Tải bản đầy đủ

Thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ở trạm y tế xã tại huyện tiên du, tỉnh bắc ninh

Bộ Giáo dục và Đào tạo - bộ y tế
trờng đại học y tế công cộng
Đinh Mai Vân
Thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ khám chữa
bệnh ở trạm y tế xã tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc
Ninh năm 2005
luận văn thạc sỹ y tế công cộng
Mã số: 607276
Hớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hoàng Long.
Hà Nội, 2005
Lời cảm ơn
Hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ tận tình của các
thầy
giáo, cô giáo, các anh chị và các bạn đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo, và các bộ
môn, phòng ban Trờng Đại học Y tế Công cộng đã giúp đỡ cho tôi trong quá
trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin đợc bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn
Hoàng Long, ngời đã tận tình hớng dẫn, chỉ bảo và cung cấp những kiến
thức khoa học cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn:

Ban giám đốc cơ quan Trung tâm y tế dự phòng Bắc Ninh đã luôn động
viên, khuyến khích và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn.
Ban Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Tiên Du, các cán bộ y tế tại 16 xã,
đã tạo điều kiện và giúp tôi trong quá trình học tập và thu thập số liệu tại
thực địa.
Các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ và ủng hộ tôi trong
suốt quá trình học tập.
Cuối cùng tôi xin gửi lòng biết ơn sâu nặng tới toàn thể gia đình, những ngời
yêu quý của tôi đã luôn động viên, chia sẻ với tôi về tinh thần, thời gian và
công sức để có thể vợt qua mọi khó khăn, trở ngại trong quá trình học tập và
hoàn thành luận văn.
Hà nội, tháng 8 năm 2005
Bs. Đinh Mai Vân
Danh mục các chữ viết tắt
BHYT Bảo hiểm y tế
bq Bình quân
CBYT Cán bộ y tế
CS & bVSKnd Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân
2
cssk Chăm sóc sức khoẻ
csskbđ Chăm sóc sức khoẻ ban đầu
dvyt Dịch vụ y tế
HgĐ Hộ gia đình
HĐBT Hội đồng Bộ trởng
kcb Khám chữa bệnh
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
PKĐKKV Phòng khám đa khoa khu vực
RHM Răng hàm mặt
TMH Tai mũi họng
TTB DC Trang thiết bị dụng cụ
Ttyt Trung tâm y tế
tyt Trạm y tế
TyTX Trạm y tế xã
TW Trung ơng
Ubnd Uỷ ban nhân dân
UNICEF United Nations Children
,
s Fund- Quỹ nhi đông Liên hợp
quốc
YTCS Y tế cơ sở

WHO Tổ chức y tế Thế giới
Danh mục các bảng
Lời cảm ơn 2
Danh mục các chữ viết tắt 2
Danh mục các bảng 3
Danh mục các biểu đồ 5
Mục lục 6
I. Đặt vấn đề 9
II. Mục tiêu nghiên cứu: 11
chơng I: tổng quan 12
1.1. Khái niệm về cung cấp dịch vụ y tế: 12
1.2. Y tế tuyến xã: 13
1.3 Môt số khái niệm chung về tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế: 16
chơng II. Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu 27
1. Đối tợng nghiên cứu: 27
3. Phơng pháp nghiên cứu: 28
4. Kỹ thuật thu thập số liệu: 30
5. Một số định nghĩa và biến số, chỉ số nghiên cứu: 30
6. Xử lý số liệu: 31
7. Khó khăn, hạn chế của đề tài và cách khắc phục: 32
8. Đạo đức nghiên cứu: 32
3
Chơng Iii: kết quả nghiên cứu 33
3.1 Thông tin kinh tế xã hội: 33
3.2 Các nguồn lực xã: 34
Bảng 1: Cơ sở hạ tầng, TTB của trạm y tế: 34
Bảng 2: Nguồn nhân lực y tế xã: 35
Bảng 3: Tình hình thu, chi kinh phí của trạm y tế năm 2004 36
Bảng 4: Tình hình thuốc tại TYT (Theo quy định cuả Bộ y tế mỗi trạm cần có 116
loại thuốc thiết yếu) 37
Bảng 5: Hoạt động khám chữa bệnh 38
3.3 Một số yếu tố liên quan đến hoạt động KCB tại trạm: 39
Bảng 6: Mối liên quan giữa khoảng cách và số lợt khám của trạm: 39
Bảng 7: Mối liên quan giữa xã chuẩn y tế Quốc gia và số lợt khám của trạm: 39
Bảng 8: Mối liên quan giữa các xã có khám BHYT và số lợt khám của trạm: 40
Bảng 9: Mối liên quan giữa TTB với công tác KCB: 40
Bảng 10: Mối liên quan giữa cung cấp thuốc thiết yếu với công tác KCB: 41
Bảng 11:Mối liên quan giữa tình trạng nhà trạm và số lợt khám của trạm: 41
Bảng 12:Mối liên quan giữa số bác sỹ t ở xã và số lợt khám của trạm: 41
3.4 Điều tra hộ gia đình: 42
Thông tin chung về hộ gia đình: 42
3.5 Tình hình mắc bệnh và sử dụng dịch vụ KCB 42
Bảng 13: Tình hình ốm đau trong 4 tuần trớc điều tra 42
Bảng 14: Tình hình ốm đau trong 4 tuần qua theo nhóm tuổi 43
Bảng 15: Tỷ lệ mắc các chứng/bệnh của các trờng hợp ốm trong 4 trớc điều tra(%)
43
Bảng 16: Phân bố cách xử trí ban đầu của ngời ốm trong 4 tuần qua 44
Bảng 17: Phân bố nơi mua thuốc của ngời ốm: 46
Bảng 18: Nhận xét về trình độ chuyên môn cán bộ y tế nơi đến KCB 46
Bảng 19: Nhận xét về thái độ phục vụ nơi đến khám chữa bệnh 47
Bảng 20: Nhận xét về trang thiết bị nơi đến khám chữa bệnh 47
Bảng 21: Nhận xét về mức sẵn có thuốc nơi đến KCB 48
Bảng 22: Nhận xét về thời gian chờ đợi KCB 48
Bảng 23: Nhận xét về giá cả dịch vụ KCB 49
4
Bảng 24: Mối liên quan giữa tuổi và sử dụng dịch vụ KCB tại TYT 50
Bảng 25: Mối liên quan giữa giới và sử dụng dịch vụ KCB tại TYT 50
Bảng 26: Mối liên quan giữa nghề nghiệp sử dụng dịch vụ KCB tại TYT 50
Bảng 27: Mối liên quan giữa trình độ học vấn và sử dụng dịch vụ KCB tại TYT 51
Bảng 28: Mối liên quan giữa thu nhập và sử dụng dịch vụ KCB tại TYT 51
Bảng 29: Mối liên quan giữa BHYT và sử dụng dịch vụ KCB tại TYT 52
Bảng 30: Mối liên quan giữa khoảng cách và sử dụng dịch vụ KCB tại TYT 52
Chơng iV: bàn luận 59
chơng vi; khuyến nghị 75
tài liệu tham khảo 76
Phụ lục: 82
Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 1: Nhân lực y tế xã và y tế t-
37
Biểu đồ 2: Phân bố thu của TYT
xã 39
Biểu đồ 3: Phân bố chi của TYT
xã 39
Biểu đồ 4: Phân bố ngời ốm theo nhóm
tuổi 46
Biểu đồ 5: Phân bố các chứng/bệnh của ngời
ốm 47
Biểu đồ 6: Phân bố cách xử trí ban đầu cuả ngời
