lý, kiểm soát toàn bộ quá trình
phân phối, sản xuất, tiêu thụ một cách đồng bộ. Một công nghệ như vậy theo sát và
đẩy nhanh hoạt động nhờ các luồng thông tin. Đến lượt mình những luồng thông tin
lại cho phép giám sát được vận động thực của hàng hoá. Tổ chức dòch vụ Logistics
đối với toàn bộ quá trình phân phối từ khâu cung ứng đến khâu tiêu thụ được thực
hiện trên cơ sở nhu cầu thực tế.
Dòch vụ Logistics có thể thực hiện được nhờ những tiến bộ trong công nghệ
tin học (để tập hợp thông tin), hiện đại hoá (đảm bảo tính linh hoạt cho sản xuất)
và tiến bộ trong thông tin liên lạc cũng như công nghệ xử lý thông tin (để hợp lý
hoá hệ thống). Việc sử dụng hệ thống EDI (Electronic Data Interchange - Trao đổi
thông tin điện tử) với sự hỗ trợ của mạng lưới thông tin liên lạc và công nghệ xử lý
16
thông tin đóng vai trò đặc biệt quan trọng, quyết đònh sự sống còn trong quản lý
quá trình chu chuyển hàng hoá và chứng từ. Do đó, mạng lưới thông tin phải được
thiết kế khoa học có khả năng kết hợp chặt chẽ giữa tính tập trung và phân tán.
Theo cách này một tổ chức hay một cá nhân sẽ đóng vai trò trung tâm, đứng ra
phối hợp các công đoạn: cung cấp nguyên vật liệu – sản xuất phân phối dựa trên
các dữ liệu về nhu cầu hàng hoá, dòch vụ, quy cách phẩm chất, năng lực sản xuất,
lòch trình chuyên chở và nguồn cung cấp hàng hoá, dòch vụ. Sự phối hợp trên phải
được tổ chức khoa học chặt chẽ và có khả năng đối phó với những sự kiện ngoài dự
kiến. Và như vậy, vò trí của Logistics trong toàn bộ quá trình phân phối vật chất
thực chất là sử dụng công nghệ thông tin để tổ chức và quản lý quá trình lưu
chuyển hàng hóa qua nhiều công đoạn, chặng đường, phương tiện và đòa điểm khác
nhau. Các hoạt động này phải tuân thủ đặc tính của dây chuyền: vận tải – lưu kho
– phân phối và hơn thế nữa chúng phải đáp ứng yêu cầu về tính kòp thời (JIT).
1.2 Logistics trong giao nhận vận tải
Giao nhận, vận tải đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội và đây
cũng là lónh vực có hoạt động Logistics phát triển mạnh mẽ. Ngày nay nhiều công
ty vận tải giao nhận và khai thác cảng đã đổi tên gọi là Công ty kinh doanh
Logistics. Ví dụ: Hiệp hội giao nhận Singapore từ năm 2000 đã đổi thành hiệp hội
Logistics Singapore (SLA). Các hãng vận tải NYK Logistics, MOL Logistics,
Maersk Logistics, APL Logistics và các cảng Bus Logistics (Châu âu), cảng ICS
Logistics (Hoa Kỳ), Cảng Thượng Hải Logistics, cảng Klang Logistics (Châu Á)…
cũng đã hình thành và phát triển nhanh chóng.
Sự phát triển của Logistics trong giao nhận vận tải bắt nguồn từ sự thay đổi
trong sản xuất. Nhiều thập kỷ qua, cơ cấu công nghiệp và thương mại thế giới trải
qua những biến đổi sâu sắc, nói chung người bán hàng hoá không nhất thiết là
người sản xuất và người mua cũng không nhất thiết phải là người tiêu dùng cuối
cùng. Quá trình hàng hoá đi từ người sản xuất đến người tiêu dùng có nhiều người
trung gian lần lượt đóng vai trò người bán, người mua và là một bộ phận của quá
trình lưu thông hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Tính chất phong
phú của hàng hóa và sự vận động phức tạp của chúng đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ
đặt ra những yêu cầu mới đối với vận tải. Đồng thời để tránh đọng vốn, các nhà
sản xuất luôn tìm cách duy trì một lượng hàng trong kho nhỏ nhất. Kết quả là hoạt
động vận tải nói riêng và lưu thông phân phối nói chung, một mặt phải đảm bảo
yêu cầu đúng lúc (Just in Time), mặt khác tăng cường vận chuyển những chuyến
hàng nhỏ thực hiện mục tiêu không để hàng tồn kho (zero-stock). Trong thò trường
cạnh tranh gay gắt, điều này dẫn đến nhu cầu vận chuyển những chuyến hàng nhỏ,
đều đặn, kòp thời mà tính khả thi của nó phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống thiết bò
17
xếp dỡ – vận chuyển hàng hoá nhanh, luồng thông tin kòp thời, chính xác và sự ăn
khớp giữa các quá trình.
Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin cho phép kết hợp
các quá trình sản xuất, lưu kho hàng hóa, tiêu thụ, với hoạt động vận tải có hiệu
quả hơn và đồng thời cũng phức tạp hơn. Công nghệ thông tin giúp người vận tải
nâng cao chất lượng phục vụ đối với khách hàng của mình.
Trước đây, để đi từ cơ sở của người sản xuất đến tay người tiêu dùng (đặc
biệt trong ngoại thương hàng hoá đi từ nước này sang nước khác) hàng hoá thường
phải qua tay nhiều người vận tải và nhiều phương thức vận tải khác nhau, phải chòu
nhiều rủi ro, mất mát, người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng vận tải riêng biệt với
từng người vận tải, theo đó, trách nhiệm của mỗi người vận tải chỉ giới hạn trong
chặng đường hay dòch vụ do anh ta đảm nhiệm mà thôi. Cách mạng Container hoá
trong vận tải diễn ra trong những năm 70 của thế kỷ 20 đã tăng thêm độ an toàn và
tin cậy trong vận chuyển hàng hoá, là tiền đề cho sự ra đời của vận tải đa phương
thức. Theo phương thức này người gửi hàng chỉ cần ký hợp đồng vận tải với một
người gọi là người kinh doanh vận tải đa phương thức (Multimodal Transport
Operator - MTO) người sẽ chòu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ việc vận
chuyển hàng hoá bằng một hợp đồng duy nhất (MT document) mặc dù anh ta có
thể không phải là người vận tải thực sự. Một hợp đồng như vậy có thể do một người
kinh doanh vận tải đa phương thức đảm nhiệm, nhưng người mua đó vẫn cần một
người lên kế hoạch cung ứng mua hàng hoá và giám sát mọi di chuyển hàng hoá
để đảm bảo đúng loại hàng đến đúng đòa điểm, đúng thời gian. Hay nói cách khác,
một người tổ chức dòch vụ Logistics, người sẽ giúp anh ta tiết kiệm chí phí, thời
gian, từ đó nâng cao hiệu qủa sản xuất kinh doanh.
Dòch vụ Logistics chính là sự phát triển khéo léo của dòch vụ vận tải đa
phương thức. Toàn bộ hoạt động vận tải có thể được thực hiện theo một hợp đồng
vận tải đa phương thức và sự phối hợp mọi chu chuyển của hàng hoá do người tổ
chức dòch vụ Logistics đảm nhiệm. Điểm tương đồng là ở chỗ, trên cơ sở nhiều hợp
đồng mua bán giữa người mua và người bán người tổ chức dòch vụ Logistics sẽ
nhận hàng tại cơ sở của từng người bán và gom hàng lẻ thành nhiều đơn vò gửi
hàng (consolidation) tại các nhà kho hay nơi xếp dỡ hàng hóa trước khi chúng được
gửi tới nơi đến trên những phương tiện vận tải khác nhau. Tại nơi đến người tổ
chức dòch vụ Logistics (Logistics Service Provider) thu xếp để tách các đơn vò gửi
hàng đó (các lô hàng lớn) và xếp hàng hoá thành các lô hàng thích hợp (de-
consolidation) để phân phối đến những đòa chỉ cuối cùng. Người tổ chức dòch vụ
logistics không chỉ giao nhận mà còn làm các công việc như: lưu kho, dán nhãn
hiệu, đóng gói bao bì, thuê phương tiện vận tải, làm thủ tục hải quan và có thể mua
hộ cả bảo hiểm cho chủ hàng.
