Tải bản đầy đủ

nghiên cứu quá trình tách cellulose từ thân tre và ứng dụng tổng hợp cmc tan làm chất ức chế ăn mòn kim loại


1
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ lâu, con người đã biết sử dụng tre để làm nhà, làm đũa, làm máng nước,
vật dụng nông nghiệp. Tre non làm thức ăn, tre khô làm củi đun, … Ngày nay, tre
còn được dùng làm nguyên liệu sản xuất giấy và thuốc chữa các bệnh hen suyễn, ho
và thuốc chữa bệnh về đường sinh dục. Tre có tên khoa học là Bambusa
arundinacea, có mặt ở nhiều nơi trên thế giới và ở khắp các làng quê Việt Nam.
Trong công nghiệp tre dùng để sản xuất bột giấy (bột cellulose). Từ bột cellulose,
có thể sản xuất giấy hoặc làm nguyên liệu để tổng hợp nhiều loại sản phẩm khác,
trong đó có cacboxyl methyl cellulose (CMC).
Cacboxyl methyl cellulose là chất được tổng hợp từ alcalicellulose và natri
cloaxetat, có nhiều ứng dụng thực tế: làm chất phụ gia trong công nghiệp tẩy rửa,
bảo vệ hệ bùn dùng trong khoan mỏ dầu khí, làm tăng độ dẻo cho đất sét, làm chất
trao đổi ion. CMC tinh khiết còn được sử dụng trong mỹ phẩm, dược phẩm, thực
phẩm, …
Ăn mòn kim loại là hiện tượng phá hủy vật liệu kim loại do tác dụng hóa học
hoặc tác dụng điện hóa của kim loại với môi trường bên ngoài. Chống ăn mòn kim loại
là vấn đề cấp bách về mặt công nghệ. Có nhiều phương pháp để chống ăn mòn kim
loại, trong đó có việc sử dụng các chất ức chế ăn mòn. Hiện nay, các nhà khoa học

đang quan tâm đến việc sử dụng các chất ức chế xanh, sạch, thân thiện với môi trường.
CMC đã được nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, tuy nhiên chúng
tôi chưa tìm thấy tài liệu về khả năng ức chế ăn mòn kim loại của CMC. Do vậy,
chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu quá trình tách cellulose từ thân tre và ứng
dụng tổng hợp CMC tan làm chất ức chế ăn mòn kim loại” để nghiên cứu quá
trình tách cellulose từ thân tre và khả năng tổng hợp CMC để làm chất ức chế ăn
mòn kim loại.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2
- Tách cellulose từ thân tre và khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình
tách.
- Tổng hợp cacboxyl methyl cellulose từ cellulose tách từ thân tre và natri
cloaxetat, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp CMC.
- Nghiên cứu tính chất ức chế ăn mòn kim loại của cacboxyl methyl cellulose
tổng hợp được.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng: Tre xanh
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Quy mô phòng thí nghiệm.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Nghiên cứu lý thuyết
- Phân tích và tổng hợp lý thuyết: nghiên cứu cơ sở khoa học của đề tài.
- Nghiên cứu giáo trình và tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài.
- Trao đổi với giáo viên hướng dẫn.
- Dùng toán học thống kê để xử lý kết quả.
4.2. Nghiên cứu thực nghiệm
- Tách cellulose từ thân tre.
- Tổng hợp cacboxyl methyl cellulose (CMC).
- Xác định cấu trúc của CMC bằng
+ Xác định mức độ thế DS.
+ Phương pháp phân tích phổ hồng ngoại (IR).
- Khả năng ức chế ăn mòn kim loại của CMC bằng phương pháp điện hóa.
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
5.1. Ý nghĩa khoa học

3
- Nghiên cứu tổng hợp cacboxyl methyl cellulose từ thân tre.
- Nghiên cứu khả năng ức chế ăn mòn của cacboxyl methyl cellulose.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp tư liệu cho những nghiên

cứu về khả năng ức chế ăn mòn kim loại của các chất ức chế xanh thân thiện với
môi trường ở nước ta hiện nay.
6. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Mở đầu
Chƣơng 1: Tổng quan lý thuyết
Chƣơng 2: Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu
Chƣơng 3: Kết quả và thảo luận
Kết luận


4
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
1.1. THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA GỖ [2], [7]
Trong gỗ có hai thành phần cấu trúc cơ bản là hydratcacbon và lignin. Trong
hydratcacbon có cellulose và hemicellulose, chúng khác nhau về trọng lượng phân
tử, cấu trúc, tính chất hóa học …
Tổng quát, gỗ chứa 60 – 80% hydrat cacbon gồm cellulose và hemicellulose.
20 – 40% hợp chất phenolic – gồm lignin và các chất nhựa và chất mang màu.
Lignin là thành phần chủ yếu gây ra những khó khăn cho sản xuất cellulose.
1.1.1. Hydratcacbon
1.1.1.1. Cellulose
Cellulose là một polyme sinh học quan trọng và phổ biến. Về cấu tạo,
cellulose có cấu tạo mạch thẳng, bao gồm các đơn vị D-glucopyrano, liên kết với
nhau bằng liên kết β-1,4-glucozit.
O
H
O
H
HO
H
H
OH
H
O
OH
O
H
H
HO
H
H
OH
H
O
OH
O
H
H
HO
H
H
OH
H
O
OH
Hình 1.1. Cấu trúc cellulose
Số momome có thể đạt từ 2000 đến 10.000 (có thể lên đến 150.000 đối với
cotton), độ trùng hợp này tương đương với chiều dài phân tử từ 5,2 – 7,7 mm. Sau
khi thực hiện quá trình nấu gỗ với tác chất (phương pháp sản xuất bột hóa học) độ
trùng hợp còn khoảng 600 – 1500. Mạch đại phân tử cellulose có cấu trúc mạch
thẳng và có cấu dạng hình ghế.