ốm 48
Biểu đồ 7: Phân bố sử dụng cách điều
trị 48
Biểu đồ 8: Phân bố nơi mua thuốc của ngời
ốm 49
Biểu đồ 9: Nhận xét về chuyên môn nơi đến
KCB 50
Biểu đồ 10: Nhận xét về TTB-
DC 51
Biểu đồ 11: Nhận xét về
thuốc 51
Biểu đồ 12: Nhận xét về thời gian chờ
5
KCB 52
Biểu đồ 13: Nhận xét về giá dịch
vụ 53
Biểu đồ 14: Phân bố lý do tại sao sử dụng dịch vụ KCB tại TYT xã
(%) 56
Biểu đồ 15: Phân bố lý do tại sao không sử dụng dịch vụ KCB tại TYT xã
(%) 56
Mục lục
Lời cảm ơn 2
Danh mục các chữ viết tắt 2
Danh mục các bảng 3
Danh mục các biểu đồ 5
Mục lục 6
I. Đặt vấn đề 9
II. Mục tiêu nghiên cứu: 11
chơng I: tổng quan 12
1.1. Khái niệm về cung cấp dịch vụ y tế: 12
1.2. Y tế tuyến xã: 13
1.3 Môt số khái niệm chung về tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế: 16
chơng II. Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu 27
1. Đối tợng nghiên cứu: 27
3. Phơng pháp nghiên cứu: 28
4. Kỹ thuật thu thập số liệu: 30
5. Một số định nghĩa và biến số, chỉ số nghiên cứu: 30
6. Xử lý số liệu: 31
7. Khó khăn, hạn chế của đề tài và cách khắc phục: 32
8. Đạo đức nghiên cứu: 32
6
Chơng Iii: kết quả nghiên cứu 33
3.1 Thông tin kinh tế xã hội: 33
3.2 Các nguồn lực xã: 34
Bảng 1: Cơ sở hạ tầng, TTB của trạm y tế: 34
Bảng 2: Nguồn nhân lực y tế xã: 35
Bảng 3: Tình hình thu, chi kinh phí của trạm y tế năm 2004 36
Bảng 4: Tình hình thuốc tại TYT (Theo quy định cuả Bộ y tế mỗi trạm cần có 116
loại thuốc thiết yếu) 37
Bảng 5: Hoạt động khám chữa bệnh 38
3.3 Một số yếu tố liên quan đến hoạt động KCB tại trạm: 39
Bảng 6: Mối liên quan giữa khoảng cách và số lợt khám của trạm: 39
Bảng 7: Mối liên quan giữa xã chuẩn y tế Quốc gia và số lợt khám của trạm: 39
Bảng 8: Mối liên quan giữa các xã có khám BHYT và số lợt khám của trạm: 40
Bảng 9: Mối liên quan giữa TTB với công tác KCB: 40
Bảng 10: Mối liên quan giữa cung cấp thuốc thiết yếu với công tác KCB: 41
Bảng 11:Mối liên quan giữa tình trạng nhà trạm và số lợt khám của trạm: 41
Bảng 12:Mối liên quan giữa số bác sỹ t ở xã và số lợt khám của trạm: 41
3.4 Điều tra hộ gia đình: 42
Thông tin chung về hộ gia đình: 42
3.5 Tình hình mắc bệnh và sử dụng dịch vụ KCB 42
Bảng 13: Tình hình ốm đau trong 4 tuần trớc điều tra 42
Bảng 14: Tình hình ốm đau trong 4 tuần qua theo nhóm tuổi 43
Bảng 15: Tỷ lệ mắc các chứng/bệnh của các trờng hợp ốm trong 4 trớc điều tra(%)
43
Bảng 16: Phân bố cách xử trí ban đầu của ngời ốm trong 4 tuần qua 44
Bảng 17: Phân bố nơi mua thuốc của ngời ốm: 46
Bảng 18: Nhận xét về trình độ chuyên môn cán bộ y tế nơi đến KCB 46
Bảng 19: Nhận xét về thái độ phục vụ nơi đến khám chữa bệnh 47
Bảng 20: Nhận xét về trang thiết bị nơi đến khám chữa bệnh 47
Bảng 21: Nhận xét về mức sẵn có thuốc nơi đến KCB 48
Bảng 22: Nhận xét về thời gian chờ đợi KCB 48
Bảng 23: Nhận xét về giá cả dịch vụ KCB 49
7
Bảng 24: Mối liên quan giữa tuổi và sử dụng dịch vụ KCB tại TYT 50
Bảng 25: Mối liên quan giữa giới và sử dụng dịch vụ KCB tại TYT 50
Bảng 26: Mối liên quan giữa nghề nghiệp sử dụng dịch vụ KCB tại TYT 50
Bảng 27: Mối liên quan giữa trình độ học vấn và sử dụng dịch vụ KCB tại TYT 51
Bảng 28: Mối liên quan giữa thu nhập và sử dụng dịch vụ KCB tại TYT 51
Bảng 29: Mối liên quan giữa BHYT và sử dụng dịch vụ KCB tại TYT 52
Bảng 30: Mối liên quan giữa khoảng cách và sử dụng dịch vụ KCB tại TYT 52
Chơng iV: bàn luận 59
chơng vi; khuyến nghị 75
tài liệu tham khảo 76
Phụ lục: 82
Tóm tắt nghiên cứu
Nghiên cứu: "Thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ khám chữa
bệnh ở trạm y tế xã tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2005. Với
những mục tiêu cụ thể sau:
Mô tả thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ở
trạm y tế xã, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2005.
Mô tả một số yếu tố liên quan đến cung cấp và sử dụng dịch vụ
khám chữa bệnh tại trạm y tế xã, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm
2005.
Đề xuất các giải pháp để tăng cờng cung cấp và sử dụng dịch vụ
khám chữa bệnh tại trạm y tế xã trong tình hình mới.
Để đạt đợc những mục tiêu trên chúng tôi thiết kế một nghiên cứu mô
tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lợng và định tính. Đối t-
ợng nghiên cứu là 16 TYT xã, cán bộ TYT, cán bộ TTYT huyện, lãnh đạo
UBND xã, hộ gia đình . Thu thập số liệu qua điều tra định lợng tại 16 TYT và
điều tra 300 hộ gia đình, điều tra định tính qua các cuộc phỏng vấn sâu và
thảo luận nhóm. Xử lý số liệu bằng phần mềm Epi-Infor, dùng test
2
để so
sánh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhìn chung các TYT xã ở huyện Tiên Du
đã đảm bảo đợc về cung cấp các DVKCB, nh nhân lực, TTB, thuốc thiết
yếu, cơ sở nhà trạm với 68% các nhà trạm theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế, các
TYT đều có Bác sỹ và NHS hoặc YSSN, số giờng bệnh TB là 5,7, lơng,
BHXH của CBYT đợc cung cấp, Qua nghiên cứu cho thấy một số yếu tố
8
ảnh hởng đến việc cung cấp DVKCB nh: Xã đạt chuẩn y tế Quốc gia về y tế
xã; xã có khám BHYT; TTB, thuốc và công tác KCB; xã có nhiều Bác sỹ t
hành nghề
Tuy nhiên qua nghiên cứu cho thấy mặc dù đợc đầu t về CBYT, TTB
nh vậy nhng qua điều tra hộ gia đình thì những ngời ốm đợc hỏi chỉ có
20,7% đến TYT khi ốm đau. Và tìm thấy một số yếu tố ảnh hởng đến sử
dụng DVKCB tại TYT nh không tin tởng chuyên môn 62%, bệnh nhẹ
48,1% có BHYT
I. Đặt vấn đề
Sự tiếp cận dịch vụ y tế và quyền của mọi ngời đợc chăm sóc y tế là
một mục tiêu cần đạt đợc của một chính sách y tế quốc gia. Khám chữa
bệnh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của y tế cơ sở và là một trong
những tiêu chí để đánh giá chuẩn quốc gia về y tế xã.