18
Như vậy trong lónh vực giao nhận vận tải Logistics không phải là một dòch
vụ đơn lẻ mà luôn luôn là một chuỗi các dòch vụ về giao nhận hàng hoá, như: làm
các thủ tục, giấy tờ, tổ chức vận tải, bao bì đóng gói, ghi nhãn hiệu, lưu kho, lưu
bãi, phân phát hàng hoá đi các đòa điểm khác nhau, chuẩn bò cho hàng hóa luôn
luôn sẵn sàng ở trạng thái nếu có yêu cầu của khách hàng là đi ngay được
(Inventory level). Chính vì vậy khi nói tới Logistics bao giờ người ta cũng nói tới
một chuỗi hệ thống các dòch vụ (Logistics System Chain). Với hệ thống chuỗi dòch
vụ này người cung cấp dòch vụ Logistics (Logistics Service Provider) sẽ giúp khách
hàng có thể tiết kiệm được chi phí của đầu vào trong các khâu vận chuyển, lưu
kho, lưu bãi và phân phối hàng hoá cũng như chi phí tương tự ở đầu ra bằng cách
kết hợp tốt các khâu riêng lẻ qua hệ thống Logistics nêu trên (Theo Logistics
Managerment, ESCAP, xuất bản năm 2000, tr. 2 - 4).
Từ những điều trình bày ở trên cho thấy dòch vụ Logistics chính là sự phát
triển ở giai đoạn cao của dòch vụ giao nhận kho vận trên cơ sở sử dụng những thành
tựu của công nghệ thông tin để điều phối hàng hoá từ khâu tiền sản xuất đến tay
người tiêu dùng cuối cùng, qua các công đoạn: vận chuyển, lưu kho và phân phối
hàng hóa.
1.3 Vai trò của Logistics
Từ những điều trình bày ở trên cho thấy Logistics là một chức năng kinh tế
có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn xã hội. Trong thời đại ngày nay người ta luôn
mong muốn những dòch vụ hoàn hảo và điều đó sẽ đạt được khi phát triển
Logistics.
1.3.1 Vai trò của Logistics đối với nền kinh tế.
Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên hệ mật thiết với nhau,
tác động qua lại lẫn nhau. Nếu xem xét ở góc độ tổng thể ta thấy Logistics là mối
liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân
phối hàng hoá. Mỗi hoạt động trong chuỗi đều có một vò trí và chiếm một khoản
chi phí nhất đònh. Một nghiên cứu gần đây của trường Đại học Quốc gia Michigan
(Hoa Kỳ) cho thấy, chỉ riêng hoạt động Logistics đã chiếm từ 10 đến 15% GDP của
hầu hết các nước lớn ở Châu Âu, Bắc Mỹ và một số nền kinh tế Châu Á - Thái
Bình Dương (theo Rushton Oxley & Crocher, 2000). Vì vậy nếu nâng cao hiệu quả
hoạt động Logistics thì sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.
Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dòch kinh tế. Nền kinh tế chỉ
có thể phát triển nhòp nhàng, đồng bộ một khi dây chuyền Logistics hoạt động liên
tục, nhòp nhàng.
Hàng loạt các hoạt động kinh tế liên quan diễn ra trong chuỗi Logistics, theo
đó các nguồn tài nguyên được biến đổi thành sản phẩm và điều quan trọng là giá
19
trò được tăng lên cho cả khách hàng lẫn người sản xuất, giúp thỏa mãn nhu cầu của
mỗi người.
1.3.2 Vai trò của Logistics đối với các doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp Logistics có vai trò rất to lớn. Logistics giúp giải
quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay
đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật
liệu, hàng hóa, dòch vụ,… Logistics giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho
doanh nghiệp. Có nhiều doanh nghiệp thành công lớn nhờ có được chiến lược hoạt
động Logistics đúng đắn, ngược lại có không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm
chí thất bại, phá sản do có những quyết đònh sai lầm trong hoạt động Logistics, ví
dụ: chọn sai vò trí, chọn nguồn tài nguyên cung cấp sai, dự trữ không phù hợp, tổ
chức vận chuyển không hiệu quả… Ngày nay để tìm được vò trí tốt hơn, kinh doanh
hiệu quả hơn, các tập đoàn đa quốc gia, các công ty đủ mạnh đã và đang nỗ lực tìm
kiếm trên toàn cầu nhằm tìm được nguồn nguyên liệu, nhân công, vốn, bí quyết
công nghệ, thò trường tiêu thụ, môi trường kinh doanh… tốt nhất và thế là Logistics
toàn cầu hình thành và phát triển.