5
Các mạch phân tử này tập hợp kề nhau và liên kết với nhau nhờ liên kết
hydro thành cấu trúc vi sợi. Có khoảng 65 – 73% cellulose ở trạng thái kết tinh.
Phần cellulose vô định hình là phần khá nhạy với nước và một số tác chất hóa học.
Cellulose không tan trong nước, trong kiềm hay axit loãng. Nhưng có thể bị
phân hủy bằng phản ứng thủy phân và bị oxy hóa bởi dung dịch kiềm đặc ở nhiệt độ
lớn hơn 150
0
C.
1.1.1.2. Hemicellulose
Hemicellulose là những hydratcacbon loại polysaccarid dị thể. Các đơn vị cơ
sở có thể là đường hexose (D-glucozose, D-mantozose, D-galactose) hoặc đường
pentose (D-xylose, L-arabinose, D-arabinose), đề oxyhexose.
Độ bền hóa học và độ bền nhiệt của hemixenlulose thấp hơn so với cellulose,
vì chúng có độ kết tinh và độ trùng hợp thấp hơn (độ trùng hợp < 90). Đặc trưng của
nó là tan trong dung dịch kiềm loãng (γ-cellulose). So với cellulose nó dễ bị thủy
phân hơn rất nhiều trong môi trường kiềm hoặc axit.
Hemicellulose thường tồn tại ở mạch nhánh, ở trạng thái vô định hình. Còn
những phân tử hemicellulose mạch thẳng giống cellulose thì có một phần ở trạng
thái kết tinh.
Có 3 loại hemicellulose:
- Đơn giản: có thể tách ra dưới tác dụng của các hóa chất dùng trong quá
trình nấu gỗ.
- Phức tạp: loại này liên kết chặt chẽ với lignin và do vậy cần có những phản
ứng hòa tan lignin khá mạnh.
- Cellulosan: là những hexose và pentose liên kết khá chặt chẽ với cellulose.
Thành phần hemicellulose của các loại bột gỗ thương mại thì khác xa so với
hemicellulose trong gỗ ban đầu vì hemicellulose đã bị tách đi trong hầu hết các
phương pháp xử lý bột.
Trong xử lý sunfit thì một phần hemicellulose bị thủy phân thành đường đơn.

6
Trong xử lý sunfat, một phần hemicellulose bị chuyển thành axit saccharinic
có thể được tách đi khi rửa bột, hoặc có thể hấp phụ lên sợi.
1.1.1.3. α, β, γ cellulose
Có một định nghĩa khác cho thành phần hóa học của cacbon hydrat liên quan
đến độ bền kiềm, là các α, β, γ – cellulose.
α – cellulose là phần cellulose không tan trong dung dịch NaOH nguội
17,5%. Đại lượng này là thông số quan trọng để điều chế các dẫn xuất cellulose hòa
tan (như CMC, nitrat xenlulose, …).
β – cellulose là phần hemicellulose mạch ngắn (độ trùng hợp DP = 15 – 90).
Có khả năng tan trong dung dịch NaOH nguội 17,5%, nhưng sau đó kết tủa khi
chuyển sang môi trường axit.
γ – cellulose là phần vẫn hòa tan sau khi chuyển sang môi trường axit. γ –
cellulose thực ra là phần hemicellulose có DP rất thấp (< 15) được cấu tạo từ những
đơn vị khác với glucose.
1.1.2. Lignin
Lignin là nhựa nhiệt dẻo, mềm đi dưới tác dụng của nhiệt độ và bị hòa tan
trong một số hợp chất hóa học. Trong gỗ, bản thân lignin có màu trắng. Lignin có
cấu trúc phức tạp, là một polyphenol có mạng không gian mở. Thành phần thay đổi
theo từng loại gỗ, tuổi cây hoặc vị trí của nó trong gỗ. Cấu trúc đơn vị cơ bản là
phenyl propan. Từ đơn vị cơ bản là phenyl propan và cấu trúc điển hình được đề
nghị cho lignin là Guaicyl propan (G), Syringyl propan (S) và Parahydroxylphenyl
propan (P).
CH
2
OH
OCH
3
OH

CH
2
OH
OCH
3
OH
H
3
CO

CH
2
OH
OH

trans-Coniferyl alcohol trans-Sinapyl alcohol trans-p-Coumaryl alcolhol
(dạng Guaiacyl – G) (dạng Syringyl – S) (dạng Parahydroxylphenyl – P)
Hình 1.2. Một số cấu trúc của lignin

7
Lignin cũng là thành phần chủ yếu trong gỗ, số lượng thay đổi từ 17 – 32%
trên khối lượng gỗ tuyệt đối. Tỷ trọng 1,3 và chỉ số khúc xạ là 1,6. Màu của lignin
thay đổi từ sáng đến nâu thẫm, phụ thuộc vào phương pháp trích ly. Lignin là nhựa
ở trạng thái vô định hình, khối lượng phân tử và khả năng hòa tan thay đổi. Khối
lượng phân tử thay đổi từ 300 đến 14000.
Lignin là hợp chất có hoạt tính cao, trong phân tử có các nhóm chức đáng
chú ý: nhóm –OH của phenol, nhóm –OH ancol bậc 1 và bậc 2, nhóm –OCH
3

(metoxy), nhóm cacbonyl và khả năng enol hóa cho sản phẩm có 1 liên kết đôi và
một nhóm –OH.
Nhóm –OH phenol có tính axit yếu làm cho lignin hòa tan trong kiềm. Nhóm
–OH trong lignin có thể acetyl hóa hoặc ankyl hóa.
Trong xử lý kiềm, lignin hòa tan trong kiềm do phản ứng giữa nhóm –OH
phenol với kiềm.
Trong xử lý sunfat, vai trò lignin là tạo thành thio-lignin hòa tan trong kiềm.
Lignin rất dễ bị oxi hóa trong điều kiện trung bình, cho sản phẩm là axit
thơm như axit benzoic, protocacheuic. Lignin bị oxi hóa trong điều kiện mạnh hơn
cho sản phẩm là axit như axetic, oxalic, succinic.
Trong điều kiện trung hòa như xử lý bột giấy, lignin tạo thành sản phẩm hòa
tan trong nước hoặc kiềm. Trong tẩy NaClO, nhóm –OH của phenol phản ứng với
tác nhân tẩy tạo thành sản phẩm tan.
1.1.3. Các chất trích ly (chất hòa tan)
Có rất nhiều chất thuộc nhóm thành phần này, chủ yếu là những chất dễ hòa
tan. Định nghĩa một cách khái quát, các chất trích ly có khả năng hòa tan trong
những dung môi hữu cơ trơ (như đietyl ete, metyl butyl ete, ete dầu hỏa,
điclometan, axeton, etanol, metanol, hexan, toluen, tetrahydrofuran) hoặc trong
nước. Những chất này có thể có cả tính ưa nước và ưa dầu và không được xem là
cấu trúc của gỗ. Chất “nhựa” là tên chỉ chung những chất có tính ưa dầu (loại trừ