Từ khi đổi mới cho đến nay, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, hệ
thống y tế Việt Nam có nhiều thay đổi. Một trong những thay đổi đó là ngời
dân phải chi trả phí dịch vụ y tế theo hai hình thức trực tiếp và BHYT. Bên
cạnh đó hệ thống y tế t nhân đợc phép hoạt động cạnh tranh các cơ sở y tế
nhà nớc. Ngời bệnh có quyền tự do lựa chọn nơi khám chữa bệnh, họ có thể
lựa chọn cơ sở y tế nào mình thích nh đến thẳng bệnh viện tuyến trung ơng
để khám chữa bệnh mà không cần sự giới thiệu của tuyến dới. Điều này dẫn
đến hậu quả xấu cho cả ngời cung cấp và ngời sử dụng dịch vụ khám chữa
bệnh. Dẫn đến quá tải lợng bệnh nhân ở tuyến trên, sự lạm dụng sử dụng
thuốc, sự đầu t cho y tế cơ sở không thích đáng, hiệu quả sử dụng dịch vụ y
tế ở tuyến cơ sở giảm sút. phải chăng chính sách thu một phần viện phí đã
ảnh hởng nhất định đến khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế xã, hay
do nhu cầu khám chữa bệnh của ngời dân ngày càng cao ?
Để đáp ứng với những thay đổi trên nhiều chính sách y tế ra đời nhằm
đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân ngày càng cao. Đó là
Nghị quyết Trung ơng IV khoá VII về nhiệm vụ cấp bách trong chăm sóc sức
khoẻ nhân dân của Ban Chấp hành Trung ơng Đảng. Chỉ thị 06-CTTW về
củng cố và hoàn thiện mạng lới y tế cơ sở của Ban Chấp hành Trung ơng
Đảng [3]. Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 370/2002/QĐ-BYT về chuẩn
quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001- 2010. Đặc biệt là Nghị quyết số 46-
9
NQ/TW, ngày 23/02/2005 của Bộ chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và
nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới.
Tiên Du là một huyện đồng bằng của tỉnh Bắc Ninh với diện tích 108
km
2
, nằm kề ngay thị xã Bắc Ninh và cách thủ đô Hà Nội khoảng trên 20
km, dân số khoảng 13 vạn ngời, dân trí cao nhng không đồng đều, có 15 xã
và 1 thị trấn, ngành nghề chủ yếu là nông nghiệp và có một số nghề phụ
nh nghề làm bún, giấy, nuôi tằm, nghề mộc và buôn bán nhỏ Trung tâm y
tế huyện có quy mô bệnh viện 60 giờng, một phòng khám đa khoa khu vực,
1 đội y tế dự phòng, 1 đội bảo vệ bà mẹ trẻ em. Nhân lực gồm 170 ngời
trong đó có 20 bác sĩ. Đến hết năm 2004, huyện đã có 8/16 trạm y tế đạt
chuẩn quốc gia, 100% trạm y tế có bác sỹ và nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi,
khám BHYT đợc triển khai tại các TYT xã [41].
Cùng với cả nớc và thực hiện chủ trơng của tỉnh, huyện đã thực hiện về
xã hội hoá sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân là trách nhiệm của mỗi
cá nhân, gia đình, cộng đồng, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành,
các đoàn thể và các tổ chức xã hội. Mạng lới y tế xã không ngừng đợc củng
cố cả về cơ sở cũng nh trang thiết bị, thuốc thiết yếu, lơng và chế độ bảo
hiểm cho cán bộ y tế, cũng nh chủ trơng đa bác sỹ về xã trong những năm
qua đợc chú trọng rất nhiều. Tuy nhiên, qua số liệu lu trữ cho thấy số ngời
đến khám chữa bệnh tại một số trạm y tế còn thấp 0,3 lần/ngời/năm (chuẩn
y tế quốc gia là 0,6 lần) [41]. Trong khi đó việc khám chữa bệnh ở tuyến trên
thì quá tải, những bệnh thông thờng chỉ cần điều trị ở tuyến xã là khỏi thì lại
phải lên tận bệnh viện huyện, tỉnh , ngợc lại những trờng hợp cần phải có h-
ớng dẫn của y bác sỹ thì lại tự mua thuốc điều trị Câu hỏi đặt ra là liệu củng
cố trạm y tế xã đã thực sự có hiệu quả cha?, có những giải pháp nào khác?
Cùng với đó trong tình hình hiện nay với nền kinh tế ngày càng phát
triển, nhu cầu khám chữa bệnh của ngời dân ngày càng cao, với việc triển
khai khám chữa bệnh bằng BHYT cho ngời nghèo tại TYT xã [41] và với sự
cạnh tranh của y tế t nhân, liệu sự đầu t, cung cấp dịch vụ y tế cho trạm y tế
xã đã phù hợp cha? Sự đầu t đó theo chức năng nhiệm vụ của TYT xã, hay
theo nhu cầu KCB của ngời dân, hay theo khả năng hoạt động của từng
trạm. Câu hỏi đặt ra là sự cung cấp các dịch vụ y tế nh vậy đã đáp ứng đợc
nhu cầu KCB của ngời dân cha? Hiện tại ở Tiên Du cha có đề tài nào tìm
hiểu về vấn đề này.
10
Để trả lời cho các câu hỏi trên chúng tôi thực hiện đề tài: Thực trạng
cung cấp và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ở trạm y tế xã tại huyện
Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2005.
II. Mục tiêu nghiên cứu:
1. Mục tiêu chung:
Mô tả thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của trạm
y tế xã, mô tả các yếu tố liên quan và đề xuất các giải pháp tăng cờng sử
dụng dịch vụ khám chữa bệnh ở trạm y tế xã trong tình hình mới tại
huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2005.
2. Mục tiêu cụ thể:
2.1 Mô tả thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ở
trạm y tế xã, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2005.
2.2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến cung cấp và sử dụng dịch vụ khám
chữa bệnh tại trạm y tế xã, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2005.
2.3 Đề xuất các giải pháp để tăng cờng cung cấp và sử dụng dịch vụ
khám chữa bệnh tại trạm y tế xã trong tình hình mới.
11
chơng I: tổng quan
1.1. Khái niệm về cung cấp dịch vụ y tế:
Khả năng cung cấp DVYT của TYT cơ sở gồm: nhân lực, CSVC, TTB,
thuốc thiết yếu cũng nh nguồn tài chính của cơ sở [9].
1.1.1. Nhân lực y tế:
* Nhân lực y tế: là một trong những nhân tố quyết định chất lợng các
hoạt động trong tất cả các cơ sở của ngành y tế. Việc thực hiện các DV
CSSK cơ bản phụ thuộc vào nguồn nhân lực y tế. Trong tình hình phát triển
KT-XH ở nớc ta hiện nay, do thay đổi cơ chế kinh tế nên tác động rất nhiều
đến nhu cầu CBYT về chất lợng và số lợng, để có thể đáp ứng đợc nhu cầu
CSSK cho nhân dân hiện tại cũng nh trong tơng lai. Theo quyết định số 58
TTg của Thủ tớng Chính phủ về y tế cơ sở [17], biên chế cán bộ của TYT cơ
sở tùy theo số dân và địa bàn hoạt động, một trạm y tế cơ sở đợc bố trí từ 3
đến 6 cán bộ, trong đó 1 đến 2 bác sỹ.
1.1.2. Tài sản, vật t thiết bị y tế:
* Tài sản ( nhà trạm, vật t, trang thiết bị) đóng vai trò rất quan trọng
trong công tác KCB cho nhân dân. TTB y tế là những phơng tiện kỹ thuật
giúp cho ngời thầy thuốc nâng cao chất lợng trong công tác chẩn đoán,
chữa bệnh, phòng bệnh, đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học.