Ngoài ra Logistics còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt là
marketing hỗn hợp (4P – Right Product, Right Price, Proper Promotion, and Right
Place). Chính Logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng
nơi cần đến, vào đúng thời điểm làm thỏa mãn khách hàng và có giá trò khi và chỉ
khi nó đến được với khách hàng đúng thời hạn và đòa điểm quy đònh.
1.4 Kinh nghiệm phát triển Logistics của một số quốc gia trên thế giới.
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển Logistics của các nước công nghiệp phát triển (Châu
Âu, Bắc Mỹ)
Các nước có nền công nghiệp và dòch vụ giao nhận vận tải phát triển trên
thế giới có điểm tương đồng trong phát triển Logistics như sau:
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động Logistics: do các nước này có nền
công nghệ thông tin tiên tiến, cơ sở hạ tầng thông tin hoàn hảo tạo điều kiện cho
họ áp dụng công nghệ thông tin trong nhiều lónh vực, trong đó có lónh vực Logistics.
Có rất nhiều chương trình phần mềm hữu hiệu hiện được các công ty giao nhận
hàng đầu của Châu Âu và Mỹ áp dụng. Những chương trình này cùng với hệ thống
mạng kết nối đã giúp cho các công ty này “số hoá” rất nhiều chứng từ, dữ liệu
trong quan hệ giao dòch với khách hàng của mình, góp phần không nhỏ trong quá
trình quản trò dây chuyền cung ứng hết sức phức tạp. Cùng với sự phát triển của
Internet, các công ty giao nhận hàng đầu Châu Âu, Mỹ cũng đang có xu thế hướng
tới những trang Web, quản lý hàng loạt dựa trên những trang Web cũng cho phép
những khách hàng nằm ngoài hệ thống EDI kết nối được với các công ty Logistics.
20
Đây cũng là giai đoạn khởi đầu cho xu hướng phát triển của các công ty E-
Logistics trong tương lai.
- Phát triển hệ thống chi nhánh và đại lý toàn cầu: các công ty Logistics hàng đầu
Châu Âu, Mỹ đều phát triển mạng lưới rộng khắp trên thế giới, chính nhờ những
đại lý này mà họ có thể cung cấp Logistics toàn cầu. Tuy vậy họ vẫn tập trung vào
cung cấp Logistics mạnh ở một số khu vực mà họ có lợi thế.



Bảng 1.1: Đánh giá thò trường hoạt động của các công ty Logistics toàn cầu
(Nguồn SembCorp Logistics)

- Có chiến lược phân khúc thò trường theo lợi thế của từng công ty: các công ty luôn
nhắm tới phân khúc thò trường mà mình có ưu thế, phát triển và hoàn thiện hoạt
động Logistics của mình cho phân khúc thò trường này. Như công ty FedEx, UPS,
DHL,… nhắm tới thò trường bán lẻ, chuyển phát nhanh, bán hàng qua mạng. Hay
Maersk Logistics có những khách hàng lớn trong ngành may mặc, ngành lắp ráp ô
tô,…; SembCorp Logistics lại nhắm tới những khách hàng là các công ty điện tử,
công ty sản xuất hóa mỹ phẩm,…; Tuy nhiên các công ty có một điểm chung nữa là
mỗi công ty đều có những khách hàng lớn (Key accounts), những khách hàng này
đem lại phần lớn doanh thu trong hoạt động Logistics của các công ty này.