8
các chất loại phenol) là những chất không tan trong nước và có thể được trích từ gỗ
bằng các dung môi hữu cơ không phân cực.
Các chất trích ly thường có mùi, có màu, có vị khá đặc trưng. Đa phần chất
nhựa bảo vệ gỗ khỏi những tổn thương do vi sinh vật hoặc côn trùng gây ra. Thành
phần hóa học của chất trích ly thay đổi nhiều giữa các loại gỗ và hàm lượng của
chúng phụ thuộc vào điều kiện tăng trưởng của cây.
Chất hòa tan hữu cơ chiếm 2 – 3% đối với loại gỗ cứng và khoảng 10% đối
với loại gỗ mềm.
1.1.4. Chất vô cơ
Trong các loại gỗ của xứ ôn đới, các nguyên tố khác cacbon, hidro, oxy, nitơ
chiếm khoảng 0,1 – 0,5 % (so với lượng rắn khô trong gỗ). Với gỗ xứ nhiệt đới con
số này có thể là 5%. Hàm lượng chất vô cơ trong gỗ được đo bằng hàm lượng tro
trong mẫu. Hàm lượng này phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường tăng trưởng
của cây và vào vị trí trong cây. Một số các nguyên tố vô cơ là cần thiết cho quá
trình phát triển của cây, nhưng thông thường chúng gây ra những bất lợi khi nấu gỗ.
Ví dụ, trong quá trình tẩy trắng bột giấy, ion sắt, đồng, coban thúc đẩy phản ứng cắt
mạch hydrat cacbon gây ảnh hưởng xấu đến hiệu suất bột.
1.2. TRE XANH
1.2.1. Phân loại khoa học [12]
Tre (Bamboo) thuộc giới Plantae, bộ Poales,
họ Poaceae, phân họ Bambusoideae, liên tông
Bambusodea, tông Bambusea.




Hình 1.3. Thân tre

9
1.2.2. Đặc điểm sinh thái [12]
Tre là nhóm thực vật thân gỗ lâu năm, được coi là lớn nhất trong bộ Hòa thảo
(Poales). Thân tre có các lóng rỗng, các bó mạch nằm rải rác khắp thân tre thay vì
sắp xếp hình trụ như gỗ.
Tre là một trong các thực vật phát triển nhanh nhất trên thế giới. Một số loài
có khả năng phát triển 100 cm (39 in) hoặc nhiều hơn mỗi ngày do hệ thống rễ độc
đáo. Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng một phần phụ thuộc vào điều kiện thổ nhưỡng và
khí hậu.
Tre có nhiều ý nghĩa về kinh tế và văn hóa đáng chú ý ở khu vực Nam Á,
Đông Nam Á và Đông Á. Tre đang được sử dụng cho vật liệu xây dựng, là một
nguồn thực phẩm và là nguyên liệu linh hoạt cho nhiều sản phẩm.
1.2.3. Thành phần hóa học [16]
Thành phần hóa học của tre tương tự như gỗ [Higuchi, 1957]. Các thành
phần chính của tre là cellulose, hemicellulose và lignin, các thành phần này chiếm
trên 90% khối lượng của tre. Các thành phần phụ là nhựa, tannin, sáp và muối vô
cơ. Tuy nhiên, so với gỗ thì tre có hàm lượng kiềm, tro và silica cao hơn.
Yusoff [1992] nghiên cứu thành phần hóa học của tre một, hai, ba tuổi. Kết
quả chỉ ra rằng các thành phần holocellulose không khác nhau nhiều giữa các lứa
tuổi khác nhau của tre. Hàm lượng alpha-cellulose, lignin, chất trích ly, pentosan,
tro và silica tăng theo tuổi tre.
Holocellulose bao gồm alpha-cellulose và hemicellulose. Alpha-cellulose là
thành phần chính của tre. Khoảng 40 – 50% chất khô trong tre là alpha-cellulose.
Các phân tử cellulose hoàn toàn tuyến tính và có xu hướng mạnh tạo liên kết hydro
nội phân tử và liên phân tử. Bó của các phân tử cellulose do đó tổng hợp lại với
nhau tạo thành các sợi rất nhỏ. Hemicellulose là các polysaccarid không đồng nhất.
Giống cellulose, hầu hết các chức năng của hemicellulose là hỗ trợ vật liệu trong
thành tế bào. Alpha-cellulose là nguồn gốc chính của các tính chất cơ học của tre và
gỗ.

10
Nói chung, hàm lượng alpha-cellulose trong tre là 40 – 50%, phù hợp với các
báo cáo đã biết về hàm lượng cellulose trong gỗ mềm là 40 – 52% và gỗ cứng là 38
– 56%. Hàm lượng cellulose trong phạm vi này cho thấy tre là vật liệu phù hợp với
ngành công nghiệp giấy và bột giấy.
Lượng lignin trong tre cũng khoảng từ 20 – 26%, gần giống với phạm vi báo
cáo cho gỗ mềm là 24 – 37% và gỗ cứng là 17 – 30%. Hàm lượng lignin cao của tre
góp phần giúp tre chịu nhiệt tốt và tăng độ cứng của tre làm cho nó trở thành một
vật liệu xây dựng có giá trị.
Tre còn chứa các thành phần hữu cơ khác ngoài cellulose và lignin. Tre chứa
khoảng 2 – 6% tinh bột, 2% saccarid khử, 2 – 4% chất béo và 0,8 – 6% protein. Các
thành phần cacbohydrat của tre đóng vai trò quan trọng trong độ bền. Độ bền của tre
là chống nấm mốc tấn công và đục, liên quan chặt chẽ với thành phần hóa học của
tre. Độ bền của tre thay đổi từ 1 đến 36 tháng tùy thuộc vào loài và điều kiện khí
hậu. Sự hiện diện một lượng lớn tinh bột trong tre làm cho tre rất dễ bị tấn công do
nấm, bọ cánh cứng và côn trùng. Đáng chú ý là kể cả tre 12 tuổi cũng có tinh bột
trong toàn thân tre, đặc biệt là trong các tế bào theo chiều dọc của các mô.
Thành phần tro tre được tạo thành từ khoáng chất vô cơ, chủ yếu là silica,
canxi và kali. Mangan và magie là hai khoáng chất phổ biến khác. Thành phần silica
có cao nhất trong lớp biểu bì, rất ít trong các nút và vắng mặt trong các lóng tre.
Hàm lượng tro trong một số loại tre có thể ảnh hưởng bất lợi đến chế biến.
Số lượng các thành phần hóa học của tre thay đổi theo độ tuổi, chiều cao, lớp
và thành phần hóa học của tre tương quan với tính chất vật lý và các thuộc tính cơ
học của nó.
1.3. ĐẠI CƢƠNG VỀ CACBOXYL METHYL CELLULOSE [7], [13], [14], [15]
1.3.1. Khái niệm về cacboxyl methyl cellulose
Cacboxyl methyl cellulose (CMC) có công thức tổng quát:
─C
6
H
7
O
2
(OH)
3-x
(OCH
2
COOH)
x