Phân loại tài sản theo thời gian sử dụng:
Loại tài sản cố định và vật t, TTB lâu hỏng: nhà cửa, giờng tủ, bàn
ghế, ống nghe, panh, kéo ( Sử dụng trong thời gian 1 năm trở lên).
Loại vật t tiêu hao: bông băng, cồn gạc
Phân loại theo thông dụng:
Vật t -TTB thông dụng: bàn ghế, giờng tủ, ấm chén, phích đựng nớc,
đồng hồ treo tờng
Vật t -TTB chuyên dụng: nồi hấp, panh, kéo, ống nghe, dụng cụ tiểu
phẫu, ống hút điều hòa kinh nguyệt
1.1.3. Tài chính:
* Tài chính: là một yếu tố rất quan trọng trong các nguồn lực y tế. Tài
chính đảm bảo cho các cơ sở y tế thực hiện nhiệm vụ CSSK cho nhân dân,
các nguồn kinh phí của TYT bao gồm:
12
Kinh phí do trên cấp
Kinh phí do xã cấp: thờng bằng khoảng 10% ngân sách xã
Quỹ y tế xã
Tiền thu từ các DVYT
Các nguồn thu khác: tiền do các chơng trình, dự án hỗ trợ, tiền quyên
góp, từ thiện
1.1.4. Thuốc:
* Thuốc thiết yếu: Bộ y tế đã xây dựng và ban hành Danh mục thuốc
thiết yếu ( cứ 3-5 năm một lần) dựa trên tiêu chuẩn phù hợp với mô hình
bệnh tật, tình hình KT-XH cũng nh các tiến bộ về công nghệ trong điều trị
của Việt Nam. Các loại thuốc trong danh mục thuốc thiết yếu phải có hiệu
quả cao, đảm bảo tính an toàn, dễ sử dụng và phù hợp với yêu cầu điều trị ở
từng tuyến [12].
Bộ y tế đã xây dựng và ban hành Danh mục thuốc thiết yếu lần thứ ba
vào ngày 28/11/1995. Danh mục thuốc này xây dựng cho 3 mức độ chăm
sóc sức khỏe khác nhau dựa trên tình trạng có ngời có trình độ chuyên môn
cao nhất ở nơi đó.
Mức 1: Những nơi có bác sỹ: 255 loại
Mức 2: ở những nơi chỉ có y sỹ: 197 loại
Mức 3: Những nơi không có cả y sỹ, bác sỹ: 83 loại.
1.2. Y tế tuyến xã:
1.2.1. Tình hình nhân lực trạm y tế xã.
Điều tra ở 61 tỉnh (gồm 9.181 xã) năm 1996 bình quân mỗi trạm y tế có
khoảng 4 cán bộ, nhân viên [7].
Năm 2000, 51% số TYTX đã có bác sỹ [17]. Phấn đấu 2010, 80%
TYTX có bác sỹ [18]. Thực hiện mục tiêu chiến lợc về bác sỹ xã ngoài các
lớp chính qui , Bộ y tế chủ trơng mở các lớp chuyên tu để chuyển y sỹ trung
học, y sỹ cao đẳng hiện đang làm việc ở xã thành bác sỹ xã [11].
Năm 2000: 87,9% TYTX có NHS hoặc YSSN trung học và cơ sở. Bộ y
tế chủ trơng đến 2005, 100% TYTX có NHS trong đó 60% là NHS trung học
và đến 2010, 80% là NHS trung học [18].
* Kết quả nghiên cứu tại 32 trạm y tế phờng thuộc thành phố Hà Nội
năm 2002 [26].
13
Đa số các trạm y tế phờng đợc điều tra có số cán bộ từ 5-6 ngời, trung
bình của 32 trạm là 5,3 CBYT/trạm. 17 TYT phờng có 5 CBYT chiếm tỷ lệ
cao nhất (53,1%), chỉ có 4 TYT phờng (12,5%) có 4 cán bộ, còn lại có 6 đến
7 cán bộ.
Về mặt chất lợng cán bộ, nhiều trạm y tế có đề nghị bổ túc, đào tạo lại
để nâng cao trình độ chuyên môn nói chung, năng lực khám chữa bệnh nói
riêng (9/32=28,1%). Các trạm y tế phờng ở Hà Nội hầu nh không đợc biên
chế dợc tá, chỉ có 3,1% số trạm có. Chức năng dợc tá có thể không biên chế
riêng mà đợc kiêm nhiệm do một cán bộ y tế khác.
Thiếu nhân lực, thiếu kinh nghiệm KCB theo chế độ BHYT.
Chính sách đãi ngộ cha thoả đáng đối với cán bộ y tế KCB tại trạm y
tế cơ sở [6].
Cán bộ y tế tại trạm y tế, nhiều xã còn thiếu cả về số lợng và chất l-
ợng.
Cha có chính sách khuyến khích về vật chất, tinh thần một cách phù
hợp đối với cán bộ làm công tác y tế cơ sở [5].
1.2.2. Cơ sở vật chất, trang thiết bị.
Cơ sở vật chất trang thiết bị của TYTX đã đợc chính quyền dịa phơng
quan tâm xây dựng. Tuy nhiên, do kinh phí có hạn nên vẫn còn rất nhiều
trạm y tế xã có trụ sở là nhà xây dựng cấp 4 (chiếm 90%), diện tích sử dụng
còn rất hạn chế (có nơi chỉ có 3 phòng).
Các trang thiết bị y tế tại trạm y tế đã đợc đầu t từ nguồn kinh phí của
các chơng trình quốc gia hoặc do kinh phí địa phơng. Mỗi trạm đều có: Bàn
sản khoa, dụng cụ khám bệnh thông thờng (ống nghe, huyết áp), nồi hấp,
bộ tiểu phẫu. Một số trạm y tế liên xã còn đợc trang bị dụng cụ làm xét
nghiệm máu, nớc tiểu , một số xã đợc cơ quan BHYT trang bị một số thiết
bị y tế chuyên dụng thiết yếu từ quỹ phát triển sự nghiệp nhng còn rất hạn
chế. Tuy nhiên, có một thực trạng là nhiều y dụng cụ không đợc dùng đến
do thiếu cán bộ đủ trình độ sử dụng [6] .
* Kết quả nghiên cứu tại 32 trạm y tế phờng thuộc thành phố Hà Nội
năm 2002 [26], cho thấy:
Trang thiết bị y tế của trạm y tế phờng rất thiếu thốn và xuống cấp
nghiêm trọng.
14
Dụng cụ khám chữa bệnh chung chỉ có trung bình 22,2/53 khoản
mục quy định (thiếu gần 60% khoản mục theo quy định), thiếu dụng
cụ chuyên dùng quy định cho các trạm có bác sĩ công tác, thiếu cáng
tay, dụng cụ chuyên khoa (chỉ có trung bình 0,6/11 khoản theo quy
định), trang thiết bị tiệt khuẩn (hiện có 31,4% theo quy định) và các
thiết bị khác thiếu rất nhiều [26].
Nhiều trạm y tế cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu thốn [5], [6].
Hầu hết các trạm y tế xã không có các phơng tiện xét nghiệm cận
lâm sàng [5] và hầu hết các TYTX nội thành không thực hiện KCB
cho các đối tợng BHYT.
1.2.3. Hoạt động của TYTX, phờng và việc sử dụng DVYT của ngời
dân:
* Chức năng nhiện vụ của TYTX, phờng: TYTX, phờng là đơn vị đầu
tiên tiếp xúc với nhân dân, nằm trong hệ thống y tế nhà nớc, phối hợp các
ngành, các đoàn thể trong xã, phờng tham gia vào các hoạt động chăm sóc
và bảo vệ SKND, có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ CSSKBĐ cho nhân dân
trên địa bàn. Do đó TYTX, phờng có vị trí chiến lợc quan trọng, vì đây là đơn
vị gần dân nhất, phát hiện những vấn đề sức khỏe sớm nhất, có thể giải
quyết tại chỗ 80% sức khỏe của địa phơng. Đây cũng là nơi thể hiện sự
công bằng trong CSSK rõ nhất, nơi trực tiếp thực hiện những chủ trơng
chính sách của Đảng và Nhà nớc về y tế và là bộ phận quan trọng nhất của
ngành y tế tham gia ổn định chính trị- xã hội [11].