- Có sự liên kết hợp tác để tạo thành những tập đoàn khổng lồ, trong những năm
gần đây đánh dấu sự sát nhập của các công ty lớn trên thế giới. Hãng tàu NOL của
Singapore sát nhập với hãng tàu APL của Mỹ là điều kiện cho APL Logistics phát
triển. Sự sát nhập của Maersk line và Sealand dẫn đến sự sát nhập của Maersk
Logistics và Sealand Logistics thành một công ty Maersk Logistics toàn cầu. Ngoài
xu thế sát nhập, các công ty còn liên kết với nhau để mở rộng tầm hoạt động trên
thế giới. Điển hình là tập đoàn SembCorp Logistics có đối tác để tăng tầm hoạt
21
động ở Châu Á là Kuehne & Nagel, chính sự liên kết này làm tăng khả năng cạnh
tranh trong hoạt động Logistics toàn cầu của các công ty.
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển Logistics của Singapore
- Điểm nổi bật trong kinh nghiệm phát triển Logistics của Singapore là chính sách
cảng mở và đầu tư xây dựng các trung tâm phân phối vùng. Nhà nước cho phép xây
dựng các trung tâm cung cấp dòch vụ phân phối hàng hoá. Các trung tâm này còn
cung cấp cho khách hàng của mình những thông tin liên quan đến tiến độ sản xuất,
phân phối, lưu trữ. Nhà nước đứng ra xây dựng các trung tâm phân phối và cho các
công ty Logistics thuê lại. Với việc thành lập các trung tâm này, chính phủ
Singapore muốn nhanh chóng tăng nhanh lượng hàng chuyển tải qua sân bay
Changi và cảng biển quốc tế Singapore, tạo sự tối ưu hoá trong vận tải đường biển
và đường hàng không để thu hút lượng hàng chuyển tải trong khu vực, đồng thời
duy trì vò thế cạnh tranh với các trung tâm chuyển tải quốc tế Hongkong, Trung
Quốc, Đài Loan thông qua các hợp đồng kinh doanh mang tính toàn cầu.
- Hoạt động có hiệu quả của hiệp hội, Hiệp hội Logistics Singapore (SLA) đóng vai
trò quan trọng trong quản lý, điều hoà hoạt động của các thành viên, các chi phí
liên quan giao nhận, chuyển tải đều do Hiệp hội thống nhất quy đònh chung và các
thành viên được khuyến khích áp dụng để tránh tình trạng cạnh tranh về gía.
Chính nhờ sự hỗ trợ từ phía Chính Phủ và nỗ lực từ các công ty trong nước,
Singapore đã trở thành trung tâm Logistics lớn nhất Đông Nam Á, với hơn 12 triệu
TEUs container thông qua cảng biển quốc tế và hơn 1,2 triệu tấn hàng vận tải qua
sân bay Changi mỗi năm. Hiện nay Singapore là nơi phát triển rất mạnh dòch vụ
gom hàng lẻ đường biển (LCL-Less than container load) trong toàn khu vực Đông
Nam Á.
1.5 Hoạt động Logistics trong một số công ty Logistics nước ngoài tiêu biểu
đang có mặt trên thò trường thành phố Hồ Chí Minh
1.5.1 Schenker
Schenker được thành lập cách đây 125 năm bởi ông Gotffried Schenker tại
Vienna, Áo. Hiện nay Schenker là một trong những công ty quốc tế hàng đầu trên
thế giới về cung cấp dòch vụ Logistics. Văn phòng tổng công ty Schenker toàn cầu
được đặt tại Essen, Đức. Schenker được xếp vào một trong những công ty cung cấp
dòch vụ trọn gói lớn nhất châu Âu có các chi nhánh đặt tại 30 nước trên thế giới.
Schenker nổi tiếng về việc cung cấp cho khách hàng các giải pháp vận chuyển
toàn cầu bằng đường hàng không, đường biển cũng như các dòch vụ liên quan khác
kèm theo. Schenker đảm nhận vấn đề kho bãi và các dòch vụ liên quan được mở
rộng phục vụ cho việc điều hành kho bãi và giao nhận.
22
Schenker Việt Nam được thành lập vào năm 1990 và là một trong những
công ty giao nhận vận chuyển quốc tế đầu tiên hoạt động tại Việt Nam. Schenker
Việt Nam do Công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển (Germadept) làm đại lý.
Sau hơn 12 năm hoạt động, Shenker Việt Nam đã và đang phát triển thành một
trong những công ty vận chuyển hàng đầu tại Việt Nam, Schenker Việt Nam cung
cấp tất cả các dòch vụ liên quan đến vận chuyển hàng xuất và nhập khẩu bằng
đường biển và đường hàng không từ khắp mọi miền của Việt Nam.