n


11
Nhóm thế trong CMC có thể ở dạng axit H-CMC hoặc ở dạng muối Na-CMC.
Cacboxyl methyl cellulose còn có tên khác là carmellose, E466.
Cacboxyl methyl cellulose là một dẫn xuất của cellulose với các nhóm
cacboxylmethyl (-CH
2
-COOH) liên kết với một số nhóm hydroxyl của monome
glucopyranose. Nó thường được sử dụng ở dạng muối natri, cacboxyl methyl
cellulose natri.
CMC được phát triển ở Đức trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất như là một
chất thay thế cho gelatin. Trong những năm 1930, CMC được sử dụng để loại bỏ sự
lắng đọng đất trên vải trong quá trình giặt rửa. Nó cũng được quan tâm sản xuất sau
chiến tranh. Kalle và Công ty tại Wiesbaden – Biebrich tạo ra nó vào cuối những
năm 1930. Herculus sau đó phát triển nó thành sản phẩm thương mại vào năm 1943.
1.3.2. Tổng hợp CMC
CMC thu được khi cho alcalixenlulose tác dụng với axit cloaxetic hoặc muối
natri cloaxetat. Phản ứng xảy ra theo sơ đồ:
[C
6
H
7
O
2
(OH)
3
]
n
+ nNaOH → [C
6
H
7
O
2
(OH)
2
ONa]
n
+ nH
2
O
[C
6
H
7
O
2
(OH)
2
ONa]
n
+ nClCH
2
COONa → [C
6
H
7
O
2
(OH)
2
OCH
2
COONa]
n
+ nNaCl
Do có phản ứng phụ, hiệu quả sử dụng natri cloaxetat thường không vượt
quá 50%.
Tùy vào mục đích sử dụng, CMC được sản xuất với nhiều chủng loại khác
nhau, có độ trùng hợp khác nhau, có mức độ thế khác nhau, độ tinh khiết khác nhau.
CMC có độ trùng hợp trong khoảng 200 – 1000 hoặc lớn hơn.
Mức độ thế (DS) của các CMC cũng thay đổi trong phạm vị rộng, nhưng
thông thường CMC có mức độ thế trong khoảng 0,4 – 1,4. Một số loại CMC có DS
lớn hơn cũng được dùng trong thực tế.



12
1.3.3. Tính chất của CMC
1.3.3.1. Trạng thái
CMC là chất không mùi, không vị, không độc hại, dạng bột màu trắng hoặc ở
dạng sợi micro – màu vàng ở trạng thái tinh khiết.
1.3.3.2. Tính tan
CMC có thể sử dụng ở dạng H hoặc dạng Na.
Dạng H có thể nhận được bằng cách kết tủa từ dung dịch dạng Na-CMC,
dưới tác dụng của dung dịch axit vô cơ.
H-CMC không tan trong nước, rượu, xeton. Nhưng H-CMC tan được trong
dung dịch kiềm cũng như trong các hệ dung môi để hòa tan xenlulose.
CMC dạng muối của kim loại kiềm hoặc amoni có khả năng hòa tan khác
nhau tùy thuộc vào mức độ thế.
Na-CMC với DS > 0,2 có thể tan trong môi trường kiềm. Na-CMC với DS >
0,4 có thể hòa tan trong nước.
1.3.3.3. Độ nhớt
Cũng như các chất điện li khác, độ nhớt của dung dịch CMC phụ thuộc vào
pH của môi trường. Khi thay đổi pH, chẳng hạn tăng pH, CMC trong dung dịch có
thể chuyển từ dạng H sang dạng Na.
Điều đó có thể dẫn tới sự thay đổi hình dạng của mạch đại phân tử CMC
trong dung dịch, do sự đẩy nhau của các nhóm thế có cùng điện tích, kết quả của
quá trình ion hóa nhóm thế. Ngoài ra, tương tác vỏ solvat cũng thay đổi. Kết quả là
độ nhớt của dung dịch thay đổi và đạt cực đại ở pH = 6 – 8.
Ở pH cao hơn hoặc thấp hơn giá trị trên, phân tử CMC ở dạng búi cuộn chặt
hơn, nên độ nhớt thấp hơn. Ngược lại, ở pH = 6 – 8, mạch đại phân tử dãn rộng ra,
làm độ nhớt tăng.