TYTX, phờng có 11 nhiệm vụ. Liên quan đến công tác KCB có một số
nhiệm vụ sau: Tổ chức sức khỏe và quản lý sức khỏe cho các đối tợng trong
khu vực mình phụ trách; Tổ chức sơ cứu ban đầu, KCB thông thờng cho
nhân dân tại TYT và mở rộng dần việc quản lý sức khỏe tại hộ gia đình;
Tham mu cho chính quyền xã, phờng, thị trấn và giám đốc TTYT huyện chỉ
đạo nội dung CSSKBĐ [15]
Tính đến 2000 cả nớc có 10.511 xã, phờng, thị trấn. Hiện tại có
10.424 xã có TYT, chiếm tỷ lệ 99,17%, chỉ có 86 xã cha có TYT chiếm
0,83%[16]
* Thực trạng của việc sử dụng và cung cấp DVYT tại TYTX, phờng:
15
Tại cuộc điều tra mức sống dân c 1998 cho thấy tình trạng mua thuốc rất
phổ biến đối với tất cả các nhóm thu nhập, dịch vụ tại quầy thuốc chiếm xấp
xỉ 2/3 số lần sử dụng dịch vụ, [39],[59].
Xu hớng sử dụng các DVYT có phần giảm sút trong những năm gần
đây. Lý do ngời dân ít đến TYT là do thiếu tin tởng vào trình độ chuyên môn
của cán bộ y tế tại trạm. Bên cạnh đó các yếu tố về gần nhà tiện lợi về thời
gian, thuốc, thái độ CBYT, giá cả, giầu nghèo cũng là những yếu tố ảnh h-
ởng tới việc lựa chọn sử dụng DVYT của ngời dân [1].
1.3 Môt số khái niệm chung về tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế:
1.3.1 khái niệm về tiếp cận dịch vụ y tế:
Tiếp cận dịch vụ y tế là khả năng mà ngời sử dụng y tế khi cần có thể
đến sử dụng DVYT tại nơi cung cấp [47],[[53].
Khả năng tiếp cận DVYT tuỳ thuộc vào 4 nhóm yếu tố chính:
Nhóm các yếu tố về khoảng cách từ nơi ở đến cơ sở y tế:
Nhóm này bao gồm khoảng cách đờng đi, chất lợng đờng xá, phơng
tiện giao thông thông thờng và các biến động thời tiết theo mùa. Tổng hợp
lại có thể đo bằng thời gian, (km/m) đi bằng phơng tiện thông thờng từ nhà
đến cơ sở y tế (càng xa, càng tốn thời gian để đến đợc cơ sở y tế, càng khó
tới đó thì sự tiếp cận về khoảng cách càng thấp).
Nhóm các yếu tố về kinh tế:
Thông thờng càng nghèo càng bị hạn chế đến với cơ sở y tế. Mức
nghèo cũng có thể tuyệt đối và cũng có thể tơng đối với mức chi phí cho
toàn bộ đợt ốm phải đến cơ sở y tế để khám, chữa bệnh. Sự chênh lệch về
thu nhập dẫn đến sử dụng DVYT giữa ngời giàu và ngời nghèo ở thành thị
cũng nh ở nông thôn không giống nhau. Hộ gia đình có thu nhập cao, ngời
ta sẽ dễ dàng quyết định đi KCB kể cả nơi xa nhất, nhng có chất lợng nhất,
ngợc lại những ngời nghèo thờng có xu hớng tự chữa ở nhà hoặc đến thày
thuốc gần nhà để giảm bớt chi phí hoặc hạn chế đến cơ sở y tế có chất lợng
cao, thu phí cao [46],[48].
Đối với các nớc đang phát triển thì yếu tố kinh tế có quyết định rất quan
trọng tới khả năng tiếp cận DVYT của ngời dân.
Nhóm các yếu tố về DVYT:
Trong nhóm này đề cập đến tính thuận tiện về giờ giấc, thời gian mở
của, tính thờng trực, tính sẵn sàng của các DVYT mà ngời dân cần, đạo đức
16
thái độ ngời cung ứng dịch vụ và chất lợng các dịch vụ theo yêu cầu của ng-
ời dân [45].
Nhóm các yếu tố văn hoá:
Đó là các tập quán về chữa bệnh, nh coi trọng chữa bệnh cho nam hơn
nữ, coi trọng trẻ em hơn ngời già, ngại đến thầy thuốc nam giới, ngại phải
thổ lộ bệnh tật của mình Các yếu tố về trình độ hiểu biết, văn hoá của ngời
ốm và chủ hộ cũng ảnh hởng tới quá trình quyết định tới sự tiếp cận DVYT
[46].
1.3.2 Quan hệ giữa tiếp cận và sử dụng DVYT với các yếu tố ảnh hởng:
Tiếp cận và sử dụng DVYT là hai vấn đề có quan hệ với nhau, ví dụ nh
khoảng cách ngắn (gần nhà, ) giữa ngời có nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế
và nơi khám chữa bệnh thể hịên tính tiếp cận cao, còn việc đến hay không
đến đó KCB thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh: giá cả, tính sẵn có, tính
liên tục chọn lọc và sự hiểu biết về dịch vụ [45].
Về khoảng cách:
Đối với y tế xã, nếu tính khoảng cách bằng Km, nói nên khả năng tiếp
cận dịch vụ. Tuy nhiên nếu cùng một cộng đồng, khoảng cách nh nhau thì
nhà giàu tiếp cận đợc dễ hơn (do có phơng tiện đi lại dễ dàng hơn ) còn
nhà nghèo không oặc khó tiếp cận đợc (do phải đi bộ, đạp xe, mất thời gian
hơn ) [43].
Về kinh tế:
Kinh tế HGĐ đợc đo lờng, đánh giá qua phỏng vấn chủ hộ về thu nhập
(các khoản), tính theo thu nhập bình quân đầu ngời / tháng tính bằng đồng.
vì thế khi nghiên cứu kinh tế HGĐ ở nông thôn thờng sử dụng cách tính thu
nhập để phân loại giàu nghèo [31].
Cách thứ hai là tính mức chi tiêu của gia đình trong một tháng để phân
loại kinh tế HGĐ. Nhợc điểm lớn nhất cho tới nay là không có mức chính
thức phân loại giàu nghèo qua chi tiêu ở Việt Nam. nhợc điểm thứ hai là các
chi tiêu có thể rất khác nhau giữa các tháng trong năm.
Dù cách tính qua thu nhập hay chi tiêu đều có thể dẫn tới sai số, vì vậy
ngân hàng thế giới gần đây đề xuất cách phân loại tình trạng kinh tế của
17
một cộng đồng dựa theo mức thu nhập bình quân đầu ngời của từng thành
phần cấu thành cộng đồng đó. Mỗi nhóm gồm 20% số hộ trong diện điều tra
đợc chia đều. Mức giàu, trung bình hay nghèo đợc đối chiếu với nhau trong
cùng một cộng đồng sẽ cho phép nhận định ảnh hởng của điều kiện kinh tế
( nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất) tới khả năng chi trả, nguyện vọng
chi trả của ngời dân khi đi KCB. Qua đó biết đợc tiếp cận của họ với cơ sở y
tế [58][52].
Về yếu tố DVYT:
Thờng không đợc đo lờng bằng các biến định lợng nh trên mà bằng các
biến định tính, thể hiện nguyện vọng, ý kiến của ngời dân đối với cơ sở y tế
[19].