Trong hoạt động Logistics, Schenker cung cấp chuỗi rộng lớn dòch vụ gía trò
tăng thêm với cùng một điểm chung nhất là: thiết lập giải pháp hiệu quả cho khách
hàng, thiết lập và tổ chức hoạt động của chuỗi cung ứng tối ưu cho khách hàng.
Thông thường những hoạt động này bao gồm hoạt động kho bãi, vận tải, đóng gói,
phân phối và cả lắp ráp theo đơn đặt hàng của khách hàng. Thêm vào đó,
Schenker có dòch vụ thiết kế chuỗi Logistics phù hợp với từng khách hàng.
Về hệ thống thông tin, Schenker sử dụng mối quan hệ khách hàng trực tuyến
thông qua Internet, chúng ta nghiên cứu website của Schenker tại đòa chỉ
www.btl.se/english/schenker_btl.html để thấy được những dòch vụ mà công ty cung
cấp trên Internet. Cấu trúc của website như trong phụ lục 1.
Chúng ta thấy Schenker cung cấp chuỗi dòch vụ trực tuyến bao gồm: Báo
giá, theo dõi hàng hóa, lòch tàu và cả hệ thống booking trực tuyến.
Quản lý hệ thống kho cũng là một trong những nghiệp vụ quan trọng để hoạt
động Logistics diễn ra hiệu quả. Hãy xem xét hoạt động kho của Schenker để có
thể thấy được quy trình quản lý kho của một công ty Logistics hàng đầu như thế
nào. Dưới đây là sơ đồ khái quát quy trình hoạt động kho của Schenker trong hoạt
động nhập và xuất kho của dây chuyền Logistics toàn cầu (Phụ lục 1)
1.5.2 DHL
Chúng ta thử nghiên cứu hoạt động Logistics trong một công ty chuyển phát
nhanh toàn cầu, DHL là công ty đại diện cho lónh vực hoạt động này. Là một công
ty của Mỹ, với trụ sở chính đặt tại Brussels, DHL khởi đầu bằng dòch vụ chuyển
phát nhanh thư tín, giấy tờ. Trong hiện tại DHL vẫn hoạt động mạnh trong lónh vực
chuyển phát nhanh toàn cầu nhưng mở rộng ra vận chuyển nhiều loại hàng hóa
khác nhau. Mạng lưới chuyển phát nhanh toàn cầu của DHL dựa trên vận tải hàng
không là chủ yếu, với phương tiện vận tải này DHL có thể đảm bảo hai yếu tố
quan trọng trong vận chuyển, đó là chất lượng và thời gian. Tuy nhiên, với phương
thức vận chuyển này chi phí vận chuyển cao hơn nhiều so với sử dụng các phương
thức vận chuyển khác, chính vì vậy khách hàng thường chỉ sử dụng để vận chuyển
những lô hàng có giá trò cao, khối lượng nhỏ hoặc đòi hỏi thời gian gấp.
23
Để thiết lập được hệ thống toàn cầu của mình, việc liên minh, kết hợp với
các nhà cung cấp dòch vụ khác đóng vai trò rất quan trọng. Có thể nói, mạng lưới
Logistics toàn cầu của DHL dựa trên sự kết hợp của các đối tác và các chi nhánh ở
các quốc gia khác nhau trên thế giới. Chẳng hạn như hệ thống kho, các dòch vụ
giao nhận hoặc vận tải hàng không… Việc kết hợp với các nhà cung cấp dòch vụ
cho một số hoạt động trong chuỗi Logistics của mình được DHL xây dựng trên tinh
thần hợp tác. Mặc dù vậy DHL luôn chòu toàn bộ trách nhiệm trong chuỗi Logistics
đối với khách hàng của mình. Vì thế hoạt động Logistics không bò gián đoạn mặc
dù mỗi khâu đoạn do các công ty khác nhau đảm nhiệm.
Về việc áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động Logistics, DHL rất
quan tâm đến lónh vực thương mại điện tử. DHL cung cấp dòch vụ Logistics cho các
công ty bán hàng trên mạng để phân phối hàng của họ đến tay người tiêu dùng.