13
1.3.4. Ứng dụng của CMC
CMC được sử dụng trong thực phẩm như là một chất làm thay đổi độ nhớt
hoặc chất làm đặc, chất ổn định nhũ tương trong nhiều sản phẩm khác nhau. Là một
phụ gia thực phẩm, nó có số hiệu là E466. Nó cũng là một thành phần của nhiều sản
phẩm phi thực phẩm như: kem đánh răng, thuốc nhuận tràng, thuốc giảm cân, nước
sơn, chất tẩy rửa, các sản phẩm giấy khác nhau, … Nó được sử dụng chủ yếu là do
có độ nhớt cao, không độc hại và không gây dị ứng.
Trong công nghiệp tẩy rửa, CMC được dùng làm phụ gia. Khi giặt, CMC hấp
thu chọn lọc lên vải, sau đó ion hóa, làm cho vải có điện tích âm, ngăn cản các chất
bẩn bám trở lại lên vải. CMC được sử dụng như một chất bôi trơn trong thuốc nhỏ
mắt khó bay hơi (nước mắt nhân tạo).
Sau phản ứng ban đầu, hỗn hợp kết quả sản xuất khoảng 60% CMC với 40%
muối (natri clorua và natri glycolat), được gọi là CMC kỹ thuật được sử dụng trong
chất tẩy rửa. Một quá trình tinh chế tiếp tục được dùng để loại bỏ các muối thu
CMC tinh khiết dùng cho thực phẩm, dược phẩm và kem đánh răng. Một sản phẩm
“bán tinh khiết” cũng được sản xuất để dùng trong các loại giấy.
CMC cũng được sử dụng trong dược phẩm như một chất phụ gia. CMC cũng
được sử dụng trong ngành công nghiệp khai thác dầu mỏ như một thành phần của
dung dịch khoan, như một chất thay đổi độ nhớt và tác nhân giữ nước. Nhiều anion
cellulose hoặc PAC có nguồn gốc từ CMC cũng được sử dụng trong các giếng dầu
thực tế.
Các hạt nhỏ cacboxyl methyl cellulose không hòa tan được sử dụng như
nhựa trao đổi cation trong sắc ký trao đổi ion để lọc các protein.
CMC cũng được sử dụng trong các gói băng để tạo thành hỗn hợp eutectic có
điểm đóng băng thấp hơn và do đó có khả năng làm mát hơn băng.
Dung dịch nước CMC cũng được dùng để phân tán các ống nano cacbon.
Người ta cho rằng, các phân tử CMC quấn quanh các ống nano, cho phép chúng
phân tán trong nước.

14
1.4. PHƢƠNG PHÁP TÁCH CELLULOSE (BỘT GIẤY) [2], [7]
1.4.1. Phƣơng pháp tách cellulose
Gỗ với cấu trúc đanh chắc, cần có những quy trình chế biến thích hợp để
chuyển chúng sang dạng xơ sợi mềm mại. Quy trình xử lý nhằm mục đích làm mềm
hoặc làm hòa tan phần lignin (được xem là chất kết dính các bó sợi tạo nên cấu trúc
chặt chẽ của gỗ), từ đó các bó sợi sẽ được giải phóng. Dưới tác dụng hóa học hoặc cơ
học, các sợi cellulose được tách ra và tạo nên huyền phù đồng nhất trong nước. Từ
hai phương pháp hóa học và cơ học, ta có một số loại bột có đặc tính khác nhau như:
Phương pháp hóa học: Với phương pháp này hiệu suất bột đạt từ 45 – 55%,
các thành phần không phải cellulose đã hòa tan phần lớn trong dịch nấu. Bột giấy
chứa chủ yếu là sợi cellulose có độ bền môi trường và cơ lý cao, vì vậy bột giấy loại
này được gọi là bột hóa hay bột cellulose. Tùy theo hóa chất sử dụng, ta có các loại
bột giấy sau:
- Bột sođa, thuộc loại bột kiềm – dịch nấu gỗ là dung dịch NaOH.
- Bột sunfat (hoặc gọi là bột kraft), cũng thuộc loại bột kiềm – tác chất nấu là
NaOH và Na
2
S.
- Bột sunfit, có thể có bột sunfit axit, bột sunfit trung tính hoặc sunfit kiềm.
- Bột bán hóa, là loại bột sunfit được nấu ở chế độ khá êm dịu với NaHSO
3
,
sau đó sẽ hỗ trợ thêm một giai đoạn xử lý cơ học để tách sợi. Với phương pháp này
hiệu suất có thể được tăng đến 80%.
Phương pháp cơ học: cho bột với hiệu suất cao, có thể đạt từ 85 – 95%. Bột
giấy loại này có thành phần tương đương như gỗ (chỉ có một tỉ lệ nhỏ các chất bị
hòa tan trong quá trình nghiền), được gọi tên là bột cơ, bột gỗ hay bột hiệu suất cao.
Với phương pháp này, quá trình phân tách sợi chủ yếu nhờ tác động cơ học. Theo
một số cải tiến phát triển sau này, có thể hỗ trợ thêm tác động nhiệt – ta có bột nhiệt
cơ, hoặc tác động của một lượng nhỏ các chất hóa học để cho loại bột hóa nhiệt cơ.

15
Sau đó tùy theo yêu cầu sử dụng, bột hóa hay bột cơ sẽ được qua giai đoạn
tẩy để làm tăng độ trắng cho bột giấy trong điều kiện đảm báo giá thành và tính chất
kỹ thuật của bột giấy.
1.4.2. Phản ứng hóa học trong quá trình nấu bột sunfat [2], [7]
1.4.2.1. Phản ứng của hydratcacbon
Phản ứng của hydratcacbon trong quá trình nấu bột sunfat tương tự như phản
ứng của hydratcacbon trong môi trường kiềm. Nhiều nghiên cứu cho thấy ion HS
-

không ảnh hưởng đến phản ứng của hydratcacbon.
1.4.2.2. Phản ứng của lignin
Quá trình tách lignin trong điều kiện có Na
2
S sẽ diễn ra nhanh hơn trong môi
trường kiềm. Phản ứng của lignin phụ thuộc vào cả ion HO
-
và HS
-
. Vai trò chính
của HS
-
là tăng tốc độ cho quá trình hòa tan lignin.
Như đã đề cập, một số liên kết phổ biến trong cấu trúc của lignin là β-O-4, α-
O-4 và α-O-4, β-5. Trong đó kiểu liên kết β-O-4 chiếm từ 50 – 60% tùy loại gỗ, loại
α-O-4 tuy hàm lượng thấp hơn nhiều nhưng đây là những cấu trúc rất hoạt động.
a) Phản ứng của cấu trúc β-O-4
HC OR
1
CH OR
2
CH
2
OH
OCH
3
O

CH
CH OR
2
CH
2
OH
OCH
3
O
+R
1
O

HC SH
CH OR
2
CH
2
OH
OCH
3
O

HC
HC
CH
2
OH
OCH
3
O
S
+R
2
O
+H

(I) (II) (III) (IV)