Các yếu tố về văn hoá:
Có thể dùng trình độ văn hoá (học hết cấp nào hay học hét lớp mấy) để
làm biến số định lợng. Các yếu tố khác đợc thể hiện qua các biến định tính.
Tóm lại: Để đo lờng cách tiếp cận cần rất cẩn thận, nhất là các đo l-
ờng tính toán. Tiêu chuẩn nhận định khác nhau sẽ dẫn đến suy luận khác
nhau. Việc dùng các biến số về định lợng có phần thuyết phục hơn song
cũng dễ bị đánh giá thấp hơn hoặc cao hơn thực tế. Việc áp dụng các kỹ
thuật nghiên cứu định tính một cách nghiêm ngặt sẽ cho chúng ta những kết
quả chính xác hơn [45].
Năm 1968 Anderson và Rosentock đã đa ra mô hình sử dụng DVYT ở
Mỹ và các yếu tố ảnh hởng đến việc lựa chọn DVYT nh sau [53][50]:
18
Sơ đồ 1: Mô hình sử dụng DVYT
Nh vậy mô hình có ba nhóm yếu tố ảnh hởng tới việc sử dụng các
DVYT của ngời dân. Theo các tác giả nhận xét thì khi tách riêng từng yếu tố
không thấy ảnh hởng rõ rệt. Nhng khi tác động tổng hợp của cả ba yếu tố thì
lại có ảnh hởng. Năm 1981, Fiedler đã sửa lại mô hình này. Cho đến nay hai
mô hình của Anderson và Rosentock vẫn thờng đợc sử dụng để thiết kế
nghiên cứu về sử dụng DVYT [46][49].
1.3.3 Những hớng nhằm tăng cờng khả năng tiếp cận sử dụng dịch vụ
y tế xã:
Trớc hết cần phân tích những nguyên nhân nào dẫn tới sự tiếp cận dịch
vụ y tế thấp trớc khi muốn nâng cao khả năng tiếp cận cộng đồng, một địa
phơng. Việc phân tích từng nhóm các yếu tố riêng lẻ và sau đó tổng lợng
các yếu tố sẽ cho phép nhìn nhận nguyên nhân hợp lý hơn. Khi nghiên cứu
tiếp cận hớng về các giải pháp trong tơng lai cũng phải có những cứ liệu để
dự đoán sự tiếp cận, sử dụng dịch vụ KCB sẽ thay đổi theo hớng nào.
Trớc đây khi đồng thời xảy ra tình trạng ngời dân ít đến trạm y tế xã để
KCB cùng với tình trạng xuống cấp của trạm y tế cơ sở (vì trang thiết bị
KCB, thuốc thiếu, tổ chức lỏng lẻo ) thì nhiều ngời cho rằng cần phải củng
cố TYTX thì ngời dân mới đến. Trong thực tế việc nâng cấp, xây dựng TYTX,
cung cấp dụng cụ thuốc thiết yếu, lơng thờng xuyên cho CBYT và đào tạo
Nhóm yếu tố
cơ bản
Nhóm yếu
tố khả năng
Nhucầu
KCB
Sử dụng
DVYT
Yếu tố đặc tr ng
của GĐ
Nguồn lực
của GĐ
Tình trạng
sức khoẻ
bản thân
Cấu trúc xã
hội
Nguồn lực
cộng đồng
Tình trạng sức khoẻ do
ng ời cung cấp DVYT
đánh giá
Lòng tin vào y tế
19
CBYT về chuyên môn, về quản lý đã dợc chú trọng rất nhiều. Trong những
năm gần đây, vốn đầu t cho các trạm y tế xã đã tăng, nhất là sau khi có
Nghị định 58 của Chính phủ (1995) ban hành, hoạt động của y tế xã đã đi
vào nề nếp rõ rệt. Tuy nhiên khi đối chiếu với số ngời đến KCB, mua thuốc
và các dịch vụ y tế khác thì thấy không tơng xứng với mức đầu t. Trớc đây,
mỗi ngày có 2-3 ngời dân đến KCB tại trạm/ngày thì nay tăng lên 4-5 ngời
bệnh/trạm/ngày và tỷ lệ ngời dân đến trạm vẫn còn rất thấp 0,3% [14]. Câu
hỏi đặt ra là: liệu giải pháp củng cố TYTX đã thực sự có hiệu quả hay cha ?
có những giải pháp nào hiệu quả hơn?
Nhìn lại cách đề cập này trong cơ chế thị trờng, chúng ta có thể thấy
ngay những yếu điểm của nó. Sự cạnh tranh của y tế xã với y tế t nhân là
một sự thật tất yếu, vì vậy nếu TYTX không cung ứng dịch vụ mà cộng đồng
yêu cầu về cả chất lợng , tiện nghi và tính sẵn sàng thì ngời dân vẫn không
đến đó. Nh vậy, tất yếu phải củng cố y tế cơ sở sao cho cơ sở này đáp ứng
đợc yêu cầu của cộng đồng.
Việc xem xét toàn diện trong xu thế phát triển của cộng đồng về các
yếu tố giúp tăng cờng khả năng tiếp cận cũng nh hạn chế các yếu tố cản trở
tiếp cận giúp cho ngời quản lý y tế địa phơng tìm đợc các giải pháp có hiệu
quả nhất và đợc cộng đồng chấp nhận. Đây cũng là cách đề cập dựa trên
cấu trúc hệ thống và động thái phát triển [28].
1.3.4 Tác động của đổi mới kinh tế ở Việt Nam đến sử dụng dịch vụ
khám chữa bệnh:
Từ sau đại hội VI của Đảng năm 1986, đất nớc ta chuyển sang giai
đoạn mới, đổi mới sâu sắc toàn diện trên mọi mặt kinh tế - xã hội. Những
chính sách mới của Đảng và nhà nớc đã đa đất nớc ta ra khỏi khủng hoảng
kinh tế và ổn định chính trị, đồng thời đẫ tác động sâu sắc đến hoạt động y
tế [10][43]
Những chính sách đó ngày càng tạo điều kiện cho ngành y tế phát triển
theo hớng của dân, do dân và vì dân, đảm bảo công bằng trong chăm sóc
sức khoẻ nói chung và nhất là trong KCB nói riêng [10][43]. Bên cạnh đó
xuất hiện nhiều mối tác động qua lại giữa đổi mới y tế và đổi mới kinh tế.
Các tác động này bắt đầu từ những thành tựu và khó khăn mà chúng ta mà
chúng ta đã đạt đợc trong lĩnh vực kinh tế. Tốc độ phát triển kinh tế tính theo
thu nhập ngời dân tăng trung bình 5% hàng năm, giá trị đồng tiền Việt Nam
đợc ổn định, kim ngạch xuất khẩu đã tăng dần từng bớc. Việc khủng hoảng
20
về lơng thực, thực phẩm dần dần đợc ổn định và tăng dần 8,3 % hàng năm.
Sản xuất phát triển, thu nhập/ ngời dân tăng có tác dụng tốt đến sức khoẻ.
Ngời nông dân có khả năng trang trải các khoản chi tiêu hàng ngày, chi tiêu
cho chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên, công cuộc đổi mới cũng tạo nên một sự
phân hoá rất sâu sắc trong xã hội, những ngời có điều kiện về công cụ sản
xuất, về kinh tế, về đất đai thì ngày càng trở nên giàu có, còn những ngời
không có điều kiện thuận lợi thì trở nên nghèo đi và gặp nhiều khó khăn
trong cuộc sống.
Sự chuyển đổi về kinh tế và các yếu tố xã hội trong giai đoạn quá độ đã
tác động rất mạnh mẽ đến sự chuyển đổi về sức khoẻ. Sự phát triển kinh tế
kéo theo là tình trạng ô nhiễm môi trờng và và tình hình bệnh tật thay đổi.