Chẳng hạn như Amazon.com là một ví dụ. DHL đã kết nối hệ thống IT của mình
với webside của người bán để người bán và khách hàng có thể theo dõi, kiểm tra
việc chuyển hàng hoá đến tay người tiêu dùng. Khi khách hàng mua sản phẩm,
DHL cung cấp toàn bộ các dòch vụ trong chuỗi Logistics để giao hàng cho khách
hàng ở 220 quốc gia trên thế giới, như là dòch vụ kho vận, nâng hạ, đóng gói, đóng
kiện, giao dòch trực tuyến và chuyển phát nhanh (bao gồm cả khai báo hải quan).
Mặc dù vậy dòch vụ này vẫn chưa có ở Việt Nam. Tháng 10 năm 1999, DHL cũng
đã đưa ra dòch vụ DHL WAP Track, là dòch vụ theo dõi hàng hoá đầu tiên được
thiết kế đặc biệt sử dụng WAP để có thể dùng cho điện thoại di động.
1.5.3 Maersk (tham khảo thêm phụ lục 2)
Maersk Line là công ty vận tải biển toàn cầu thuộc tập đoàn A.P. Moller.
Bên cạnh hoạt động vận tải biển, tập đoàn này còn hoạt động trong các lónh vực
khác như dầu khí, đóng tàu, hàng không, công nghiệp, siêu thò,…. Maersk Line có
chi nhánh văn phòng tại hơn 95 quốc gia trên thế giới. Việc quản lý văn phòng chi
nhánh ở các nước được phân theo khu vực: châu Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Á và
châu Phi. Mỗi khu vực chòu trách nhiệm báo cáo trực tiếp cho tổng công ty mẹ đặt
tại Copenhagen, Đan Mạch.
Tập đoàn A.P. Moller sở hữu hơn 250 con tàu trong đó khoảng 100 tàu
container và 300.000 container đảm bảo cho Maersk Line hoạt động bao trùm khắp
thế giới. Các tàu feeder cũng như đội xe tải, xe lửa riêng của nó cho phép Maersk
Line cung cấp dòch vụ door-to-door cho các khách hàng của mình.
Khoảng 10 khách hàng lớn nhất đem lại 70 – 80% doanh thu cho Mearsk, 20
– 30% doanh số còn lại đem đến từ số lượng rất lớn các khách hàng nhỏ.
Maersk Logistics ra đời vào năm 2000, hiện nay Maersk Logistics có khoảng
200 văn phòng ở 70 quốc gia trên thế giới. Maersk Logistics hiện có 4 văn phòng
24
đại diện tại Việt Nam trong đó văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh do Saigon
Shipping làm đại lý. Hiện nay, Maersk Logistics Việt Nam là một trong những
công ty Logistics hàng đầu tại Việt Nam, là một trong số ít các công ty có khả năng
cung cấp đầy đủ mọi dòch vụ Logistics cho khách hàng (full range of Logistics
services).
Maersk Logistics Việt Nam hiện có khả năng cung cấp cho khách hàng các
dòch vụ sau đây:
+ Quản trò dây chuyền cung ứng (Supply Chain Management)
+ Giao nhận vận tải hàng hóa quốc tế (Forwarding & Transportation)
+ Dòch vụ về kho bãi và phân phối hàng hóa (Warehouse & Distribution)
+ Các dòch vụ khác (Local services) như: vận tải nội đòa, hàng hóa quá cảnh...
+ Ngoài ra Maersk Logistics còn cung cấp các dòch vụ giá trò gia tăng như:
++ Với những khách hàng lớn, khách hàng thường xuyên, Maersk Logistics thiết
lập và thực hiện các quy trình làm hàng riêng biệt theo yêu cầu của từng khách
hàng, quy trình làm hàng riêng biệt có tên gọi tắt là SOP (Standard Operating
Procedure);
++ Quản trò các nhà cung cấp – người bán hàng (Vendor Management): trong
nhiều trường hợp Maersk Logistics còn làm nhiệm vụ cầu nối giữa nhà cung cấp và
người đặt hàng;
++ Kiểm tra chất lượng hàng hóa;
++ Thực hiện những dòch vụ đặc biệt cho hàng may mặc, ví dụ : cung cấp giá treo
trong suốt quá trình vận chuyển cho loại hàng GOH (garment on hangers);
++ Nhận đóng gói hàng hóa;
++ Tư vấn cho khách hàng.