Hình 1.4. Phản ứng của cấu trúc lignin β-O-4 trong quá trình nấu bột sunfat
+HO
-
+HS
-
- S
+ H
2
O
HC SH
CH OH
CH
2
OH
OCH
3
O

CH
CH
CH
2
OH
OCH
3
O


16
Từ hình 1.4, ta thấy cấu trúc này trong môi trường kiềm sẽ chuyển thành các
quinon (II), đây là một cấu trúc trung gian. Trong quá trình sunfat, hầu như phản
ứng bẻ gãy liên kết ete xảy ra rất nhanh. Ion HS
-
sẽ cộng vào quinon metylen tạo
chất trung gian có chứa S, ion ái nhân này kế đó sẽ phản ứng nội phân tử để tạo nên
episunfua (IV) và làm gãy liên kết ete. So với phương pháp soda, trong phương
pháp sunfat sự hình thành cấu trúc cacbonyl trên mạch thẳng của lignin có hạn chế
hơn và do vậy phản ứng ngưng tụ lignin trong môi trường kiềm cũng được hạn chế.
b) Phản ứng của cấu trúc phenylcumaran
Cấu trúc đime này không bị cắt mạch bởi dịch nấu sunfat nhưng sự bẻ gãy
liên kết ete đã hình thành nhóm OH phenol, điều này làm tăng tính tan của lignin
trong môi trường kiềm (hình 1.5).
CH
2
CH
2
CH
2
OH
OCH
3
O
CH
2
HC
HC
OCH
3
OH
HO

CH
2
CH
2
CH
2
OH
OCH
3
OH
CH
2
HC
CH
OCH
3
OH
OH

CH
2
CH
2
CH
2
OH
OCH
3
OH
HC
CH
OCH
3
OH

Hình 1.5. Phản ứng của cấu trúc phenylcumaran trong quá trình nấu bột sunfat
c) Phản ứng ngưng tụ
Phản ứng ngưng tụ lignin trong quá trình nấu bột sunfat cũng là phản ứng
ngưng tụ trong môi trường kiềm như đã trình bày ở trên.
1.5. LÝ THUYẾT VỀ ĂN MÒN KIM LOẠI VÀ BẢO VỆ KIM LOẠI
1.5.1. Ăn mòn kim loại [3], [5], [6], [11]
1.5.1.1. Định nghĩa và phân loại các quá trình ăn mòn kim loại
Ăn mòn kim loại là quá trình phá huỷ kim loại dần từ ngoài vào trong khi

17
kim loại tiếp xúc với môi trường xung quanh.
* Phân loại theo quá trình: gồm 3 loại:
- Ăn mòn hoá học: Ăn mòn hoá học là quá trình phá huỷ kim loại do tác
dụng của nó với môi trường xung quanh: Khí khô hoặc chất lỏng không phải là chất
điện giải.
Ăn mòn khí khô ở nhiệt độ thường ít gặp, quá trình ăn mòn khí phổ biến là
khi kim loại tiếp xúc với khí ở nhiệt độ cao.
xMe
(r)
+
2
y
O
2


Ct
0
Me
x
O
y

- Ăn mòn sinh học: Ăn mòn sinh học là sự ăn mòn kim loại gây ra do tác
động của một số vi sinh vật có trong môi trường xâm thực (đất, nước, …).
- Ăn mòn điện hoá: Ăn mòn điện hoá kim loại là sự phá huỷ kim loại do tác
dụng điện hoá của môi trường chất điện giải và xảy ra ở hai vùng khác nhau trên bề
mặt kim loại và làm xuất hiện dòng điện.
Ăn mòn điện hoá của kim loại gồm ba quá trình kèm theo nhau sau đây:
- Quá trình Anốt: Kim loại bị ăn mòn theo phản ứng:
Me
n+
.ne
 
 OmH
2
Me
n+
.mH
2
O.ne (1.1)
- Quá trình Catốt: Các chất oxi hoá nhận e do kim loại giải phóng:
Ox + ne → Red (Red là chất khử)
Hay: D + ne → [D.ne]
- Quá trình dẫn điện: các electron do kim loại bị ăn mòn giải phóng sẽ di
chuyển từ anot sang catot, trong dung dịch điện li cũng có sự dịch chuyển của
cation và anion tương ứng.




18
Kim loại
Vùng anôt (-) K
+

ne Me
 
 OmH
2
Me
n+
.mH
2
O

ne D [D.ne] A
-

Vùng catôt (+)
Hình 1.6. Sơ đồ ăn mòn điện hoá
* Phân loại theo điều kiện ăn mòn: gồm các kiểu ăn mòn phổ biến sau đây:
- Ăn mòn khí - Ăn mòn do tiếp xúc
- Ăn mòn khí quyển - Ăn mòn do dòng điện ngoài
- Ăn mòn trong đất - Ăn mòn sinh vật học
- Ăn mòn trong chất điện li (axit, bazơ, các dung dịch muối)
* Phân loại theo sự phá huỷ bề mặt kim loại
- Ăn mòn toàn bộ: Xảy ra trên toàn bộ bề mặt kim loại. Bao gồm:
+ Ăn mòn đều đặn: - Ăn mòn không đều đặn

- Ăn mòn cục bộ (địa phương): tập trung ở các khu tách riêng biệt trên bề
mặt. Các kiểu ăn mòn cục bộ:
+ Ăn mòn hang hốc: là kiểu ăn mòn rất nguy hiểm
cho các kết cấu xây dựng như các ống dẫn, nhà máy sản
xuất hoá chất.
+ Ăn mòn điểm: hình thành ở các điểm riêng rẽ bị ăn
mòn trên bề mặt.