Nhu cầu khám chữa bệnh tăng lên, trong khi chúng ta đang cố gắng khống
chế các bệnh nhiễm trùng, giảm tỷ lệ suy dinh dỡng và giảm thiểu các yếu
tố nguy cơ cho bà mẹ và trẻ em thì chúng ta lại phải khắc phục và giải quyết
các bệnh mạn tính của xã hội phát triển nh tiểu đờng, tim mạch, ung th
đồng thời với việc giải quyết lối sống không lành mạnh, vấn đề ngời có tuổi
và các vấn đề ô nhiễm môi trờng do xã hội phát triển [10].
Năm 1980, Hiến pháp nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy
định mọi ngời dân đợc khám chữa bệnh không phải trả tiền. Các hoạt động
của ngành y tế là dựa vào ngân sách nhà nớc và một số nguồn viện trợ từ n-
ớc ngoài. Tuy nhiên ngân sách nhà nớc đầu t cho ngành y tế lúc đó chỉ đủ
chi lơng cho cán bộ y tế, chi phí hành chính, duy tu, sửa chữa nhỏ nên các
cơ sở y tế ngày càng bị xuống cấp cả về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế.
Ngời bệnh phải tự lo mua ngoài phần lớn thuốc và vật t kỹ thuật y tế để chữa
bệnh theo chỉ định của thày thuốc. Nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân
ngày càng cao, đòi hỏi phải nâng cao chất lợng phục vụ cả về tinh thần thái
độ phục vụ và trang thiết bị hiện đại. Chính vì để khắc phục tình trạng khó
khăn về tài chính, cho nên Luật BVSKND ra đời năm 1989 và đợc Hiến
pháp năm 1992 khẳng định trách nhiệm của ngời bệnh khi đi KCB là phải
chi trả một phần viện phí. Để thể chế hoá điều luật đó, ngày 24/4/1999,
Chính phủ đã ra Nghị định số 45/ CP cho phép ngành y tế thu một phần
viện phí để cải thiện điều kiện phục vụ bệnh nhân. Bên cạnh đó Nghị định
số 299/HĐBT (ngày 15/8/1992) về thực hiện BHYT trên phạm vi cả nớc theo
hai hình thức bắt buộc và tự nguyện cũng đã hỗ trợ rất nhiều kinh phí cho
các hoạt động y tế. Đối với Việt Nam, một nớc có mức chi ngân sách bình
21
quân đầu ngời cho y tế vào hàng thấp nhất trên thế giới (5 USD/ngời/năm)
[33][34] thì chính sách thu một phần viện phí là rất cần thiết và đóng vai trò
hết sức quan trọng để hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các CSYT đáp ứng nhu
cầu KCB của nhân dân [25]. Sau gần mời năm thực hiện chính sách thu một
phần viện phí, chúng ta đã thu đợc những thành tựu nhất định. Tuy nhiên
trên thực tế vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần đổi mới, việc thu viện phí còn
nhiều điểm cha hợp lý, cha dựa trên khả năng chi trả của ngời dân, gây khó
khăn cho ngời nghèo, ngời không có khả năng chi trả hoặc chỉ có khả năng
chi trả một phần [33][43]. Thực tế ngành y tế vẫn phải tiếp tuc đổi mới, đặc
biệt hình thức thu một phần viện phí và hoạt động KCB để đáp ứng nhu cầu
CSSK của nhân dân, đảm bảo mặt bằng KCB cho mọi đối tợng theo định h-
ớng công bằng và hiệu quả, đặc biệt KCB cho ngời nghèo [33][40].
1.3.5 Thực trạng công tác CSSK ở nớc ta trong quá trình cải cách kinh
tế:
Sau khi nền kinh tế nớc ta chuyển đổi sang cơ chế thị trờng theo định
hớng XHCN, nguồn ngân sách cho y tế, giảm nhiều do quỹ tập thể giảm sút
làm cho hàng loạt TYTX bị ảnh hởng, dẫn đến làm việc hoạt động cầm
chừng do thiếu nguồn lực. Có lúc, có nơi nhiều tháng liền CBYT xã không có
tiền lơng, hoạt động thất thờng. Nhiều TYTX xuống cấp, nhiều xã không còn
trạm y tế [43].
Trong những năm gần đây, nhà nớc tăng cờng đầu t qua các chơng
trình y tế, mặt khác tình hình kinh tế xã hội có nhiều thay đổi tiến bộ, đời
sống của ngời dân ngày càng đợc nâng cao hơn trớc, mối quan hệ giữa ngời
cung cấp và sử dụng các dịch vụ theo phơng thức bên cho bên nhận
không còn tiếp tục nh trớc nữa. Song song với việc tồn tại theo phơng thức
dịch vụ y tế theo kiểu cũ, thì trong dịch vụ y tế hình thành một quan hệ phục
vụ theo kiểu cơ chế thị trờng, giữa một bên là ngời bán và một bên là ngời
mua. Trong mối quan hệ này thì cả ngời cung cấp dịch vụ và ngời sử dụng
dịch vụ đều tơng đối tự do, mọi ngời dân đều có quyền quyết định sự lựa
chọn dịch vụ theo ý muốn. Theo quy luật cung cầu, trong cơ chế thị trờng,
ngời cung cấp phải đa ra những dịch vụ có chất lợng và đợc ngời dân chấp
nhận, ngời dân sử dụng DVYT sẽ lựa chọn thứ dịch vụ nào cần thiết nhất
cho sức khỏe của mình và phù hợp với tuí tiền của họ [28][31].
Đến nay, mọi ngời đều có quyền lựa chọn dịch vụ KCB nh nhau, nhng
phải trả tiền. Khả năng lựa chọn DVYT theo nhu cầu lại phụ thuộc vào nhiều
22
yếu tố, trong đó điều kiện kinh tế, khoảng cách tới cơ sở y tế, các yếu tố tập
quán Đây là vấn đề khó khăn đối với ngời nghèo, vùng sâu, vùng xa [21].
Sự mấy công bằng trong tiếp cận với DVYT giữa ngời giàu và ngời
nghèo, nông thôn và thành thị, miền xuôi và miền núi. Chỉ có thể giải quyết
thông qua hệ thống y tế công cộng [14].
Do vậy, đối với khu vực y tế Nhà nớc cần đợc tăng cờng để giữ vững vai
trò chủ đạo trong việc CS & BVSKND, tập trung u tiên vào những dịch vụ y
tế mà y tế t nhân và cộng đồng không có khả năng thực hiện, hỗ trợ cho
những ngời có công với nớc, vùng sâu, vùng xa và ngời nghèo [21].
Các cơ sở tuyến tỉnh và tuyến huyện cũng cần đợc đầu t để nâng cao
chất lợng và khả năng để hỗ trợ cho tuyến xã và nhân dân.
Đối với khu vực y tế t nhân cần có cơ chế, chính sách khuyến khích,
mặt khác phải tăng cờng quản lý bằng pháp luật, tập hợp họ thành các tổ
chức nghề nghiệp, khuyến khích và yêu cầu t nhân tham gia vào công tác
CS & BVSKND, dới sự chỉ đạo của y tế địa phơng [21][34].
Do vậy, cần cải tiến hệ thống quản lý, tổ chức CSSKND, tiếp tục phục
hồi và củng cố, bảo đảm cho sự phát triển cân đối và năng động, nâng cao
hiệu suất hoạt động của mạng lới y tế cơ sở, bằng cách hợp lý hóa cán bộ,
đảm bảo đời sống cho CBYT, tăng cờng trang thiết bị, cung cấp thuốc men,
nâng cao tay nghề và tạo nguồn kinh phí.