Bên cạnh những dòch vụ mà Maersk Logistics cung cấp cho khách hàng, hệ
thống thông tin hiện đại cũng góp phần quan trọng trong hoạt động Logistics của
Maersk Logistics.
Cũng như tất cả các văn phòng khác của Maersk Logistics trên thế giới các
nhân viên của Maersk Logistics Việt Nam đều sử dụng rất thành thạo hệ thống
thông tin toàn cầu (Global Systems) để trao đổi thông tin giữa các văn phòng trong
tập đoàn, trao đổi thông tin với khách hàng, phát hành B/L và các loại chứng từ
khác, cập nhật và lưu trữ các thông tin về hàng hoá, phân tích và tổng hợp các số
25
liệu để lập các báo cáo thống kê kòp thời và đặc biệt cung cấp cho khách hàng
những thông tin về tình trạng hàng hoá của họ mọi lúc mọi nơi. Hiện Mearsk
Logistics Việt Nam đang sử dụng các hệ thống thông tin sau đây:
Maersk Communication System (MCS):
MCS là hệ thống trao đổi thông tin giữa các văn phòng Maersk Logistics
trên khắp thế giới dưới dạng telex. MCS cũng được sử dụng để trao đổi Email với
khách hàng. MCS là hệ thống tin hữu hiệu với nhiều chức năng giúp người sử dụng
tiết kiệm thời gian và trao đổi thông tin nhanh chóng. MCS được hầu hết các nhân
viên Maersk Logistics sử dụng trong công việc hàng ngày.
Operations & Documentation execution System (MODS):
MODS là một trong những hệ thống quan trọng nhất của Maersk Logistics.
MODS được sử dụng để quản lý đơn đặt hàng của khách hàng. Hệ thống này có
thể nhận biết ngay được số đơn đặt hàng (Purchase Order - PO) vừa được cập nhật
là đúng hay sai; cập nhật và lưu trữ số liệu của tất các PO được cung cấp trước từ
khách hàng (PO Upload). Cũng nhờ MODS, công ty có thể biết rõ nhà cung cấp có
cung cấp đủ số hàng theo yêu cầu hay chưa? Giao hàng mấy lần? Vào những thời
điểm nào?
Hệ thống MODS có nhiều chương trình nhỏ để phục vụ cho quá trình làm hàng như
nhận yêu cầu xếp hàng (Shipping Order); nhận hàng vào kho (Cargo Receiving);
hàng được xếp lên chuyến bay/tàu (Container Stuffing); vận đơn (B/L); tính cước
phí; chứng từ được gửi đi (Shipping Advice) và nhiều chương trình khác đảm bảo
theo dõi được lô hàng trong suốt quá trình vận chuyển từ khi Maersk Logistics nhận
được yêu cầu của người gửi hàng cho đến khi hàng được giao đến tay người nhận.
Online Booking & Docummentation system for Shipper (M*power Shipper):
Đây là công cụ chính được Maersk Logistics sử dụng trong chiến lược phát
triển thương mại điện tử của mình. Hệ thống này cho phép các khách hàng của
công ty gửi những yêu cầu xếp hàng/đặt chỗ (Booking note) qua mạng Internet rất
nhanh chóng và tiện lợi. Hình thức đặt chỗ này sẽ thay thế dần cho việc gửi yêu
cầu xếp hàng/đặt chỗ theo phương pháp truyền thống: qua fax hay điện thoại.
Client Visibility Tool (M* power):
Hệ thống Startrack được thiết kế để đáp ứng nhu cầu kiểm tra tình trạng
hàng hoá của khách hàng, theo dõi lòch trình của hàng hóa, nhận biết vò trí hàng
hoá đang ở đâu trong quá trình vận chuyển. Khách hàng có thể tìm kiếm thông tin
trong hệ thống bằng cách nhập một trong các số liệu: số đơn đặt hàng, số vận đơn,
số container, ngày khởi hành... v.v.
Global airfreight system (Axsfreight):

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×