19
+ Ăn mòn giữa các tinh thể: là sự phá huỷ kim loại
dọc theo ranh giới các tinh thể.
+ Ăn mòn xuyên tinh (nứt rẽ): hình thành các vết rạn
nứt xuyên tinh dẫn đến sự phá huỷ toàn bộ kim loại.
1.5.1.2. Cơ chế ăn mòn điện hoá
a) Ăn mòn kim loại trong môi trường axit
Khảo sát quá trình xảy ra khi ngâm Fe trong dung dịch axit có pH < 2. Các
phản ứng điện cực xảy ra như sau:
Fe Fe
2+
+ 2e (1.2)
H
2
2H
+
+ 2e (1.3)
O
2
+ 4H
+
+ 4e 2H
2
O (1.4)
Giả thiết rằng O
2
được đuổi sạch. Khi đó ra chỉ xét các cân bằng sau:
Fe Fe
2+
+ 2e
0

= - 0,44 (V)
cb
FeFe /
2

= -0,44 +
2
059,0
lg[Fe
2+
]

H
2
2H
+
+ 2e
0

= 0,00 (V)
cb
HH
2
/2


= 0,059pH
Tốc độ ion hoá kim loại (hoà tan kim loại) là: i
1
= k
1
.exp(
RT
EF
1
n

)
Tốc độ phóng điện của các ion kim loại (kết tủa kim loại):
i
1
= k
2
.exp(-
RT
EF
1
n

)
Fe bị hoà tan nên: i
1
> i
1

Dòng ăn mòn sẽ là: i = i
1
- i
1

Tốc độ ion hoá hidro: i
2
= k
3
.
)exp(.
2
2
RT
nEF
P
H


i
1
i
1
i
2
i
2

20
Tốc độ phóng điện của các ion hidro: i
2
= k
4
.[H
+
].exp(-
RT
EF
2
n

)
Khi kim loại bị hoà tan thì H
2
được giải phóng ra, nghĩa là: i
2
> i
2

Tốc độ phản ứng tổng quát của hidro: i
2
= i
2
- i
2

Khi hoà tan kim loại: i
1
= i
2
, nghĩa là: i
1
- i
1
= i
2
- i
2


i
1
+ i
2
= i
1
+ i
2
(*)
(Trong đó: + k
1
, k
2
, k
3
, k
4
: hằng số tốc độ của các quá trình phản ứng
+
11
,

: hệ số chuyển của phản ứng kim loại
+
22
,

: hệ số chuyển của phản ứng hidro)
Vế trái phương trình (*) biểu diễn tốc độ phản ứng của quá trình anôt, vế
phải biểu diễn phương trình phản ứng tổng quát của quá trình catôt. Ở trạng thái cân
bằngcủa 2 quá trình anôt và catôt người ta nhận được giá trị thế ổn định E
s
. Ở thế ổn
định chỉ có các phản ứng:
Fe → Fe
2+
+ 2e
Và 2H
+
+ 2e → H
2

Nghìa là: đối với cân bằng kim loại - ion, ta có: i
1
> i
1
(i
1
rất nhỏ có thể bỏ qua)
đối với cân bằng H
+
- H
2
, ta có: i
2
> i
2
(i
2
rất nhỏ có thể bỏ qua)
Khi đó phương trình (*) trở thành:
i
s
= i
1
= i
2


 




 H
nF
RT
k
k
nF
RT
E
s
ln
)(
ln
)(
211
4
21

(1.5)
Hay
pH
n
EE
s
)(
059,0
21
0



(1.6)
Thực hiện một số phép biến đổi ta có:
 
)exp( )exp(.
2
4
1
1
RT
FnE
Hk
RT
FnE
ki
ss
s




21
 
21
1
.
0




 Hii
ss
(1.7)
Trong đó:
21
1
21
2
41
0
.





 kki
s

Hay:
21
1
0
lglg




ss
ii
(1.8)



i=i
a
+i
c
>0
i
c

i
i
a

i=i
a
+i
c
<0

Hình 1.7. Đường cong phân cực
E(V) Fe → Fe
2+
+ 2e
0
cb
HH
E
2
/2




-0,5
cb
FeFe
E
/
2



Hình 1.8. Giản đồ Evans (Giản đồ đường cong phân cực E - lgi)
Trong giản đồ Evans và đường cong phân cực ta thấy:
- Tốc độ ăn mòn kim loại phụ thuộc vào dạng đường cong phân cực catôt và
anôt. Do vậy, không những tính chất nhiệt động (thế cân bằng) mà ngay cả tính chất
động học của phản ứng cũng rất quan trọng. Điều kiện cân bằng dùng để xét xem
liệu phản ứng ăn mòn có xảy ra hay không. Ví dụ: Cu sạch không bị ăn mòn trong
0
2
,0 H
i

2H
+
+ 2e → H
2

-5
0
lgi
E
s


22
dung dịch H
2
SO
4
không có O
2
vì:
cb
CuCu /
2

(0,337V) >
cb
HH
2
/2


(0,00V). Tuy nhiên
điều này không có nghĩa là Cu không bị ăn mòn trong dung dịch axit có hàm lượng
O
2
nhỏ. Các ion tạo phức (như Cl
-
, NH
3
, …) có thể ảnh hưởng làm cho:
cb
CuCu /
2

(phức) <
cb
HH
2
/2


, như vậy ăn mòn có thể xảy ra.
Ví dụ: Cu + 2Cl
-
CuCl
2
+ 2e (1.9)

 
 
2
2
/
059,0194,0
2


Cl
CuCl
cb
CuCuCl


Với [Cl
-
] = 1M, [CuCl
2
] = 10
-6
M thì
cb
CuCuCl /
2

= -0,16V
Như vậy, tại giá trị pH nào đó Cu cũng có thể hoà tan trong dung dịch HCl
và giải phóng H
2
.
b) Tốc độ ăn mòn
Quá trình ăn mòn điện hoá là do kết quả của quá trình xảy ra ở vùng catôt và
anôt. Đồng thời với các quá trình đó là sự chuyển dịch điện tử từ anôt sang catôt.
Vậy tốc độ ăn mòn kim loại được tính bằng:
- Khối lượng kim loại bị ăn mòn trên một đơn vị diện tích bề mặt trong một
đơn vị thời gian:
Am
i
nF
A
tSFn
tIA
tS
m
tS
mm
K 







21
(1.10)
Trong đó: S: diện tích bề mặt điện cực anôt (kim loại) (m
2
, cm
2
)
I
A
: mật độ dòng điện anôt (A/m
2
, A/cm
2
)
K
m
: tốc độ ăn mòn của kim loại (g/m
2
.s, g/cm
2
.s)
+ Độ thâm nhập (K
tn
) tính theo chiều sâu kim loại bị ăn mòn trong một năm

0365,0
0365,0.
tn
m
m
tn
K
K
K
K 



Trong đó: ρ: trọng lượng riêng của kim loại (g/cm
2
)