1.3.6 Hệ thống y tế Việt Nam và sự tiếp cận với DVYT:
1.3.6.1 Hệ thống y tế ở Việt Nam:
Hệ thống y tế Việt Nam đợc phân bố rộng rãi khắp đất nớc, có cả y tế
Nhà nớc và y tế t nhân cùng tồn tại và phát triển.
Cơ cấu tổ chức của hệ thống y tế công là cơ cấu hình kim tự tháp, đợc
chia làm 4 cấp, cấp cao nhất- đỉnh kim tự tháp là Bộ Y tế, các bệnh viện
trung ơng và các bệnh viện chuyên khoa. Chức năng chính của các bệnh
viện trung ơng là thực hiện chuyên môn sâu và kỹ thuật cao [4].
Tầng thứ 2 của kim tự tháp là bệnh viện tuyến tỉnh, mỗi bệnh viện tuyến
tỉnh có thể biên chế từ 500 đến 1000 giờng. Đây là các cơ sở KCB đợc trang
bị kỹ thuật tốt tập trung hầu hết các bác sỹ có chuyên môn cao, đặc biệt là
tuyến tỉnh, thành phố và nhất là tuyến trung ơng, có khả năng chẩn đoán và
đièu trị những trờng hợp bệnh phức tạp [8].
23
Tầng thứ 3 của kim tự tháp là y tế tuyến huyện, gọi là TTYT huyện, mỗi
một huyện có một bệnh viện đa khoa và 1-2 phòng khám đa khoa khu vực.
Y tế tuyến huyện là nơi cứu chữa cơ bản phục vụ nhân dân, đồng thời là
tuyến hỗ trợ trực tiếp cho tuyến xã. Củng cố y tế tuyến huyện không những
nâng cao chất lợng cứu chữa cơ bản tại chỗ mà còn hỗ trợ cho công tác
CSSKBĐ của tuyến xã, đồng thời có tác dụng giảm bớt gánh nặng cho y tế
tuyến tỉnh và trung ơng, để các tuyến này tập trung vào nghiên cứu khoa
học và cứu chữa có chất lợng những trờng hợp nặng và phức tạp. Hơn một
nửa số bệnh viện ở Việt nam (64%) là bệnh viện huyện [8]
Mức thấp nhất trong hệ thống y tế Việt Nam đó là TYT xã, là đơn vị đầu
tiên tiếp xúc với nhân dân nằm trong hệ thống y tế nhà nớc có nhiệm vụ
thực hiện các nội dung CSSK nh là thực hiện các chơng trình y tế quốc gia,
cung cấp thuốc điều trị thiết yếu. Tuy nhiên, 77% các TYT xã không có bác
sỹ. Vì vậy chất lợng KCB tại TYT xã bị ảnh hởng [4][8][14].
Mặc dù hệ thống y tế công đợc phân bố khắp đất nớc nhng những cơ
sở này lại không đợc sử dụng nhiều nhất. Các cơ sở y tế công chỉ chiếm
14% trong tổng số các trơng hợp KCB. Tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế công tại
Việt Nam là thấp nhất trong số các nớc Đông Nam á . ở Campuchia, mặc dù
y tế công đợc nhìn nhận là thấp kém hơn ở Việt Nam, 24% trờng hợp KCB
của ngời dân đợc thực hiện tại cơ sở KCB công.
Ngời giàu ở VIệt Nam sử dụng bệnh viện nhiều hơn ngời nghèo do phụ
thuộc vaò viện phí [14]. Bệnh viện công cũng là nơi dễ tiếp cận ở thành phố
hơn là ở nông thôn vì ở thành phố số ngời giàu chíêm tỷ lệ nhiều hơn. Hơn
nữa chính sách BHYT có thể đóng một vai trò trong việc sử dụng bệnh viện
của những ngời có thẻ BHYT mà đa số trong số họ là cán bộ công nhân
viên và thuộc về tâng lớp khá giả (62%) [34]. Năm 1998, 36% số ngời sử
dụng dịch vụ y tế công thuộc nhóm 20% giàu nhất của dân số trong khi con
số này ở 20% nhóm nghèo nhất chỉ là 8% [38].
Hệ thống y tế công ở Việt Nam phải đối mặt với việc sử dụng TYT xã
rất thấp. Mặc dù ngời nghèo thờng sử dụng TYT xã hơn, tỷ lệ sử dụng TYT
xã cũng chỉ là 5,6 trong tổng số các tiếp xúc liên quan đến y tế [322]. Theo
Bộ Y tế, khoảng cách đến TYT xã, chất lợng chăm sóc kém và sự thiếu cán
bộ y tế cũng nh sự kém sẵn có thuốc là những lý do chính [8].
Các cơ sở y tế t nhân đợc phân bố khắp đất nớc và đang đóng một vai
trò quan trọng trong các hạt động chăm sóc sức khỏe ở cả vùng nông thôn
24
và thành thị. Sự sử dụng các dịch vụ y tế t nhân đã tăng lên từ sau cuộc đổi
mới kinh tế năm 1986[10].
1.3.7 Một số nghiên cứu về sử dụng dịch vụ y tế:
1.3.7.1 Các nghiên cứu nớc ngoài:
Các nghiên cứu sử dụng DVYT trên thế giới đều cho thấy quyết định
ngời bệnh đi đâu, làm gì khi ốm phụ thuộc khá nhiều vào chất lợng DVYT,
giá thành và loại bệnh, mức độ bệnh cũng nh mức độ khoảng cách từ nhà
tới cơ sở y tế và khả năng tiếp cận tới các DVYT của ngời dân[54].
Cuộc điều tra phỏng vấn HGĐ về việc sử dụng DVYT của ngời dân đã
đợc thực hiện nhiều năm nay, đầu tiên là ở Mỹ vào đầu những năm 1920,
tăng nhanh, mạnh vào những năm 1960. Từ những năm 1970 các cuộc điều
tra này đợc tién hành rộng khắp các nớc châu á, châu Phi và châu Mỹ La
tinh [46][47][45].
Tại Hoa Kỳ hằng năm dành 14% GDP cho y tế nhng vẫn còn khoảng
35 triệu ngời không đợc hởng các dịch vụ CSSK cần thiết vì giá thành cao
so với khả năng chi trả của ngời bệnh [56].
Tại Trung Quốc chi phí cho y tế vào khoảng 12% so với tổng chi phí
của hộ gia đình, trong đó 15,7% số hộ phải vay tiền để chi phí cho việc
CSSK, 8,8% số hộ phải nợ tiền bệnh viện; 5,6 hộ phải bán tài sản của gia
đình sau khi đi KCB và 3,3% số hộ phải nhờ đến sự cứu trợ của Chính Phủ
dành cho bệnh tật [51].
Cuộc điều tra tìm hiểu về việc sử dụng dịch vụ y tế ở trẻ em Philippin
cho thấy 55.2% sử dụng y học hiện đại; 11% sử dụng y học cổ truyền; 37%
tự xử lý. Các tác giả thấy rằng chi phí là yếu tố nhỏ không đáng kể. Việc lựa
chọn y học cổ truyền không phụ thuộc vào thu nhập mà phụ thuộc vào trình
độ ngời mẹ [57].
Điều tra về việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở vùng nông thôn
ấn Độ trên 200 hộ gia đình thấy rằng 52% sử dụng y học hiện đại; 26% sử
dụng y học cổ truyền; 6% tự xử lý; 16% vừa sử dụng y học hiện đại vừa sử
dụng y học cổ truyền [49].
Nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy, việc cung cấp DVYT và chất lợng ảnh
hởng tới tiếp cận và sử dụng của ngời dân. ở nông thôn chỉ có 15,5% (1970)
và 0,8 lần tiếp xúc/ngời/năm tìm kiếm DVYT nhà nớc [56]
1.3.7.2 Các nghiên cứu trong nớc:
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×