23
Ngoài ra theo (1.10) tốc độ ăn mòn có thể đo bằng mật độ dòng điện ăn mòn
hoặc thể tích khí H
2
thoát ra.
1.5.1.3. Ăn mòn thép trong nước sông và nước biển
a) Thành phần của nước sông và nước biển
Nước sông, nước biển là những dung dịch điện li. Trong nước biển có rất
nhiều loại muối hoà tan như trong bảng sau:
Bảng 1.1. Thành phần các muối hoà tan trong nước biển
Muối
Thành phần (%)
Muối
Thành phần (%)
NaCl
77,8
K
2
SO
4

2,5
MgCl
2

10,9
CaCO
3

0,3
MgSO
4

4,7
MgBr
2

0,2
CaSO
4

3,6


Vậy, trong nước biển có các anion: Cl
-
, SO
4
2-
, CO
3
2-
, Br
-
… và các cation:
Na
+
, K
+
, Mg
2+
, Ca
2+
.
Độ dẫn điện của nước biển rất cao, hàm lượng Cl
-
khá lớn Vì vậy quá trình
ăn mòn xảy ra trong nước biển rất mãnh liệt. Sắt, gang, thép cacbon có hàm lượng
thấp và trung bình thực tế không có khả năng thụ động trong nước biển.
Khác với nước biển, nước sông có thành phần rất khác nhau tuỳ theo điều
kiện tự nhiên hình thành dòng sông cũng như tác động của con người. Nói chung
chỉ số pH của nước cao hơn 7, nghĩa là hơi kiềm.
b) Sơ lược về thép CT3

Thép CT3 thuộc nhóm thép chất lượng thường, C là cacbon, T là thép, con
số tiếp theo chỉ giới hạn bền chịu kéo tối thiểu (kg/mm
2
).
Bảng 1.2. Thành phần (%) các nguyên tố của thép CT3
Thành phần
Fe
C
Mn
Si
P
S
Ni
Cu
%
98,88
0,06
0,25
0,12
0,04
0,05
0,3
0,3

24
Thép CT3 ngoài thành phần chính là hợp kim sắt - cacbon còn chứa một
lượng nhỏ các nguyên tố như: Mn, Si, P, S. Các nguyên tố này được gọi là tạp chất
thường, trong đó Mn, Si làm nâng cao cơ tính của thép, P và S (≤ 0,13%) làm cho
thép dòn và khó hàn. Ngoài ra còn có một lượng nhỏ các nguyên tố Cr, Ni, Cu (≤
0,2%) gọi là hợp chất ngẫu nhiên nâng cao cơ tính của thép.
Độ bền và độ cứng của thép phụ thuộc vào thành phần C, thành phần C tăng
lên thì độ cứng tăng nhưng độ dẻo và độ dai giảm.
Thép CT3 có ưu điểm là: có cơ tính nhất định (như độ cứng sau khi tôi của
thép cacbon cao không thua kém hợp kim có lượng cacbon tương tự), có tính công
nghệ tốt như dễ đúc, hàn, cán, rèn, dập, kéo sợi, gia công cắt gọt. Điều cơ bản nhất
là thép CT3 có giá thành rẻ, hợp với túi tiền của mọi người (đặc biệt là người lao
động).
c) Ăn mòn thép trong nước
Thép là một hợp kim của Fe với nhiều kim loại và phi kim. Ăn mòn thép
trong dung dịch nước là kết quả của hai hay nhiều phản ứng xảy ra trên bề mặt các
kim loại. Trong đó có một phản ứng anôt (oxi hoá kim loại thành ion của nó dưới
dạng oxit hay hidroxit) và một hoặc nhiều phản ứng catôt (khử các cấu tử oxi hoá
có mặt trong dung dịch).
Các phản ứng xảy ra như sau:
Phản ứng catôt:
2H
2
O + O
2
+ 4e 4OH
-
(1.11)
 
4
0
2/2/
2
32
lg
4
059,0



OH
P
O
OHO
cb
OHO


Với pH = 7,
2
O
P
= 0,2atm, T = 298K, ta có:
cb
OHO

2/
2

= 0,81V
2H
2
O + 2e H
2
+ 2OH
-
(1.12)

25
 
2
0
/2/2
2
22
1
lg
2
059,0



OHP
H
HH
cb
HH


Với pH = 7,
2
H
P
=1atm, T = 298K, ta có:
cb
HH
2
/2


= 0,413V
Phản ứng anôt:
Fe Fe
2+
+ 2e
cb
FeFe /
2

= -0,44V (1.13)
Vậy thép rất dễ bị ăn mòn trong nước. Ngoài ra các kim loại khác có trong
thép có thế cân bằng lớn hơn
cb
HH
2
/2


nhưng vẫn có thể bị ăn mòn trong dung dịch có
chứa oxi hoà tan.
Trong môi trường axit, tốc độ ăn mòn phụ phuộc vào nhữn phản ứng catôt:
2H
+
+ 2e H
2
(1.14)
O
2
+ 4H
+
+ 4e 2H
2
O (1.15)
Bên cạnh đó tại catôt còn xảy ra các phản ứng khác dẫn đến ăn mòn. Ví dụ:
2CO
2
+ 2H
2
O + 2e H
2
+ 2HCO
3
-
(1.16)
Thực tế trong tự nhiên, nước sông và nước biển có tốc độ ăn mòn phụ thuộc
phần lớn vào lượng oxi hoà tan, hàm lượng Cl
-
, Br
-
… trong nước.
1.5.2. Phƣơng pháp bảo vệ kim loại bằng chất ức chế (chất làm chậm ăn mòn)
[8], [11]
1.5.2.1. Khái niệm
Chất ức chế ăn mòn là chất mà khi thêm một lượng nhỏ vào môi trường thì
tốc độ ăn mòn điện hoá của kim loại và hợp kim giảm đi rất lớn. Cơ cấu tác dụng
của chất ức chế là ngăn cản quá trình anôt, catôt hay tạo màng.
Để đánh giá hiệu quả của chất ức chế, người ta thường dựa vào 2 chỉ số sau:
- Hệ số tác dụng bảo vệ (kí hiệu: Z):
%100
0
10



K
KK
Z
(1.17)

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×